GIẢI PHÁP PHÂN LUỒNG HỌC SINH Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

10:11 | 21/01/2026
Đinh Thị Thu Hiền- Viện nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email:[email protected] Tóm tắt: Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông là một nhiệm vụ chiến lược nhằm đảm bảo cơ cấu nhân lực hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo mở ra những cơ hội mới trong công tác hướng nghiệp, định hướng và phân luồn

Đinh Thị Thu Hiền-

Viện nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email:[email protected]

Tóm tắt: Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông là một nhiệm vụ chiến lược nhằm đảm bảo cơ cấu nhân lực hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc ứng dụng công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo mở ra những cơ hội mới trong công tác hướng nghiệp, định hướng và phân luồng học sinh. Bài báo này phân tích thực trạng, thách thức và đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác phân luồng học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển bền vững.

Từ khóa: phân luồng học sinh, giáo dục phổ thông, hướng nghiệp, chuyển đổi số, giáo dục nghề nghiệp, trí tuệ nhân tạo.

GIẢI PHÁP PHÂN LUỒNG HỌC SINH Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

Hội Cựu Giáo chức cơ quan Bộ GD&ĐT tổ chức Hội thảo khoa học:

"Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong các cơ sở giáo dục phổ thông"

1. Đặt vấn đề

Phân luồng học sinh là một trong những nội dung trọng tâm của Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc phân luồng hiện nay còn nhiều hạn chế: phần lớn học sinh vẫn tập trung vào luồng học lên THPT và đại học, trong khi tỉ lệ học sinh lựa chọn học nghề còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nhận thức xã hội, sự thiếu gắn kết giữa nhà trường – doanh nghiệp, và đặc biệt là thiếu công cụ số hỗ trợ học sinh tự khám phá năng lực, sở trường nghề nghiệp của bản thân.

Trong kỷ nguyên số, khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nền tảng số được ứng dụng sâu rộng trong giáo dục, việc đổi mới công tác phân luồng theo hướng cá thể hóa, thông minh và kết nối dữ liệu liên ngành trở thành yêu cầu cấp thiết, nhằm giúp học sinh có định hướng nghề nghiệp sớm, phù hợp năng lực, góp phần giải quyết mất cân đối nhân lực giữa các lĩnh vực.

2. Thực trạng công tác phân luồng học sinh hiện nay

Về nhận thức: Nhiều phụ huynh và học sinh vẫn cho rằng “học nghề là lựa chọn thấp hơn đại học”, dẫn đến tâm lý chuộng bằng cấp. Tâm lý của xã hội vẫn bị chi phối bởi nhận thức của người dân về nghề nghiệp trong xã hội nông nghiệp, dưới chế độ phong kiến. Còn sự phân biệt sang hèn giữa “lao tâm” với “lao lực”.

Về công tác hướng nghiệp: Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông còn hình thức, thiếu chiều sâu, ít gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Nhiều học sinh không có kiến thức về nghề dẫn đến tình trạng thả mặc kệ cho sự phát triển tự nhiên, cứ học hết phổ thông rồi làm gì thì làm.

Về cơ sở dữ liệu và công nghệ: Thiếu hệ thống dữ liệu số tích hợp để đánh giá năng lực học sinh, dự báo nhu cầu nhân lực, hỗ trợ ra quyết định phân luồng. Đa số giáo viên ở các sơ sở giáo dục phổ thông chưa có kiến thức đầy đủ trong giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Về chính sách: Chính sách chưa đủ mạnh để khuyến khích học sinh theo hướng học nghề. Chưa có cơ chế đồng bộ giữa giáo dục phổ thông – giáo dục nghề nghiệp – doanh nghiệp trong việc tư vấn, tuyển sinh, đào tạo và sử dụng lao động.

Những hạn chế này đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số để tạo bước chuyển căn bản trong phân luồng học sinh.

3. Giải pháp phân luồng học sinh trong kỷ nguyên số

Giải pháp 1: Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong tư vấn hướng nghiệp

Công nghệ số là “đòn bẩy” cho việc đổi mới toàn diện hoạt động hướng nghiệp và phân luồng. Giải pháp này tập trung vào những nội dung sau đây:

Xây dựng hồ sơ học tập điện tử (Student Digital Profile). Mỗi học sinh có một hồ sơ năng lực số tích hợp dữ liệu học tập, sở thích, điểm mạnh, kỹ năng mềm và hoạt động trải nghiệm. Hồ sơ này giúp giáo viên và hệ thống AI phân tích, đề xuất các ngành nghề phù hợp. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tư vấn hướng nghiệp. AI có thể gợi ý lộ trình học tập – nghề nghiệp cá nhân hóa dựa trên năng lực, xu hướng nghề nghiệp và biến động của thị trường lao động. Phát triển nền tảng hướng nghiệp trực tuyến toàn quốc. Kết nối giữa học sinh – trường phổ thông – cơ sở nghề nghiệp – doanh nghiệp. Nền tảng tích hợp các bài kiểm tra năng lực, trò chơi mô phỏng nghề nghiệp 3D/VR, và chatbot hướng nghiệp thông minh.

