ĐIỂM KHÁC TRONG TRONG TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI NƯỚC MỸ

09:49 | 02/09/2024
TCGCVN - Độc lập luơn là khát vọng cháy bỏng trong lịng người dân ở mỗi quốc gia bị xâm lược, áp bức và bĩc lột. Việt Nam nĩi riêng và các quốc gia là thuộc địa và phụ thuộc nĩi chung trên thế giới đều cĩ chung một mục tiêu là đấu tranh để giành được độc lập, tự do và phát triển đất nước.

TCGCVN - Độc lập luôn là khát vọng cháy bỏng trong lòng người dân ở mỗi quốc gia bị xâm lược, áp bức và bóc lột. Việt Nam nói riêng và các quốc gia là thuộc địa và phụ thuộc nói chung trên thế giới đều có chung một mục tiêu là đấu tranh để giành được độc lập, tự do và phát triển đất nước.

“Độc lập – tự do” ở Việt Nam, là tư tưởng, quan điểm xuyên suốt, đầy tính nhân văn, nhân đạo trong con người Hồ Chí Minh vĩ đại, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. “Độc lập – tự do” của Hồ Chí Minh không chỉ phát triển tư tưởng trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ mà đã cụ thể hóa, hiện thực hóa bản chất tính nhân đạo sâu sắc của quan điểm này.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh tư liệu

1. Đối với nước Mỹ, một nhà nước còn non trẻ, có lịch sử hình thành từ hơn 200 năm trước. Sau khi phát hiện ra châu Mỹ, quá trình di dân từ các châu lục khác đến châu Mỹ ngày càng nhanh. Người châu Âu đã xâm chiếm, khai phá và dùng vũ lực chiếm đoạt vùng đất này. Năm 1773, Anh đã lập ra 13 bang thuộc địa ở Bắc Mĩ. Nhằm ngăn không cho 13 bang này độc lập, Anh đã đặt ra hàng loạt đạo luật vô lý, cản trở sự phát triển ngành kinh tế công thương nghiệp ở Bắc Mỹ. Chính những đạo luật hà khắc này đã làm cho sự phản kháng của người dân Bắc Mỹ ngày càng tăng cao. Để chống áp bức bóc lột, nhân dân 13 bang Bắc Mỹ tổ chức “Hội nghị lục địa” thảo luận vấn đề chống Anh và xây dựng một hợp chủng quốc độc lập. Đến tháng 4 năm 1775, chiến tranh bùng nổ giữa chính quốc và các thuộc địa Bắc Mĩ, do Washington chỉ huy. Đến ngày 4/7/1776, Tuyên ngôn Độc lập được công bố, xác định quyền của con người và quyền độc lập của các thuộc địa.

Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776

Cuộc chiến giành độc lập của Mỹ chính thức chấm dứt. 13 bang Bắc Mỹ thoát khỏi sự chiếm đóng của Anh và chính thức được thành lập. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (gọi tắt là Mỹ) ra đời. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ năm 1776 được công bố, đã nêu bật lên quyền cơ bản của con người đó chính là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được đề cập tới trong bản Tuyên ngôn đó chính là quyền mưu cầu hạnh phúc. Tuyên ngôn mang tính chất dân chủ tự do, thấm nhuần tư tưởng tiến bộ của thời đại.

Nhưng Tuyên ngôn độc lập của Mỹ không đề cập đến việc xóa bỏ chế độ nô lệ cùng việc bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Thực chất chỉ bảo vệ quyền lợi cho người da trắng. Cách mạng chỉ đáp ứng được quyền lợi cho tư sản và quý tộc mới còn nhân dân không được hưởng chút quyền lợi gì. Và thực tế đã chứng minh, trên nước Mỹ còn diễn ra cuộc nội chiến kéo dài gây bao tổn thất đau thương cho người dân lao động. Đến thời kỳ hoàng kim của nước Mỹ, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng cách giàu nghèo vẫn còn quá lớn. Độc lập, tự do, hạnh phúc chủ yếu dành cho những người có tiền, những nhà tư sản. Người dân lao động vẫn đói nghèo, cực khổ.

2. Đối với Việt Nam, một dân tộc đã bị áp bức dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp suốt hơn 80 năm, đã kiên cường đấu tranh, chịu bao đau thương, anh dũng hy sinh vẫn quyết tâm giành kỳ được độc lập. Với nhãn quan sáng suốt, tầm nhìn vượt thời đại, đặc biệt với tấm lòng nhân hậu vị tha, con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí minh dẫn lối để đi tới Độc lập, tự do và hạnh phúc luôn gắn liền với nhân dân, đoàn kết toàn dân.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục đích của Cách mạng là “giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta”. Muốn làm được điều đó, phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Trong bài “Nên học sử ta” ( 2-1942), Người chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng khẩn trương chỉ đạo nhân dân Việt Nam tiến hành tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội khoá I (6-1-1946) và chế định Hiến pháp. Chính phủ chính thức do Quốc hội lập hiến bầu ra (2-3-1946) “thật là Chính phủ của toàn dân”. Những việc làm đó không chỉ nhằm kiện toàn bộ máy chính quyền Nhà nước, mà còn nhằm thể chế hoá nền độc lập và thống nhất của nước Việt Nam.

