GIẢI PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

22:25 | 19/06/2026
ThS. Phạm Bá Sỹ Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bài báo tập trung phân tích thực trạng công tác giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn

ThS. Phạm Bá Sỹ

Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt: Giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bài báo tập trung phân tích thực trạng công tác giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cho học viên, như: nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục; phát huy tính tích cực, chủ động của học viên trong rèn luyện kỹ năng mềm; tăng cường phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và bảo đảm các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục. Các giải pháp này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển phẩm chất, năng lực của người sĩ quan tương lai, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Từ khóa: Giáo dục kỹ năng mềm; học viên; trường quân đội; chất lượng giáo dục.

1. Đặt vấn đề

Kỹ năng mềm của học viên ở các nhà trường quân đội là năng lực vận dụng những kiến thức, kỹ năng được trang bị từ quá trình đào tạo và kinh nghiệm sống của bản thân để có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao trong điều kiện hoạt động quân sự. Nếu như các kỹ năng cứng được bổ sung, hoàn thiện thông qua quá trình học tập, nghiên cứu, thì kỹ năng mềm chủ yếu được hình thành, bổ sung, phát triển và hoàn thiện thông qua các hoạt động thực tiễn sinh hoạt, hoạt động hằng ngày và các hoạt động huấn luyện bổ trợ, hoạt động ngoại khóa. Giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các nhà trường quân đội là tổng thể những hoạt động có mục đích, có hệ thống của các chủ thể giáo dục nhằm phát triển năng lực vận dụng những kiến thức, kỹ năng được trang bị từ quá trình đào tạo sĩ quan và kinh nghiệm sống của bản thân, bảo đảm cho họ có thể thích nghi và giải quyết hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống trong điều kiện hoạt động quân sự. Vì vậy, quan tâm trang bị những kỹ năng mềm cho học viên trong quá trình đào tạo là yêu cầu khách quan, cần thiết để nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo của ở các nhà trường quân đội hiện nay.

Những năm qua, ở các nhà trường quân đội luôn quan tâm, chăm lo coi trọng giáo dục kỹ năng mềm cho học viên, bảo đảm thực hiện tốt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn đặt ra, công tác lãnh đạo, chỉ đạo giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì đơn vị quản lý học viên chưa được quan tâm đúng mức; thậm chí có trường “nhận thức, trách nhiệm và năng lực giáo dục kỹ năng mềm cho học viên chưa tương xứng với đòi hỏi thực tiễn” (1); nội dung, hình thức giáo dục có lúc chưa thật phù hợp; các tổ chức, lực lượng chưa xây dựng cụ thể, chi tiết kế hoạch, chương trình hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho học viên; hoạt động giáo dục chỉ mang tính tự phát, nhỏ lẻ. Một số tổ chức, lực lượng chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho học viên. Cơ bản việc giáo dục chỉ thông qua trao đổi giữa giảng viên với học viên trong quá trình lên lớp và các hoạt động ngoại khóa tổ chức tại đơn vị. Công tác kiểm tra, đánh giá được tiến hành chưa thường xuyên và chưa xác định được những tiêu chí về kỹ năng mềm cụ thể mà học viên cần đạt; do đó, không phát huy hết khả năng sáng tạo và tính tích cực, chủ động của học viên trong quá trình tự học, tự rèn. Phần lớn học viên sau khi tốt nghiệp ra trường vẫn còn yếu, thiếu một số kỹ năng mềm cơ bản, như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết các mối quan hệ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý các tình huống do thực tiễn đặt ra,... ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội hiện nay.

Để xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện, đủ khả năng khai thác, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực tiễn đó, đặt ra yêu cầu phải giáo dục cho học viên có đủ phẩm chất, kiến thức, năng lực toàn diện. Đặc biệt, đối với người cán bộ, sĩ quan tương lai, cần nâng cao tính năng động, chủ động, sáng tạo, tích cực học tập, tự rèn luyện ngay từ khi còn là học viên và cần được giáo dục kỹ năng mềm có hiệu quả.

2. Thực trạng chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được trong giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay

Một là, Đảng ủy, Ban Giám đốc các trường đại học quân sự đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, rèn luyện kỹ năng mềm cho học viên. Nội dung giáo dục kỹ năng mềm được lồng ghép trong một số học phần và các hoạt động học tập, rèn luyện, góp phần hình thành cho học viên các kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình, xử lý tình huống và ý thức tổ chức kỷ luật. Qua đó, nhận thức và khả năng vận dụng kỹ năng mềm của học viên từng bước được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo và thực tiễn công tác sau khi ra trường.

