DẠY HỌC TRỰC TUYẾN Ở ĐẠI HỌC, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

16:57 | 22/08/2025
TS. Lại Đức Hậu - Học viện Phòng không - Không quân Email: [email protected] Tóm tắt: Sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo trực tuyến E-learning ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học, trở thành một xu thế tất yếu của thời đại, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vừa qua. Nhận thấy xu thế tất yếu này, các trường đại học đã chủ động t

TS. Lại Đức Hậu -

Học viện Phòng không - Không quân

Email: [email protected]

Tóm tắt: Sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo trực tuyến E-learning ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học, trở thành một xu thế tất yếu của thời đại, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 vừa qua. Nhận thấy xu thế tất yếu này, các trường đại học đã chủ động triển khai hoạt động dạy và học trực tuyến, dạy học kết hợp nhằm tận dụng lợi thế về công nghệ và mở rộng cơ hội học tập cho sinh viên, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng giảng dạy. Thực tế triển khai cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động dạy và học trực tuyến vẫn còn tồn tại một số khó khăn và thách thức cần khắc phục. Xuất phát từ thực trạng này, tác giả đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trực tuyến trong thời gian tới.

Từ khóa: Dạy và học trực tuyến, nhà giáo, sinh viên.

1. Đặt vấn đề

Đào tạo trực tuyến là một phương thức đào tạo còn khá mới mẻ ở các trường đại học, hình thành cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã đem lại cho các nhà trường nhiều lợi ích to lớn: Đối với công tác quản lý, đây là cơ hội chuyển đổi từ việc quản lý bằng văn bản giấy sang quản lý bằng các phần mềm, thuận tiện cho việc ứng dụng, trích suất, lưu trữ nhanh chóng, tiết kiệm chi phí, công sức và thời gian, nâng cao hiệu quả quản lý. Đối với nhà giáo, đây vừa là cơ hội để phát triển các kỹ năng số và học cách triển khai giảng dạy theo hình thức mới, đảm bảo tốt hơn cho sự thích nghi của nhà giáo trong tương lai với những biến động của thế giới; Đối với sinh viên, cơ hội học tập rộng mở hơn, tiếp thu kiến thức dễ dàng, thuận tiện hơn, có khả năng tìm tòi, nghiên cứu và tiếp cận những nguồn dữ liệu khổng lồ trên hệ thống đào tạo trực tuyến, từ đó, giúp sinh viên hoàn thiện các kỹ năng cần thiết, như khả năng độc lập, tự chủ, tự giác, tinh thần tích cực, sáng tạo. Bên cạnh đó, quá trình triển khai chuyển đổi từ hình thức học tập truyền thống trực tiếp sang hình thức học tập trực tuyến đã tạo ra không ít những thách thức đối với tất cả cán bộ quản lý giáo dục, nhà giáo và sinh viên: từ việc xây dựng kế hoạch học tập, điều chỉnh chương trình đào tạo, xây dựng bài giảng đến khi triển khai công tác giảng dạy trực tuyến đều gặp phải những trở ngại. Do đó, vấn đề nghiên cứu thực trạng công tác dạy học trực tuyến tại trường đại học là một việc làm cần thiết để từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trực tuyến, thu hút được nhiều nhà giáo và sinh viên tham gia.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận dạy học trực tuyến

2.1.1. Quan niệm về dạy học trực tuyến: Qua nghiên cứu các tài liệu có liên quan về hoạt động dạy học trực tuyến, tác giả thấy rằng thuật ngữ dạy học trực tuyến (E-Learning) được sử dụng khá phổ biến và có nhiều cách hiểu khác nhau:

E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton);

E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc);

E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center);

Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất: Đào tạo trực tuyến là quá trình học tập sử dụng các phương tiện điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông (UNESCO, 2010).

2.1.2. Mô hình hệ thống dạy học trực tuyến: một hệ thống dạy học trực tuyến gồm 3 thành phần chính:

Hạ tầng truyền thông và mạng: Bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng (người dạy, người học), thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông.

Hạ tầng phần mềm: Các phần mềm LMS (Learning Management System), LCMS (Learning Content Management System).

Hạ tầng thông tin (nội dung đào tạo): Đây là phần quan trọng của dạy học trực tuyến bao gồm nội dung các khoá học, nội dung các bài giảng điện tử, các phần mềm dạy học....

