GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN PHONG TRÀO “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ” CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

07:11 | 10/03/2026
Võ Văn Tuyên - Đỗ Quang Vương - Nguyễn Trọng Ngọc Hệ Đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng Email:[email protected] Tóm tắt: Nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay có vai trò quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học; trên

Võ Văn Tuyên - Đỗ Quang Vương - Nguyễn Trọng Ngọc

Hệ Đào tạo Sau đại học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Email:[email protected]

Tóm tắt: Nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay có vai trò quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học; trên cơ sở đó đề xuất một số nội dung, biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay.

Từ khoá: nâng cao chất lượng; Phong trào “Bình dân học vụ số”; học viên; sau đại học; Học viện Chính trị.

Nhận bài: 07/3/2026; Biên tập: 07/3/2026; Duyệt đăng:10/3/2026.

Mở đầu

Quán triệt và chấp hành chủ trương, hướng dẫn của cấp trên, HVCT đã quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện sâu rộng Phong trào “Bình dân học vụ số” trong toàn Học viện nhằm phổ cập kiến thức cơ bản về CĐS, KNS cho toàn bộ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Với ưu thế về trình độ và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ học viên đào tạo sau đại học tại HVCT có nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia triển khai phong trào “bình dân học vụ số” đạt chất lượng cao, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc thực hiện Phong trào “bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học tại HVCT hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định. Trước yêu cầu, nhiệm vụ đổi mói nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đặt ra yêu cầu cao đối với học viên đào tạo sau đại học tại Học viện. Với tinh thần đó, việc nâng cao chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở HVCT rất quan trọng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ, năng lực, kỹ năng, kỷ xảo toàn diện về mọi mặt trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

1. Một số kết quả đạt được về chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học tại Học viện Chính trị

Phần lớn học viên đào tạo sau đại học ở HVCT đã nhận thức rõ tầm quan trọng của CĐS và yêu cầu nâng cao tri thức, KNS trong bối cảnh hiện nay. Nhiều học viên xác định việc tham gia Phong trào “Bình dân học vụ số” không chỉ nhằm phục vụ yêu cầu học tập, nghiên cứu mà còn gắn với trách nhiệm chính trị, trách nhiệm xã hội và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Nhận thức này tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành động cơ và thái độ tham gia phong trào tương đối tích cực. Nhiều học viên chủ động khai thác nguồn học liệu số, ứng dụng công nghệ trong xử lý thông tin, quản lý công việc và trao đổi học thuật. Một số học viên đã thể hiện vai trò nòng cốt, tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ đồng nghiệp và bước đầu lan tỏa tri thức, KNS tại cơ quan, đơn vị công tác. Tham gia cuộc thi đánh giá đánh giá kiến thức, KNS đảm bảo khách quan, trung thực, đánh giá được đúng thực chất trình độ kiến thức, KNS của mỗi học viên. Tuân thủ chặt chẽ các quy định về bảo mật thông tin, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong học tập và kiểm tra. Phong trào “Bình dân học vụ số” đã góp phần cải thiện phương thức học tập, nghiên cứu và làm việc của học viên theo hướng hiện đại, linh hoạt hơn. Một bộ phận học viên đã vận dụng hiệu quả tri thức, KNS vào nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu khoa học. Qua đó, phong trào bước đầu tạo ra tác động tích cực đối với chất lượng đào tạo sau đại học của Học viện và góp phần thúc đẩy CĐS tại một số trong toàn Hệ và Học viện.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được chất lượng thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học tại Học viện còn một số hạn chế: Trách nhiệm nêu gương, tinh thần tự giác tham gia phong trào ở một số học viên chưa cao, còn mang tính bị động hoặc phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ học tập. Việc tham gia phong trào của học viên chưa thật sự đồng bộ, thiếu tính hệ thống và chưa hình thành phong trào rộng khắp, thống nhất trong toàn Hệ. Hoạt động học tập và ứng dụng công nghệ số của học viên phần lớn mang tính cá nhân, tự phát, chưa được kết nối thành các mô hình, hoạt động có mục tiêu, nội dung và phương thức tổ chức rõ ràng. Số lượng học viên thực sự đóng vai trò tổ chức, dẫn dắt phong trào còn chưa nhiều. Tác động lan tỏa của phong trào từ Hệ ra các cơ quan, đơn vị trong toàn Học viện, toàn quân và địa phương còn hạn chế; chưa xuất hiện nhiều mô hình điển hình, sáng kiến có sức ảnh hưởng rộng.