Hai là, hoạt động thực hành, thực tập tại các đơn vị là một điểm sáng trong giáo dục kỹ năng mềm cho học viên. Thông qua các đợt thực tập, học viên được tiếp cận môi trường làm việc thực tế, qua đó rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tuân thủ quy định, kỷ luật và tác phong làm việc. Nhiều học viên đã có sự tiến bộ rõ rệt về ý thức trách nhiệm, tinh thần học hỏi và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc sau khi tham gia các hoạt động này.

Ba là, Đoàn Thanh niên và các câu lạc bộ trong các nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng mềm cho học viên. Thông qua các phong trào thi đua, hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục, thể thao, học viên được tạo điều kiện để phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng giải quyết tình huống. Các hoạt động này không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần mà còn giúp học viên hình thành sự tự tin, năng động và tinh thần trách nhiệm đối với tập thể và xã hội

Bốn là, các giảng viên đã có ý thức tích cực trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động của người học. Nhiều giảng viên đã vận dụng các phương pháp như thảo luận, seminat, thực hành, xử lý tình huống thực tiễn nhằm tạo điều kiện cho học viên rèn luyện kỹ năng mềm trong quá trình học tập. Sự đổi mới này đã góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động hơn, đồng thời giúp học viên hình thành kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng trình bày và bảo vệ quan điểm cá nhân.

Năm là, với học viên, qua quá trình học tập và tham gia các hoạt động giáo dục trong nhà trường quân đội, nhận thức về vai trò của kỹ năng mềm đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều học viên đã ý thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và tác phong làm việc đối với cương vị sau khi tốt nghiệp. Một bộ phận sinh viên chủ động tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, phong trào tập thể để tự rèn luyện và hoàn thiện bản thân.

2.2. Những tồn tại, hạn chế trong giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay

Một là, về nhận thức và định hướng chiến lược, giáo dục kỹ năng mềm chưa thực sự được xác định là một nội dung trọng tâm trong chương trình giáo dục, đào tạo của các nhà trường quân đội. Mặc dù đã có sự quan tâm nhất định, song việc giáo dục kỹ năng mềm chủ yếu mang tính lồng ghép, chưa có chiến lược dài hạn và chưa được thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo của từng chuyên ngành. Điều này dẫn đến tình trạng triển khai thiếu thống nhất, mỗi khoa, mỗi giảng viên thực hiện theo cách riêng, làm giảm hiệu quả chung của công tác giáo dục kỹ năng mềm.

Hai là, phương pháp tổ chức giáo dục, việc giáo dục kỹ năng mềm cho học viên vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu các hoạt động trải nghiệm thực tiễn. Trong nhiều giờ học, giảng viên chủ yếu truyền đạt kiến thức theo phương pháp thuyết trình, ít tạo cơ hội cho học viên tham gia thảo luận, thực hành, xử lý tình huống. Điều này khiến học viên khó vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời làm giảm hứng thú và tính chủ động trong quá trình rèn luyện kỹ năng mềm.

Ba là, đội ngũ giảng viên cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng mềm. Hiện nay, một bộ phận giảng viên chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng mềm. Phần lớn giảng viên có thế mạnh về chuyên môn, song còn gặp khó khăn trong việc thiết kế các hoạt động giảng dạy nhằm phát triển kỹ năng mềm cho học viên. Điều này dẫn đến việc lồng ghép kỹ năng mềm trong giảng dạy chưa thực sự hiệu quả và chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học.

Bốn là, cơ sở vật chất và môi trường học tập, ở các trường quân đội còn gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động trải nghiệm, thực hành, sinh hoạt chuyên đề, mô phỏng có mặt còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai các phương pháp giáo dục hiện đại, lấy người học làm trung tâm, vốn là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển kỹ năng mềm cho học viên.

Quảng cáo

Năm là, đối với học viên, nhận thức và ý thức tự rèn luyện kỹ năng mềm của một bộ phận học viên chưa cao. Nhiều học viên còn coi trọng kiến thức chuyên môn hơn kỹ năng mềm, chưa nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa kỹ năng mềm và trên cương vị công tác sau khi ra trường. Một số học viên còn tâm lý thụ động, thiếu tự tin trong giao tiếp, ngại tham gia các hoạt động tập thể, dẫn đến hạn chế trong việc phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết.