2.1.3. Hình thức đào tạo trực tuyến

Ðào tạo trực tiếp theo cách truyền thống: tất cả các hoạt động học tập và đánh giá diễn ra trên lớp, nhưng tài nguyên học tập có thể được cung cấp trực tuyến;

Ðào tạo hoàn toàn trực tuyến: tất cả các hoạt động học tập và đánh giá diễn ra trực tuyến;

Ðào tạo hỗn hợp: kết hợp các hoạt động tương tác trực tuyến với các hoạt động học tập và đánh giá trực tiếp. Đây là phương thức đào tạo phổ biến nhất hiện nay.

2.1.4. Ưu, nhược điểm của đào tạo trực tuyến

Ưu điểm: Hạn chế nguy cơ lây lan dịch bệnh; thúc đẩy tính tự học, tính chủ động, người dạy và người học có thể chủ động sắp xếp lịch học mà không phụ thuộc vào không gian, thời gian, thời tiết hay bất cứ tổ chức trường học nào; tiết kiệm chi phí và thời gian; đa dạng các chương trình đào tạo; tăng kết nối với nhiều học viên và giáo viên ….

Nhược điểm: Phụ thuộc vào kết nối mạng; phụ thuộc vào sự chủ động, tính kỷ luật của người học; người dạy khó có thể quản lý, kiểm tra đôn đốc việc học của người học, người học ít có cơ hội trao đổi với người dạy và bạn bè nên giảm hứng thú học tập.

2.2. Thực trạng dạy học trực tuyến, những thuận lợi và khó khăn

2.2.1. Những thuận lợi của việc dạy học trực tuyến

Cơ sở pháp lý và hạ tầng công nghệ

Bằng phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn, trao đổi với cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên các trường đại học và áp dụng phương pháp phân tích dữ liệu cho thấy: Đảng ủy, Ban Giám hiệu các nhà trường đã ra các nghị quyết chuyên đề, ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn là cơ sở pháp lý trong việc chuyển đổi hình thức giảng dạy, học tập từ hình thức trực tiếp sang hình thức dạy học kết hợp giữa trực tiếp với trực tuyến và dạy học trực tuyến;

Công tác dạy và học trực tuyến của các trường đang thực hiện chủ yếu trên nền tảng EOP, Zoom, Azota nên cơ sở hạ tầng và các thiết bị giảng dạy của nhà giáo về cơ bản đã đảm bảo yêu cầu, sinh viên đủ thiết bị để học tập, nhưng chủ yếu chỉ học qua điện thoại di động, số còn lại rất ít học qua máy vi tính.

Công tác giảng dạy và học tập

Đội ngũ nhà giáo, tích cực ứng ụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học; chủ động, tự giác học tập, bồi dưỡng kỹ năng, xây dựng và lựa chọn học liệu trên nền tảng giảng dạy trực tuyến; giảng dạy trên các phần mềm bảo đảm cho người học dễ tiếp cận, dễ sử dụng như: EOP, Zoom, Azota, Class kick, ... 100% nhà giáo đều đã được đào tạo, bồi dưỡng các phần mềm giảng dạy trực tuyến EOP, Zoom, Azota, Class kick, ....

Đối với sinh viên, việc nắm bắt công nghệ thông tin rất nhanh, khả năng sử dụng các phần mềm học tập trực tuyến rất tốt, 100% sinh viên đã từng tham gia học tập trực tuyến, đã nhận thức được nội dung kiến thức nhà giáo giảng dạy đạt được yêu cầu của môn học/mô đun.

Quảng cáo

2.2.2. Những khó khăn, hạn chế khi dạy học trực tuyến

Công tác xây dựng kế hoạch đào tạo: chưa có phần mềm hỗ trợ, việc xây dựng kế hoạch đào tạo vẫn được thực hiện thủ công dẫn đến một số công tác liên quan đến kế hoạch đào tạo còn bị động.

Xây dựng nguồn học liệu: chưa thực sự gắn kết với công tác số hóa, tài liệu chủ yếu được lưu trữ dưới dạng các văn bản như: Word, Excell, Powerpoint hay các văn bản scan, ... một số môn học đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo, công nghệ mô phỏng trong giảng dạy, nhưng quy mô nhỏ, ở dạng thí điểm.

Phương pháp dạy và học: vẫn còn sử dụng phương pháp truyền dạy học thống là chủ yếu, chưa lấy người học làm trung tâm trong hoạt động dạy học. Mặc dù việc sử dụng các thiết bị và phần mềm trình chiếu để trình bày bài giảng đã rất phổ biến nhưng nội dung và phương pháp giảng dạy chưa có nhiều đổi mới.