Ví dụ thực tiễn: Một số trường tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã thí điểm sử dụng công cụ AI “Career Coach” giúp học sinh chọn khối ngành, ngành học phù hợp – kết quả cho thấy 70% học sinh hiểu rõ hơn về nghề mình yêu thích.

Giải pháp 2: Tăng cường giáo dục hướng nghiệp sớm và trải nghiệm nghề nghiệp thực tế

Giáo dục hướng nghiệp cần được bắt đầu từ cấp tiểu học chứ không chỉ ở giai đoạn cuối THCS hoặc THPT. Thực hiện giải pháp này như sau:

Tích hợp nội dung hướng nghiệp trong chương trình học. Ở tiểu học – giúp học sinh nhận diện năng lực, hứng thú; ở THCS – giới thiệu các nhóm nghề; ở THPT – định hướng ngành nghề cụ thể. Phát triển hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp đa dạng. Học sinh tham quan doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, trung tâm nghề; tham gia “Ngày hội nghề nghiệp số” qua nền tảng trực tuyến. Sử dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR). Cho phép học sinh “trải nghiệm ảo” trong môi trường nghề nghiệp (ví dụ: mô phỏng phẫu thuật, thiết kế kiến trúc, lập trình robot).

Xây dựng mạng lưới “Trường học gắn kết doanh nghiệp”. Doanh nghiệp phối hợp tổ chức chương trình “Một ngày làm nhân viên”, hướng dẫn kỹ năng nghề thực tiễn, góp phần hình thành định hướng nghề nghiệp rõ ràng.

Hiệu quả mong đợi của giải pháp này là học sinh không chỉ “biết nghề” mà còn “trải nghiệm nghề”, từ đó có lựa chọn phù hợp, giảm thiểu tình trạng học lệch, chọn ngành theo cảm tính.

Quảng cáo

Giải pháp 3: Phát triển cơ sở dữ liệu thị trường lao động số và dự báo nhu cầu nhân lực

Thông tin nghề nghiệp và thị trường lao động là nền tảng cho công tác phân luồng. Các thức tổ chức thực hiện giải pháp này như sau:

Xây dựng cơ sở dữ liệu mở về việc làm và nghề nghiệp. Liên thông giữa Bộ GD&ĐT, Bộ LĐTB&XH, các sở ban ngành, trường nghề, đại học và doanh nghiệp. Ứng dụng Big Data và AI trong dự báo xu hướng việc làm. Phân tích dữ liệu từ các trang tuyển dụng, báo cáo kinh tế, để dự báo nhu cầu nhân lực từng vùng, từng ngành. Tạo “Bản đồ nghề nghiệp số quốc gia”. Giúp học sinh tra cứu các nhóm nghề, nhu cầu tuyển dụng, mức thu nhập, yêu cầu kỹ năng, lộ trình học tập tương ứng. Tích hợp dữ liệu hướng nghiệp vào hệ thống quản lý học sinh (LMS), Từ đó, việc tư vấn phân luồng trở nên khách quan, dựa trên dữ liệu thực tiễn thay vì cảm tính.

Ví dụ: Dữ liệu dự báo năm 2030 cho thấy nhóm nghề công nghệ thông tin, logistics, năng lượng tái tạo sẽ tăng trưởng nhanh — thông tin này cần được phổ biến tới học sinh trong công tác định hướng.

Giải pháp 4: Nâng cao năng lực số và năng lực hướng nghiệp cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý

Đội ngũ nhà giáo là lực lượng trực tiếp thực hiện công tác hướng nghiệp và phân luồng. Các thức tổ chức thực hiện giải pháp này như sau:

Bồi dưỡng kỹ năng số, khai thác công cụ trực tuyến. Giáo viên cần được tập huấn về sử dụng AI, phân tích dữ liệu học sinh, vận dụng phần mềm hướng nghiệp trong dạy học. Phát triển đội ngũ “Cố vấn hướng nghiệp số” trong trường học. Có khả năng tư vấn cá thể hóa, sử dụng các công cụ phân tích năng lực trực tuyến. Đổi mới hình thức tập huấn. Thông qua các khóa học trực tuyến (MOOCs), diễn đàn chia sẻ nghề nghiệp số, hệ thống học liệu mở về hướng nghiệp. Tăng cường năng lực lãnh đạo chuyển đổi số của cán bộ quản lý. Hiểu biết về chính sách, hạ tầng công nghệ, tổ chức dữ liệu, phối hợp với doanh nghiệp và cơ sở nghề nghiệp.