Quảng cáo

Đoàn người biểu tình ngày 19/8/1945 trước cửa Bắc Bộ phủ (ảnh tư liệu)

Cũng trong năm 1946, ngày 22-9, trên chiến hạm Đuymông Đuyếchvin, trong thư trả lời bà Sốtxi trong Hội liên hiệp phụ nữ Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Các bà yêu đất nước mình, các bà mong đất nước mình được độc lập và thống nhất. Nếu có kẻ nào tìm cách xâm phạm nền độc lập và thống nhất ấy, thì tôi tin chắc rằng các bà sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ nó. Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi yêu Tổ quốc Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi cũng muốn Tổ quốc của chúng tôi độc lập và thống nhất”. Người khẳng định “chúng tôi quyết dùng tất cả sức mình để giành được nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi”.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (9-1960), Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà” .

Trước lúc đi xa, trong Di chúc tháng 5-1965, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Trong bản thảo bổ sung tháng 5-1968, Người căn dặn phải “chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc”. Người dùng mực đỏ để viết cụm từ “thống nhất Tổ quốc”, nhấn mạnh một nhiệm vụ hết sức quan trọng phải làm ngay sau ngày kháng chiến chống Mỹ thắng lợi.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đối với Hồ Chí Minh, đoàn kết toàn dân mới tạo nên được hạnh phúc, thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân Việt Nam.

Từ tầm nhìn vượt thời đại đó đã luôn gắn liền với tấm lòng nhân hậu vị tha của Hồ Chí Minh. Người luôn đau đáu lo cho cuộc sống của nhân dân. Làm cách mạng, giành được độc lập, tự do chính là phải mang hạnh phúc được đến cho nhân dân. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế mới dân chúng được hạnh phúc”.

Tư tưởng và tấm lòng vị tha ấy của Người còn được minh chứng bằng cả cuộc đời hy sinh cho cách mạng, cho Tổ quốc, cho nhân dân. Người đã sống là để phục vụ, để cống hiến, để dấn thân vào con đường gian lao nhằm giành và bảo vệ độc lập cho Tổ quốc, xây đắp tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đó là phương châm sống và hành động trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh. Khi hoạt động tại Pháp, có lần Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp mời Bác đến gặp tại Bộ Thuộc địa. Vị Bộ trưởng này lúc thì đe dọa, lúc lại ra vẻ ôn tồn khuyên Người từ bỏ hoạt động chống ách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương. Người trả lời: “Cảm ơn Ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập… Kính ngài ở lại. Tôi xin phép về” (Trích trong tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện – T.Lan”, bút danh của Người).

Tháng 1-1946, trả lời các nhà báo nước ngoài về chức vụ Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”

Tư tưởng nhân đạo của Người còn được thể hiện qua áng văn bất hủ, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Đó là khi viết Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, với tầm nhìn của một lãnh tụ, Hồ Chí Minh đã rất sáng tạo trong việc phát triển bản Tuyên ngôn của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”. "Tất cả mọi người" được hiểu là "tất cả đàn ông" (all men) - đặt trong bối cảnh nước Mỹ những năm cuối thế kỷ XVIII khi chế độ nô lệ còn tồn tại, sự phân biệt và kỳ thị chủng tộc, nam - nữ còn rất nặng nề, "những người đàn ông" có quyền mà Tuyên ngôn đề cập đến chỉ là những người đàn ông da trắng. Còn với Hồ Chí Minh, Người khẳng định một cách rõ ràng, các quyền đó là dành cho "tất cả mọi người", không phân biệt địa vị, thành phần, tôn giáo, giới tính, sắc tộc. Đó là những giá trị to lớn và phù hợp với sự phát triển tiến bộ của nhân loại.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ “quyền” của con người, Người đã suy rộng ra quyền của các dân tộc "các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Người đã khéo léo khẳng định quyền bình đẳng, độc lập và tự do dành cho tất cả nhân loại cần lao. Đó là điểm kế thừa và cũng là khác biệt, khi Người nhấn mạnh "các dân tộc trên thế giới", mở ra một thời đại mới, là những lời cổ vũ, lời khẳng định quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc đang chịu sự cai trị của chủ nghĩa thực dân lúc bấy giờ.

Trong sự nghiệp Đổi mới và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay, tư tưởng đoàn kết toàn dân, thống nhất nhân dân và luôn quan tâm đến hạnh phúc cho nhân dân của Hồ Chí Minh vẫn mãi là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Hơn lúc nào hết phải quán triệt và thực hiện lời dạy của Người:

"Nước lấy dân làm gốc.

Trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, lực lượng chính là ở dân.

… Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (Hồ Chí Minh).

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hĩa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm cơng bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.