Quản lý sinh viên: giảng viên khó kiểm soát được quá trình học của từng sinh viên trong giờ học, khó kiểm soát được giờ vào, giờ ra của sinh viên, hạn chế sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giảng dạy;

Các khó khăn khác gặp phải khi triển khai dạy học trực tuyến: Hệ thống đường truyền internet yếu, đôi lúc sinh viên bị thoát ra hoặc nghe không rõ, nghe không liền mạch bài giảng của giáo viên; các môn học/mô đun cần rèn luyện kĩ năng thực hành hoặc thí nghiệm thì gặp nhiều khó khăn khi chỉ có thể cho sinh viên theo dõi qua các bài giảng trình chiếu.

Qua khảo sát nhanh với sinh viên, kết quả cho thấy sinh viên thường gặp phải những khó khăn sau trong quá trình học tập trực tuyến:

Bảng: Một số khó khăn của sinh viên đối với việc học trực tuyến

Các khó khăn gặp phải khi học trực tuyến

Tỷ lệ

Mạng internet không ổn định

20%

Tâm lý không hứng thú vì học trực tuyến

10%

Kỹ năng sử dụng CNTT còn hạn chế

5%

Không gian/địa điểm học không đảm bảo

10%

Giáo viên không/ít tương tác với sinh viên

5%

2.3. Một số giải pháp đề xuất để khắc phục tình trạng trên

2.3.1. Tổ chức lớp học hiệu quả

Trong bối cảnh xuất hiện các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, hoặc điều kiện bất khả kháng khác khiến việc tổ chức dạy học tập trung tại trường không thể thực hiện, việc áp dụng các giải pháp dạy học linh hoạt là cần thiết nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng đào tạo. Một trong những giải pháp khả thi và hiệu quả là tổ chức giảng dạy lý thuyết bằng hình thức trực tuyến, kết hợp với học trực tiếp cho các nội dung thực hành, thực tập khi điều kiện cho phép. Cụ thể, trong giai đoạn người học không thể đến trường, toàn bộ nội dung lý thuyết của chương trình đào tạo có thể được triển khai dưới hình thức học trực tuyến đồng bộ hoặc không đồng bộ. Các bài giảng điện tử, video minh họa, tài liệu học tập số, hệ thống quản lý học tập (LMS), diễn đàn thảo luận,… sẽ được sử dụng để truyền đạt kiến thức, tạo điều kiện cho người học tiếp cận nội dung học tập một cách chủ động và linh hoạt. Khi điều kiện học tập trung được khôi phục, nhà trường sẽ tổ chức các buổi học trực tiếp tại trường nhằm thực hiện các nội dung thực hành, thực tập, thí nghiệm hoặc các hoạt động trải nghiệm nghề nghiệp. Điều này không chỉ đảm bảo người học được rèn luyện kỹ năng chuyên môn theo chuẩn đầu ra mà còn giúp tối ưu hóa thời lượng và hiệu quả học tập trên lớp.

Giải pháp này thể hiện tính thích ứng cao với hoàn cảnh thực tế, đồng thời vẫn bảo đảm được tính toàn vẹn của chương trình đào tạo. Việc phân tách hợp lý giữa học lý thuyết trực tuyến và thực hành trực tiếp cũng là bước tiến phù hợp với xu hướng dạy học kết hợp (blended learning) hiện đại, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục một cách bền vững và khoa học.

2.3.2. Xây dựng kế hoạch đào tạo chi tiết, khoa học

Trong bối cảnh dạy học trực tuyến, việc lên kế hoạch đào tạo chi tiết, có tính đến sự phân bố hợp lý thời gian cho từng môn học/học phần là rất quan trọng. Các nhà trường cần phối hợp giữa các bộ môn để tránh tình trạng học chồng chéo, gây áp lực cho sinh viên. Để làm được điều này, cần xây dựng một lịch trình học tập chặt chẽ, không chỉ căn cứ vào số giờ học mà còn phải chú trọng đến các yếu tố như: Khối lượng kiến thức của mỗi môn học/học phần; sự tương quan, điều kiện tiên quyết giữa các môn học/học phần; phân bổ thời gian học tập hợp lý để sinh viên không phải gánh vác quá nhiều bài tập hay yêu cầu cùng lúc.