Nguyên nhân của hạn chế trên là do: (1). Công tác giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức trách nhiệm về vai trò, tầm quan trọng và việc triển khai các nội dung, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Phong trào “Bình dân học vụ số” ở một số lớp hiệu quả chưa cao; công tác kiểm tra, đôn đốc có thời điểm chưa kiên quyết, hiệu quả.( 2). Ý thức, trách nhiệm trong tham gia phong trào của một số học viện còn hạn chế; trình độ và khả năng tiếp cận công nghệ không đồng đều giữa các học viên do khác biệt về tuổi đời, kinh nghiệm và môi trường công tác trước đó; một số học viên tuổi đời cao còn ngại sử dụng công nghệ mới. (3). Cơ sở hạ tầng mạng và trang bị chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, chủ yếu học viên dụng trang thiết bị và mạng kết nối internet cá nhân để tham gia các hoạt động học tập, nghiên cứu.

2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, thái độ và trách nhiệm chính trị của học viên đào tạo sau đại học ở Học viện chính trị đối với Phong trào "Bình dân học vụ số"

Học viên cần quán triệt, năng lực số ngày nay chính là một bộ phận cấu thành của năng lực tác chiến và năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực học tập, nghiên cứu. Nội dung giáo dục phải làm rõ ý nghĩa chiến lược của phong trào đối với nhiệm vụ đào tạo học viên sau đại học và việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Một nội dung quan trọng khác là gắn kết việc tham gia phong trào với yêu cầu tự học tập, tự rèn luyện và nêu gương của người đảng viên. Giải pháp tập trung vào việc xây dựng thái độ cầu thị, xóa bỏ tâm lý tự ti hoặc ngại thay đổi của những học viên lớn tuổi, đồng thời kiềm chế sự chủ quan của những học viên trẻ đã có nền tảng công nghệ nhưng thiếu sự định hướng về mục đích chính trị của việc sử dụng các công cụ số. Mục tiêu cuối cùng là làm cho mỗi học viên thấy được việc làm chủ công nghệ số là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, là thước đo phẩm chất và năng lực của người cán bộ, người học viên đào tạo sau đại học trong thời đại mới. Để hiện thực hóa những nội dung trên, các biện pháp thực hiện cần được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt và sáng tạo.

Trước hết, Hệ Đào tạo Sau đại học cần tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, lồng ghép nội dung của các nghị quyết và kế hoạch cấp trên vào chương trình giáo dục thường xuyên. Các buổi tọa đàm, diễn đàn khoa học nên được tổ chức theo hình thức tương tác hiện đại, sử dụng chính các công cụ số để minh họa cho sức mạnh của công nghệ, giúp học viên mắt thấy tai nghe và thực sự bị thuyết phục bởi hiệu quả của CĐS. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, xây dựng và nhân rộng các mô hình “Tổ tư vấn ký năng số”, “Gương sáng học tập số” để biểu dương kịp thời những cá nhân, tập thể có cách làm hay, sáng tạo. Gắn kết quả tham gia Phong trào “Bình dân học vụ số” với tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng hàng năm. Cần cụ thể hóa các tiêu chí về KNS thành các chỉ tiêu định lượng trong đánh giá chất lượng học viên sau đại học và phân loại đảng viên. Cuối cùng, phải phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ quản lý học viên và các giảng viên; khi cấp trên và người thầy là những tấm gương mẫu mực về ứng dụng công nghệ, học viên sẽ có động lực mạnh mẽ để noi theo, từ đó tạo ra một phong trào tự học, tự rèn luyện sôi nổi, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo trong môi trường số hóa toàn diện.

Hai là, phát triển đồng bộ năng lực số và năng lực thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên đào tạo sau đại học Học viện chính trị.

