ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ PHÂN LUỒNG HỌC SINH PHỔ THÔNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững

06:22 | 02/12/2025
PGS.TS. Tô Bá Trượng - Viện Nghiênc cứu hợp tác phát triển giáo dục Đặt vấn đề Đổi mới giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông trong kỷ nguyên số: Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững là một chủ đề có ý nghĩa thiết thực và cấp bách trong thời đại số. Trong nhiều năm công tác, được làm việc với giáo viên, phụ huynh và đặc biệt là học sinh ở nhiều vùng miền, tôi nhận thấy một thực tế việc định hướng nghề nghiệp, con đường tương lai của học sinh, thường được quyết đ

PGS.TS. Tô Bá Trượng -

Viện Nghiênc cứu hợp tác phát triển giáo dục

Đặt vấn đề

Đổi mới giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông trong kỷ nguyên số: Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững là một chủ đề có ý nghĩa thiết thực và cấp bách trong thời đại số. Trong nhiều năm công tác, được làm việc với giáo viên, phụ huynh và đặc biệt là học sinh ở nhiều vùng miền, tôi nhận thấy một thực tế việc định hướng nghề nghiệp, con đường tương lai của học sinh, thường được quyết định trong tình trạng thiếu dữ liệu, thiếu sự chuẩn bị và chịu ảnh hưởng mạnh của tâm lý xã hội.

Trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển với tốc độ chưa từng có, chuyển đổi số lan rộng trong mọi lĩnh vực, việc đổi mới mạnh mẽ giáo dục hướng nghiệp và phân luồng không còn dừng lại ở yêu cầu chuyên môn, mà đã trở thành nhiệm vụ cấp bách để đáp ứng sự phát triển của quốc gia. Tôi xin phép được trình bày bài viết này với ba nội dung lớn: Bối cảnh, thách thức; nhìn nhận lại những hạn chế; và đề xuất giải pháp đổi mới một cách căn cơ, bền vững.

1. Bối cảnh và tính cấp thiết của công tác hướng nghiệp – phân luồng

Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà tri thức, công nghệ và dữ liệu thay đổi từng ngày. Nhiều báo cáo quốc tế cho thấy 40% kỹ năng trong các nghề hiện tại sẽ thay đổi trong 5 năm tới, trên 100 loại nghề mới xuất hiện, đa phần thuộc nhóm STEM – kỹ thuật – công nghệ, nhân lực trung cấp – cao đẳng kỹ thuật đang thiếu trầm trọng ở nhiều quốc gia.

Ở Việt Nam, sự thay đổi đó thể hiện rất rõ một số ngành nghề truyền thống đang dần thu hẹp, các ngành công nghiệp mới như bán dẫn, AI, logistics thông minh phát triển nhanh, doanh nghiệp liên tục kêu thiếu nhân lực chất lượng, nhưng trường học lại chưa đào tạo kịp.

Trong khi đó, hệ thống trường phổ thông, nơi chuẩn bị nền tảng cho tương lai học sinh – vẫn còn gặp nhiều lúng túng trong công tác hướng nghiệp. Đó là lý do tôi cho rằng, đổi mới công tác hướng nghiệp – phân luồng chính là đổi mới tư duy phát triển nguồn nhân lực, góp phần xây dựng lực lượng lao động chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

2. Thực trạng những nỗ lực đáng trân trọng nhưng chưa tương xứng kỳ vọng

Nhìn lại thực tiễn những năm qua, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng.

2.1. Những điểm sáng

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định rõ vai trò của hướng nghiệp; Nhiều trường bắt đầu tổ chức ngày hội nghề nghiệp, tham quan xưởng sản xuất, khu công nghệ cao; Một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… đã có mô hình phối hợp khá tốt giữa nhà trường, doanh nghiệp, trường nghề; Nhận thức của phụ huynh từng bước thay đổi, đặc biệt các gia đình trẻ.

Nhưng nhìn rộng ra cả nước, đặc biệt khu vực nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, chúng ta phải thẳng thắn nhận định đã có nhiều chuyển biến tích cực.

2.2. Những hạn chế còn rất lớn

- Hướng nghiệp còn mang tính sự kiện, phong trào. Nhiều trường tổ chức 1–2 buổi tư vấn, học sinh nghe xong rồi để đó, Không có dữ liệu theo dõi, không có hồ sơ phát triển nghề nghiệp.

- Giáo viên thiếu năng lực tư vấn chuyên nghiệp. Đa số giáo viên kiêm nhiệm, phương pháp tư vấn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm cá nhân, ít sử dụng công cụ đánh giá năng lực, sở thích, tính cách.