3. Giải pháp giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội hiện nay

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng về hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho học viên

Đây là lực lượng giữ vai trò quyết định trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và bảo đảm các điều kiện cho hoạt động giáo dục kỹ năng mềm. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể đối với vị trí, vai trò của kỹ năng mềm trong đào tạo học viên; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa học tập trên lớp với hoạt động thực tiễn, ngoại khóa. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong và ngoài nhà trường, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm cho học viên.

Hai là, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường trải nghiệm và thực hành cho học viên

Đổi mới phương pháp giảng dạy là giải pháp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Kỹ năng mềm không thể hình thành chủ yếu thông qua việc nghe giảng lý thuyết mà cần được rèn luyện thông qua các hoạt động trải nghiệm, thực hành và tương tác. Do đó, giảng viên cần chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Chẳng hạn, trong các giờ học chuyên môn, giảng viên có thể tổ chức cho học viên làm việc nhóm để giải quyết một tình huống thực tiễn liên quan đến quá trình công tác. Thông qua hoạt động này, học viên không chỉ củng cố kiến thức chuyên môn mà còn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng giải quyết vấn đề. Việc tăng cường các hoạt động như vậy sẽ giúp học viên hình thành kỹ năng mềm một cách tự nhiên và hiệu quả hơn.

Ba là, xác định đúng nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp và tăng cường hoạt động ngoại khóa trong giáo dục kỹ năng mềm cho học viên.

Nội dung giáo dục kỹ năng mềm cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo và đặc điểm của từng đối tượng học viên; bảo đảm tính hệ thống, thiết thực và gắn với hoạt động học tập, rèn luyện trong nhà trường quân đội. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tổ chức thông qua diễn đàn, tọa đàm, câu lạc bộ, xêmina, giao nhiệm vụ và các hoạt động thực tiễn, ngoại khóa nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề cho học viên. Quá trình tổ chức cần phát huy dân chủ, khuyến khích sự tham gia chủ động của học viên, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm.

Bốn là, phát huy vai trò tích cực, chủ động của học viên trong rèn luyện kỹ năng mềm

Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm. Vì vậy, cần nâng cao nhận thức cho học viên về vị trí, vai trò của kỹ năng mềm đối với học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ sau khi ra trường. Trên cơ sở đó, học viên phải nêu cao tinh thần tự giác, chủ động học tập, tự bồi dưỡng và thường xuyên vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào giải quyết các vấn đề trong học tập, sinh hoạt và hoạt động quân sự. Thông qua quá trình tự rèn luyện, học viên từng bước hoàn thiện năng lực giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề và thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các nhà trường quân đội.

Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của môi trường sư phạm quân sự, gắn với tăng cường kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm trong giáo dục kỹ năng mềm cho học viên.

Cần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, kỷ cương; phát huy các mối quan hệ đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau giữa cán bộ, giảng viên và học viên. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất, năng lực và phương pháp sư phạm tốt; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và các thiết chế văn hóa phục vụ hoạt động học tập, rèn luyện kỹ năng mềm. Bên cạnh đó, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết và rút kinh nghiệm nhằm kịp thời điều chỉnh nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng mềm cho học viên.

4. Kết luận

Giáo dục kỹ năng mềm cho học viên ở các trường quân đội là yêu cầu quan trọng nhằm phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của người sĩ quan tương lai. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, công tác giáo dục kỹ năng mềm vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực của học viên và bảo đảm các điều kiện cần thiết. Thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Hà Nội, 2013.

[2]. Bộ Quốc phòng, Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội, 2022.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026, tập 1.

MEASURES TO ENHANCE SOFT SKILLS EDUCATION FOR CADETS AT MILITARY SCHOOLS TODAY

MA. Phạm Bá Sỹ

Faculty of National Defense and Security Education - Hanoi University of Science and Technology

Abstract: Soft skills education for cadets at military schools plays a significant role in developing comprehensive competencies and qualities, thereby meeting the requirements of building a revolutionary, regular, elite, and modern Vietnam People's Army. This article focuses on analyzing the current state of soft skills education for cadets at military schools, identifying major achievements, existing limitations, and their underlying causes. On that basis, several measures are proposed to improve the quality of soft skills education, including enhancing the awareness and responsibility of educational stakeholders; innovating educational content, methods, and forms; promoting cadets’ activeness and initiative in soft skills development; strengthening coordination among educational forces; and ensuring the necessary conditions for educational activities. These measures contribute to improving training quality and fostering the qualities and competencies of future military officers, thereby meeting the requirements of national defense and Fatherland protection in the new era.

Keywords: Soft skills; soft skills education; cadets; military schools; training quality; future military officers.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.