Trong tiến trình thực hiện các mục tiêu chiến lược về CĐS, nếu việc nâng cao nhận thức là bước đột phá về tư tưởng thì giải pháp phát triển đồng bộ năng lực số và năng lực thực hiện phong trào của học viên chính là bước đột phá về mặt thực tiễn, tạo ra nền tảng vật chất và kỹ thuật trực tiếp cho sự thành công của Phong trào “Bình dân học vụ số”. Nội dung của giải pháp tập trung vào việc kiến tạo một hệ sinh thái năng lực số đa chiều, không chỉ đào tạo về công cụ mà còn bồi dưỡng về phương pháp luận số. Trọng tâm là đổi mới nội dung bồi dưỡng theo hướng “phân tầng, phân nhóm” đối tượng để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả.

Theo đó, nội dung được chia thành ba lớp chính: Lớp năng lực nền tảng (dành cho mọi học viên để làm chủ các nền tảng số quốc gia và quân sự), lớp năng lực chuyên sâu (gắn với việc ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn và quản lý đơn vị), và lớp năng lực nòng cốt (dành cho những người có khả năng dẫn dắt và lan tỏa phong trào). Giải pháp chú trọng nâng cao kỹ năng khai thác và xử lý dữ liệu lớn phục vụ cho việc viết luận văn, luận án và các bài báo khoa học, đồng thời bồi dưỡng năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo một cách có đạo đức và hiệu quả trong hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học của học viên. Bên cạnh đó, nội dung giải pháp còn nhấn mạnh vào việc phát triển năng lực tổ chức, triển khai phong trào, biến mỗi học viên trở thành một “tuyên truyền viên số” có khả năng hướng dẫn, truyền cảm hứng cho đồng chí, đồng đội tại cơ quan, đơn vị mình công tác sau khi tốt nghiệp. Sự sáng tạo trong cách thức tiếp cận công nghệ cũng được đặt thành một nội dung cốt lõi, khuyến khích học viên tự thiết kế các công cụ số hỗ trợ riêng cho chuyên môn của mình, từ đó hình thành tư duy chủ động làm chủ công nghệ thay vì lệ thuộc thụ động.

Từ đó, cần phát huy vai trò của “Tổ tư vấn KNS”, vai trò của từng học viên trong quá trình tự học, thông quan sinh hoạt học thuật. Phát huy hiệu quả thực chất, thiết thực mô hình “Tổ tư vấn KNS” tại từng lớp. Những học viên trong “Tổ tư vấn KNS” cần được thường xuyên bồi dưỡng âng cao trình độ, kiến thức, KNS để trở thành những hạt nhân dẫn dắt, hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp cho các học viên khác theo mô hình “đôi bạn cùng tiến số”, “lớp học cùng tiến số” giúp thu hẹp khoảng cách về trình độ một cách tự nhiên và bền vững; bên cạnh đó cần đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng học tập trực tuyến (E-learning) và kho học liệu số dùng chung, cho phép học viên tự học tập theo tốc độ và nhu cầu cá nhân. Tổ chức các hội thi về CĐS, KNS tại các lớp và toàn Hệ để học viên nâng cao kiến thức, năng lực số, qua đó áp dụng hiệu quả trong học tập và nghiên cứu khoa học, gắn kết quả này với việc đánh giá chất lượng học viên cuối khóa. Qua đó, giải pháp sẽ tạo ra được sản phẩm về một lực lượng học viên được đào tạo không chỉ giỏi về lý luận mà còn tinh thông về công nghệ, sẵn sàng trở thành những hạt nhân tiên phong trong cuộc cách mạng số của Quân đội và quốc gia.

Quảng cáo

Ba là, tăng cường gắn kết Phong trào "Bình dân học vụ số" với học tập, nghiên cứu khoa học và công tác thực tiễn cho học viên đào tạo sau đại học ở Học viện chính trị.