- Phụ huynh còn nặng tư tưởng “đại học bằng mọi giá”. Điều này đặc biệt phổ biến ở các gia đình công chức và ở nhiều tỉnh thành, tâm lý này tạo áp lực lớn cho học sinh và gây cản trở cho phân luồng.

- Các trường THCS gần như chưa phân luồng. Tỷ lệ học sinh sau THCS vào trung cấp nghề còn thấp, một phần vì thiếu mô hình đào tạo nghề phù hợp lứa tuổi, một phần vì xã hội vẫn chưa thực sự tin tưởng vào giáo dục nghề nghiệp.

- Chưa ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Trong khi thế giới đã dùng AI, hồ sơ nghề nghiệp số, mô phỏng nghề nghiệp (job simulation), thì ở nhiều nơi ta vẫn đang làm theo cách truyền thống: giấy tờ, lời khuyên chung chung, thiếu dữ liệu thị trường lao động.

Những hạn chế trên khiến công tác phân luồng gặp nhiều khó khăn, chưa đạt mục tiêu của Nghị quyết 29 và Chiến lược phát triển giáo dục 2021–2030.

3. Yêu cầu mới trong kỷ nguyên số

Trong kỷ nguyên số, hướng nghiệp không chỉ là chọn nghề, mà là chọn lộ trình học tập suốt đời. Học sinh cần được trang bị ba năng lực cốt lõi như năng lực tự khám phá bản thân (Self-exploration), hiểu mình thích gì, mạnh gì, phù hợp với môi trường làm việc nào; năng lực hiểu biết về nghề (Career literacy), biết nghề nào đang phát triển, nghề nào sắp biến mất, nghề nào cần kỹ năng mới; năng lực thích ứng (Adaptability), không chỉ “học một nghề làm một đời”, mà chuẩn bị tâm thế linh hoạt, học tập liên tục. Để làm được điều này, nhà trường cần chuyển từ tư duy giới thiệu nghề sang phát triển năng lực nghề; chuyển từ tiếp cận thông tin sang tiếp cận dữ liệu; chuyển từ hướng nghiệp rời rạc sang hệ thống hướng nghiệp suốt 3 năm THPT – 4 năm THCS.

4. Hệ thống giải pháp đổi mới căn cơ – hiệu quả – bền vững

4.1. Đổi mới nhận thức: Làm rõ giá trị của phân luồng

Phải coi phân luồng không phải là “tách dòng mạnh – yếu” mà là đặt học sinh vào con đường phù hợp nhất với năng lực và cơ hội phát triển lâu dài.

Cần truyền thông mạnh hơn về giá trị kinh tế, xã hội của giáo dục nghề nghiệp, lộ trình học tập mở (học nghề vẫn có thể lên đại học), những tấm gương thành công từ con đường nghề nghiệp.

4.2. Hoàn thiện chương trình hướng nghiệp trong trường phổ thông

Chương trình hướng nghiệp phải được thiết kế theo lộ trình 6 năm từ lớp 6–12 với các mức độ khác nhau. Ở THCS giúp học sinh khám phá bản thân, hình thành hứng thú nghề. Ở THPT tập trung đánh giá năng lực, phát triển kỹ năng nghề, lập kế hoạch nghề nghiệp.

Các hoạt động cần được đa dạng hóa như dự án hướng nghiệp theo nhóm, mô phỏng nghề nghiệp, thực hành trải nghiệm trong doanh nghiệp, thực hiện “Ngày một buổi làm việc thực tế” (One-day job shadowing)

4.3. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo

Đây là giải pháp mang tính đột phá.

Một là: Xây dựng hồ sơ nghề nghiệp số cho mỗi học sinh, hồ sơ này cập nhật hằng năm, liên thông với dữ liệu của nhà trường và cơ sở đào tạo nghề.

Hai là: Ứng dụng AI trong tư vấn hướng nghiệp. AI phân tích năng lực qua kết quả học tập, hành vi học tập, phong cách tư duy, AI đề xuất nghề phù hợp theo từng hồ sơ cá nhân, AI cảnh báo nghề có rủi ro cao trước tác động của tự động hóa.

Ba là: Phát triển sàn dữ liệu nghề nghiệp quốc gia. Kết nối dữ liệu từ Bộ GD&ĐT, doanh nghiệp và thị trường lao động. Đây chính là bước chuyển từ hướng nghiệp truyền thống sang hướng nghiệp dựa trên dữ liệu (data-driven career guidance).

4.4. Phát triển đội ngũ giáo viên và chuyên gia hướng nghiệp

Quảng cáo

Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định. Cần xây dựng chứng chỉ hướng nghiệp chuyên nghiệp cho giáo viên, tổ chức tập huấn hàng năm về kỹ thuật tư vấn, sử dụng phần mềm, ứng dụng AI, khuyến khích hình thành Câu lạc bộ giáo viên hướng nghiệp ở từng địa phương.

