ĐẨY MẠNH ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI

21:01 | 24/05/2026
Nguyễn Thị Trà Mi Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở làm rõ quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược tổ

Nguyễn Thị Trà Mi

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

Email:[email protected]

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở làm rõ quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thực tiễn của đất nước. Đồng thời, bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản về phát triển nhân lực chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định phát triển nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước trong tình hình mới.

Từ khóa: Nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực; giáo dục và đào tạo; kinh tế - xã hội; nhân lực chất lượng cao; chuyển đổi số; hội nhập quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng với điều kiện trong nước và quốc tế có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thử thách đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, phức tạp hơn. Nhận thức và giải quyết tốt các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề, nhiệm vụ có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng; là vấn đề cấp thiết, vừa cấp bách vừa lâu dài, góp phần đưa đất nước ổn định, phát triển nhanh, bền vững, đồng thời có ý nghĩa định hướng cho việc giải quyết các mối quan hệ khác. Để phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện thực tế của đất nước, phát triển kinh tế - xã hội phải huy động, tham gia và sử dụng hiệu quả, đồng bộ các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

2. Nội dung

Kinh tế - xã hội là cách thức hoạt động kinh tế ảnh hưởng và được định hình qua quá trình phát triển của xã hội. Đối với Việt Nam, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội chính là sự phát triển gắn với định hướng xây dựng xã hội XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Việt Nam sẽ hướng tới phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Để thực hiện được mục tiêu. Phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ trung tâm trong Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, đòi hỏi sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương với chương trình hành động cụ thể và các bước đi phù hợp

Đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực là giải pháp vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa có tính cơ bản lâu dài trong phát triển kinh tế - xã hội, qua đó, khắc phục căn bản tình trạng thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng, bất hợp lý về cơ cấu nguồn nhân lực của nước ta hiện nay.

Để thực hiện giải pháp này, cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là biện pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực theo một kế hoạch thống nhất, khắc phục tình trạng phát triển tự phát như hiện nay. Để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cần phải tập trung làm rõ cơ sở khoa học, tính tất yếu khách quan phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh, muốn thực hiện có hiệu quả chủ trương phát triển kinh tế - xã hội phải lấy con người được phát triển toàn diện làm trung tâm, làm mục tiêu và động lực. Thực hiện điều tra khảo sát đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong năm năm, mười năm, hai mươi năm tới để xác định mục tiêu của chiến lược cho phù hợp. Chiến lược phát triển tổng thể nguồn nhân lực của đất nước phải gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân của đất nước và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, phải xác định rõ chiến lược, mục tiêu, lộ trình, cơ chế, chính sách tổng thể để phát triển nguồn nhân lực ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội phải có mục tiêu rõ ràng, trong đó phải đặt mục tiêu phát triển lực lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, mục tiêu chiến lược phải ưu tiên khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Hướng trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng kỹ xảo, kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp và các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực các ngành kinh tế. Xác định quy mô, số lượng và cơ cấu của từng loại nguồn nhân lực cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực cũng cần xây dựng lộ trình thực hiện một cách hợp lý, có tính dự báo cao, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Tất cả những vấn đề trên đều phải phù hợp với điều kiện của đất nước song cũng đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới. Đồng thời cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của từng bộ ban ngành cơ quan, địa phương trong thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

Thứ ba, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, chiến lược cần xác định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế đối với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội để có nghĩa vụ thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó, cần thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội về vị trí, vai trò phát triển nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó xác định trách nhiệm trong công tác phát hiện, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực. Đồng thời mỗi cá nhân người lao động cũng thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu không ngừng để trở thành những người lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước .

Quảng cáo

Thứ tư, tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là giải pháp then chốt, quyết định để phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay; bởi vì, đào tạo nguồn nhân lực là cơ sở và là con đường cơ bản để phát huy nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội; mà chất lượng giáo dục - đào tạo là nhân tố cơ bản nhất quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời cũng quyết định đến số lượng nguồn nhân lực qua đào tạo và số lượng nhân lực chất lượng cao. Do đó, cần tập trung quan tâm thực hiện tốt các nội dung chính sau đây:

Một là, hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tổ chức lại mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng, miền và địa phương. Thực hiện phân tầng giáo dục đại học.

Hai là, đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hoá các phương thức đào tạo. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.

Ba là, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo kết quả đầu ra của giáo dục và đào tạo.

Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước.

Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực. Ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia. Tăng đầu tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách…). Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập.

Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực. Chính phủ có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực. Cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.

Đẩy mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển nhân lực; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài hỗ trợ phát triển nhân lực (ODA); thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài cho phát triển nhân lực (đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở giáo dục, đào tạo, bệnh viện, trung tâm thể thao..).

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Theo đó, xây dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà nước ta đã tham gia, ký kết, cam kết thực hiện. Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù của nước ta; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo trong nước và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa nước ta với các nước. Tham gia kiểm định quốc tế chương trình đào tạo. Thực hiện đánh giá và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và thế giới. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội, kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng một số trường đại học, cao đẳng và dạy nghề đạt chuẩn quốc tế. Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hoá thế giới, kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, công nhân kỹ thuật với nhiều hình thức phong phú. Có thể kết hợp đưa công nhân đi đào tạo, có thể tranh thủ các nguồn tài trợ, các dự án của các tổ chức quốc tế, các công ty nước ngoài, mời chuyên gia sang đào tạo... để nhanh chóng nâng cao trình độ, tay nghề.

3. Kết luận

Trong bối cảnh mới, để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Tiếp tục quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ, phấn đấu có các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực. Đa dạng hóa công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với từng đối tượng, bộ phận; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng công nghệ mới, công nghệ chip bán dẫn, công nghệ điều khiển và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất; nâng cao trình độ quản lý và kiến thức về kinh tế thị trường, pháp luật trong kinh doanh./.

Danh mục tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[3]. Lương Công Lý (chủ biên), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2026.

[4]. Trần Khánh Đức (chủ biên), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2025.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.