Trong hoạt động quân sự, tri thức chỉ thực sự có sức mạnh khi nó được vật chất hóa thông qua các sản phẩm cụ thể như luận văn, luận án, bài giảng hay các mô hình quản lý đơn vị. Vị trí của giải pháp này còn thể hiện ở khả năng hóa giải mâu thuẫn giữa tính phong trào bề nổi và tính chuyên môn sâu sắc; nó ngăn chặn nguy cơ “số hóa hình thức” - tức là tình trạng có công nghệ nhưng không biết dùng vào việc gì, hoặc dùng nhưng không tạo ra giá trị gia tăng cho nhiệm vụ chuyên môn. Đối với học viên đào tạo sau đại học, giải pháp này là động lực chính để họ thấy được lợi ích sát sườn của CĐS, từ đó tạo ra sự cộng hưởng mạnh mẽ giữa nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học. Giải pháp này nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu gắn kết phong trào với hoạt động chuyên môn và hiệu quả vận dụng tri thức, KNS còn hạn chế. Trọng tâm là lồng ghép các nội dung, hoạt động của phong trào vào chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ thực tiễn; khuyến khích học viên ứng dụng công nghệ số trong học tập, nghiên cứu. Đồng thời, chú trọng tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình, sáng kiến, sản phẩm số có giá trị thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả và chiều sâu của phong trào.

Nội dung của giải pháp tập trung vào việc kiến tạo các “điểm chạm” thực tế giữa KNS và quy trình đào tạo sau đại học. Trọng tâm là lồng ghép một cách hữu cơ các tiêu chí của Phong trào “Bình dân học vụ số” vào mọi khâu của quá trình đào tạo, từ việc tra cứu tài liệu, đề cương, tiểu luận tổng quan, chuyên đề, viết báo khoa học cho đến viết luận văn, luận án. Giải pháp yêu cầu học viên phải chủ động ứng dụng công nghệ số để đổi mới phương pháp nghiên cứu, chuyển từ phương thức truyền thống sang nghiên cứu dựa trên bằng chứng dữ liệu và khai thác tài nguyên học liệu số toàn cầu. Theo đó, cần đưa việc ứng dụng công nghệ số vào thành một tiêu chí bắt buộc trong đánh giá chất lượng các sản phẩm khoa học. Có thể quy định các bài luận văn, luận án phải có sự hỗ trợ của các công cụ phân tích dữ liệu hoặc sử dụng các nguồn tài liệu số được kiểm chứng. Xây dựng và vận hành các “Phòng Lab nghiên cứu số” và các nhóm cộng tác nghiên cứu trực tuyến, tạo môi trường thuận lợi để học viên thực hành các kỹ năng đã học trong phong trào “Bình dân học vụ số”. Tổ chức các “Giải thưởng sáng tạo số” định kỳ dành cho học viên sau đại học, nhằm tôn vinh các sáng kiến có khả năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn học tập, công tác tại Học viện hoặc tại đơn vị cơ sở. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tham gia học tập, nghiên cứu tại thư viện số của Học viện và nghiên cứu tại các thư viện số khác trong và ngoài Quân đội, giúp học viên dễ dàng tiếp cận nguồn tri thức khổng lồ để nâng cao hàm lượng khoa học cho các nghiên cứu của mình. Cuối cùng, Học viện, Hệ Đào tạo Sau đại học cần tổ chức các đợt sơ kết, tổng kết định kỳ để đánh giá thực chất kết quả thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số”, từ đó nhân rộng các mô hình điển hình tiến tiến, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng, biến KNS thành “vũ khí sắc bén” của mỗi học viên đào tạo sau đại học trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bốn là, hoàn thiện quy chế, quy định tổ chức, phối hợp và bảo đảm điều kiện thực hiện Phong trào "Bình dân học vụ số"

Trong hệ thống các giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu CĐS của học viên đào tạo sau đại học tại HVCT, việc hoàn thiện quy chế, quy định tổ chức, phối hợp và bảo đảm điều kiện thực hiện phong trào giữ vị trí nền tảng, đóng vai trò là “hành lang pháp lý” và “hệ điều hành” cho toàn bộ các hoạt động của Phong trào “Bình dân học vụ số”. Nếu các giải pháp về nhận thức và năng lực là “phần mềm” định hướng hành vi, thì giải pháp về thể chế và hạ tầng này chính là “phần cứng” bảo đảm cho phong trào vận hành thông suốt, bền vững và tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột”. Vị trí của giải pháp này cực kỳ quan trọng vì nó trực tiếp giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu tổ chức phong trào một cách đồng bộ, mang tính chiến lược với thực trạng cơ chế triển khai còn phân tán, nguồn lực bảo đảm còn manh mún. Một phong trào dù có ý nghĩa đến đâu cũng không thể duy trì nếu thiếu những quy định phân công trách nhiệm rõ ràng, thiếu sự kết nối nhịp nhàng giữa các bộ phận quản lý và đặc biệt là thiếu những “bệ đỡ” vật chất cần thiết.