Giáo viên hướng nghiệp phải được nhìn nhận như một chuyên gia phát triển tương lai học sinh, không chỉ là người “giới thiệu các nghề”.

4.5. Xây dựng mô hình liên kết Nhà trường – Doanh nghiệp – Giáo dục nghề nghiệp

Tôi cho rằng đây là giải pháp quan trọng nhất tạo ra sự chuyển biến thực chất.

Nhà trường tổ chức chương trình hướng nghiệp theo lộ trình, quản lý hồ sơ nghề nghiệp số.

Doanh nghiệp tiếp nhận học sinh tham quan, thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp hỗ trợ tư vấn lộ trình học tập, tổ chức trải nghiệm mô phỏng và đào tạo ngắn hạn.

Ba bên cùng phối hợp sẽ tạo thành một hệ sinh thái hướng nghiệp hoàn chỉnh.

4.6. Nhóm giải pháp chính sách

Chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh học nghề, tăng tỷ lệ ngân sách cho hoạt động hướng nghiệp ở các trường phổ thông, quy định chỉ tiêu bắt buộc về xây dựng hồ sơ nghề nghiệp số trong trường học, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hướng nghiệp thông qua ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ truyền thông.

5. Một số kiến nghị

- Đối với Bộ GD&ĐT cần ban hành khung hướng nghiệp thống nhất trên toàn quốc, triển khai hệ thống dữ liệu nghề nghiệp quốc gia kết nối với trường học, đưa tiêu chí “chất lượng hướng nghiệp” vào đánh giá trường phổ thông.

- Đối với UBND tỉnh/thành phố cần thành lập Trung tâm Hướng nghiệp & Phân luồng số cấp tỉnh, đầu tư kinh phí cho hoạt động trải nghiệm nghề thực chất.

- Đối với nhà trường phải xây dựng tổ hướng nghiệp chuyên trách, liên kết ít nhất 10 doanh nghiệp theo từng nhóm nghề, dưa hoạt động hướng nghiệp vào KPI đánh giá hiệu quả quản lý.

6. Kết luận:

Đổi mới hướng nghiệp – viên gạch đầu tiên xây dựng tương lai học sinh. Hướng nghiệp và phân luồng không chỉ là câu chuyện của giáo dục, mà là câu chuyện của phát triển đất nước. Giải quyết tốt vấn đề này đồng nghĩa với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động, khắc phục “thừa thầy – thiếu thợ”, và quan trọng nhất: giúp mỗi học sinh tìm đúng con đường của mình.

Trong kỷ nguyên số, nơi mà tri thức và kỹ năng đổi thay từng ngày, càng cần hơn bao giờ hết một hệ thống hướng nghiệp tiên tiến, dựa trên khoa học, trên dữ liệu và trên mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường – doanh nghiệp – xã hội. Với sự nỗ lực chung, công tác hướng nghiệp của chúng ta sẽ không chỉ “đúng”, mà còn “trúng”, “thực chất” và “hiệu quả bền vững”.

-----------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể. Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Hướng dẫn thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hà Nội.

3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2022). Báo cáo thị trường lao động Việt Nam. Hà Nội.

4. Chính phủ (2020). Quyết định 522/QĐ-TTg về Đề án giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh giáo dục phổ thông giai đoạn 2018–2025.

5. Chính phủ (2021). Chiến lược phát triển giáo dục 2021–2030, tầm nhìn 2045. Hà Nội.

6. Nguyễn Đức Minh (2021). Phân luồng học sinh phổ thông: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 12/2021.

7. Nguyễn Thị Hải Hà (2022). Hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông: Kinh nghiệm và khuyến nghị. Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 198(3).

8. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2020). Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hà Nội.

9. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (2023). Báo cáo thường niên về tuyển sinh GDNN và nhu cầu nhân lực theo ngành nghề.

10. Trần Thị Thu Hằng (2021). Mối quan hệ giữa thị trường lao động và phân luồng giáo dục phổ thông. Tạp chí Khoa học Lao động – Xã hội, số 8.

Tài liệu tiếng Anh

11. UNESCO (2021). Career Guidance Policy and Practice in the Asia-Pacific Region. Paris: UNESCO Publishing.

12. OECD (2020). Dream Jobs? Teenagers’ Career Aspirations and the Future of Work. OECD Publishing.

13. OECD (2021). Career Readiness: A Handbook for Policy Makers. Paris: OECD Publishing.

14. ILO (2022). Skills Development and the Future of Work in Asia and the Pacific. Geneva: ILO.

15. World Bank (2020). Vietnam: Enhancing School-to-Work Transition. Washington, DC: World Bank.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.