Việc chuẩn hóa năng lực giáo viên hướng nghiệp giúp các trường chủ động trong việc triển khai phân luồng, không phụ thuộc vào các hoạt động phong trào.

Giải pháp 5: Tăng cường phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong phân luồng học sinh

Sự phối hợp của ba lực lượng này quyết định thành công của công tác phân luồng. Các thức phối hợp các lực lượng như sau:

Nhà trường chủ động tổ chức tư vấn định kỳ, xây dựng kế hoạch hướng nghiệp gắn với chương trình học. Gia đình tham gia định hướng cùng con dựa trên hiểu biết về năng lực, không áp đặt hoặc so sánh. Xã hội, doanh nghiệp hỗ trợ học sinh thực tập, trải nghiệm, cung cấp thông tin nghề nghiệp thực tế.

Phát triển Cổng thông tin hướng nghiệp cộng đồng. Kết nối phụ huynh, nhà trường và doanh nghiệp; cung cấp các báo cáo nghề nghiệp, cơ hội học bổng, chương trình đào tạo. Truyền thông xã hội. Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông số nhằm thay đổi nhận thức “đại học là con đường duy nhất”. Mô hình “Ba bên đồng hành” này giúp học sinh được tư vấn toàn diện, tránh tình trạng chọn sai ngành, học không đúng năng lực.

Giải pháp 6: Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ và khuyến khích phân luồng

Chính sách là yếu tố then chốt đảm bảo tính bền vững của công tác phân luồng. Các thức tổ chức thực hiện giải pháp này như sau:

Ban hành chính sách tín dụng học nghề ưu đãi, hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các cơ sở nghề. Liên thông linh hoạt giữa các trình độ đào tạo. Cho phép học sinh học nghề có thể tiếp tục học lên cao đẳng, đại học khi đủ điều kiện. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo. Miễn giảm thuế, hỗ trợ chi phí khi tiếp nhận học sinh thực tập.

Xây dựng tiêu chí đánh giá công tác phân luồng trong đánh giá thi đua của nhà trường. Tăng cường truyền thông chính sách. Triển khai chiến dịch quốc gia về “Học nghề – Học để lập nghiệp”, sử dụng nền tảng mạng xã hội, video ngắn, podcast để lan tỏa thông điệp tích cực về giá trị học nghề. Những cơ chế này không chỉ tạo động lực cho học sinh mà còn khuyến khích nhà trường, doanh nghiệp và xã hội cùng tham gia vào quá trình phân luồng một cách thực chất.

4. Kết luận

Phân luồng học sinh trong kỷ nguyên số không chỉ là vấn đề giáo dục mà còn là chiến lược phát triển nhân lực quốc gia. Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tăng cường phối hợp giữa các chủ thể giáo dục sẽ giúp công tác phân luồng trở nên khoa học, minh bạch và hiệu quả hơn. Các giải pháp được đề xuất trong bài viết nhằm hướng tới mục tiêu cá thể hóa định hướng nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, và thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục phổ thông.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hà Nội.

[2]. Chính phủ (2020). Quyết định 522/QĐ-TTg về Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh giáo dục phổ thông giai đoạn 2018–2025.

[3]. Nguyễn Đức Minh (2021). Phân luồng học sinh phổ thông: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 12/2021.

[4]. Nguyễn Chí Thanh, Trịnh Quang Dũng, Phùng Thừa Thảo (2023), Giáo dục hướng nghiệp trong thời đại số ở Việt Nam: thời cơ và những thách thức đặt ra, Tạp chí khoa học quản lý giáo dục, Số đặc biệt, tháng 11 – 2023, tr.51-59

SOLUTIONS FOR STUDENT STREAMING IN GENERAL EDUCATION INSTITUTIONS IN THE DIGITAL AGE

Dinh Thi Thu Hien -

Institute for Research and Cooperation in Education

Email: [email protected]

Abstract: The streaming of students after lower secondary and upper secondary education is a strategic task aimed at ensuring a rational workforce structure that meets the requirements of socio-economic development during the period of industrialization, modernization, and national digital transformation. In the context of the digital age, the application of technology, data, and artificial intelligence opens up new opportunities in career guidance, orientation, and student streaming. This article analyzes the current situation, challenges, and proposes several innovative solutions for student streaming in general education institutions, contributing to improving the quality of human resources and promoting sustainable development.

Keywords: student streaming, general education, career guidance, digital transformation, vocational education, artificial intelligence.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.