Theo đó, cần tập trung vào việc cụ thể hóa và bổ sung hệ thống quy chế, quy định đào tạo, nghiên cứu khoa học của Học viện theo hướng ưu tiên và khuyến khích các hoạt động trên môi trường số phù hợp với thực tiễn của Hệ Đào tạo Sau đại học. Chú trọng vào việc xây dựng các tiêu chuẩn định lượng về “năng lực số” để đưa vào khung đánh giá chất lượng học viên cuối khóa. Song song với đó là nội dung bảo đảm điều kiện thực hiện, bao gồm việc nâng cấp hạ tầng mạng, phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung (Big Data) và cung cấp các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ nghiên cứu cho học viên sau đại học. Một nội dung không thể thiếu là đổi mới công tác kiểm tra, giám sát bằng các công cụ quản lý số tự động, giúp đánh giá thực chất mức độ tham gia và hiệu quả của từng cá nhân, đơn vị trong phong trào, từ đó tạo ra sự công bằng và động lực trong thi đua.

Biện pháp thực hiện giải pháp được triển khai theo lộ trình từ “thể chế hóa” đến “vật chất hóa”. Thành lập Ban Chỉ đạo Phong trào “Bình dân học vụ số” cấp Hệ; ban hành bộ Quy định về học tập và nghiên cứu trên môi trường số, trong đó quy định rõ các định mức về học liệu số và các chế độ ưu tiên cho những học viên có công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiệu quả. Bên cạnh đó, cần đề xuất với Thủ trưởng Học viện tạo điều kiện để nâng cấp các phòng máy, trang bị máy tính cấu hình cao và đường truyền internet tốc độ cao phục vụ cho việc học tập trực tuyến và tra cứu dữ liệu toàn cầu. Một nội dung rất quan trọng nữa là cần định kỳ tổ chức các đợt kiểm tra, đánh giá chéo giữa các lớp học viên để kịp thời phát hiện những hạn chế, vướng mắc, từ đó điều chỉnh quy định cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo cho phong trào luôn giữ được sức sống và đóng góp thực chất vào việc đào tạo học viên sau đại học tại HVCT trong kỷ nguyên số.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào này trong tình hình mới là nhiệm vụ rất quan trọng, nhằm hiện thực hóa chủ trương CĐS của Đảng và Quân đội. Thực tiễn từ khi Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai, Hệ Đào tạo Sau đại học luôn quan tâm chú trọng nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào thông qua các nội dung, hình thức phong phú, đa dạng. Các giải pháp được xác định rõ mục tiêu, nội dung trọng tâm và yêu cầu thực hiện, có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, hướng tới nâng cao chất lượng phong trào một cách thực chất và bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

[2] Bộ Quốc phòng (2021), Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.

[3] Bộ Quốc phòng (2025), Kế hoạch số 2812/KH-BQP ngày 22/5/2025 triển khai thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội.

OLUTIONS TO IMPROVE THE QUALITY OF IMPLEMENTING THE "DIGITAL POPULAR EDUCATION" MOVEMENT AMONG POSTGRADUATE STUDENTS AT THE POLITICAL ACADEMY TODAY

Vo Van Tuyen - Do Quang Vuong - Nguyen Trong Ngoc

Postgraduate Training System, Political Academy, Ministry of National Defense

Email:[email protected]

Sum mary: Improving the quality of the "Digital Popular Education" movement among postgraduate students at the Political Academy is crucial for building a comprehensively developed cadre at all levels, meeting the requirements and tasks set forth. This article clarifies the current state of the quality of the "Digital Popular Education" movement among postgraduate students; based on this, it proposes several contents and measures to improve the quality of the "Digital Popular Education" movement among postgraduate students at the Political Academy today.

Key words: Improving quality; the "Popular Education Movement"; students; postgraduate studies; Political Academy.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.