Cần có một cơ cấu khung chương trình đào tạo linh hoạt, đáp ứng yêu cầu đào tạo trong môi trường học trực tuyến và trực tiếp. Điều này có thể được thực hiện qua các hướng sau: Tích hợp chương trình học trực tiếp và trực tuyến: Các môn học có thể được phân chia theo hình thức giảng dạy, chẳng hạn như một số môn học được giảng dạy trực tuyến hoàn toàn, trong khi các môn học khác cần kết hợp giữa học trực tiếp và học trực tuyến. Điều chỉnh khối lượng môn học theo từng giai đoạn: Chương trình đào tạo có thể chia thành các giai đoạn học tập khác nhau, với độ khó và yêu cầu học tập tăng dần theo từng học kỳ. Điều này giúp sinh viên có thể dễ dàng theo kịp tiến độ mà không bị quá tải.

Việc hoàn thiện cơ cấu khung chương trình đào tạo, kết hợp phương pháp dạy học linh hoạt và xây dựng các kế hoạch đào tạo rõ ràng sẽ giúp giải quyết tình trạng học chồng chéo và nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên trong môi trường học trực tuyến.

2.3.3. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Để dạy học trực tuyến trở nên hiệu quả hơn, các giảng viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy và đánh giá phù hợp, chẳng hạn như:

Phương pháp học chủ động (Active Learning): Khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học tập qua các hoạt động nhóm, thảo luận, và các bài tập thực hành trực tuyến.

Đánh giá định kỳ và liên tục: Thay vì chỉ dựa vào các kỳ thi cuối kỳ, cần có hệ thống đánh giá liên tục qua các bài kiểm tra trực tuyến, các bài tập nhóm, và các hoạt động thảo luận trực tuyến để đảm bảo sinh viên có thể nắm bắt và củng cố kiến thức.

Trong quá trình giảng dạy giảng viên cần tích cực đối thoại, trao đổi với người học, tổ chức cho người học tương tác với nhau để có nhiều hoạt động, tránh nhàm chán khi học trực tuyến. Đồng thời, quán triệt người học cần chuẩn bị tốt các phương tiện tham gia học tập có hiệu quả, cũng như sắp xếp thời gian tham gia học tập đầy đủ và có chất lượng.

Tăng cường kiểm tra, giám sát của Ban Giám hiệu và phòng, ban chức năng. Đặc biệt tăng cường vai trò của bộ môn, khoa trong công tác quản lý chuyên môn, phương pháp giảng dạy của nhà giáo.

2.3.4. Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng

Nhà trường quan tâm hơn nữa về việc nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và hệ thống mạng: Cần chú trọng đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng nội bộ, đường truyền internet tốc độ cao, hệ thống lưu trữ dữ liệu, và các thiết bị đảm bảo an toàn thông tin, an ninh mạng. Đây là nền tảng kỹ thuật quan trọng, đảm bảo cho việc vận hành ổn định các hệ thống quản lý, điều hành và tổ chức dạy học trực tuyến. Cần ưu tiên trang bị các thiết bị công nghệ thông tin hiện đại (máy tính, thiết bị ghi hình, bảng tương tác, v.v.) cùng với các phần mềm có bản quyền phục vụ xây dựng bài giảng điện tử, học liệu số. Điều này không chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà còn giúp cán bộ, giảng viên dễ dàng tiếp cận và ứng dụng các công cụ hỗ trợ giảng dạy một cách hiệu quả và chuyên nghiệp.

Cần khuyến khích cán bộ, giảng viên tích cực tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, các sáng kiến kinh nghiệm liên quan đến đổi mới phương pháp giảng dạy, phát triển nội dung học liệu số, đánh giá kết quả học tập trực tuyến,… nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, đồng thời tạo ra nguồn học liệu có giá trị thực tiễn cao.

3. Kết luận

Việc chuyển đổi phương pháp và hình thức dạy học từ trực tiếp sang trực tuyến không chỉ là một phản ứng linh hoạt trước bối cảnh thực tiễn mà còn là xu hướng tất yếu trong quá trình hiện đại hóa giáo dục. Quá trình này gắn liền với việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, giảng dạy, kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập. Tuy nhiên, để việc dạy học trực tuyến phát huy được hiệu quả, cần chú trọng đến việc đầu tư và hoàn thiện hạ tầng mạng cũng như trang thiết bị công nghệ thông tin và có các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế của hình thức dạy học này.

Trong dài hạn, việc phát triển mô hình dạy học trực tuyến không nên chỉ xem như giải pháp tình thế, mà cần được đầu tư, quy hoạch và phát triển như một phương thức đào tạo song song ở các trường đại học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, mở rộng cơ hội học tập suốt đời, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong thời đại số. Đây chính là nền tảng để xây dựng một nền giáo dục hiện đại, linh hoạt, thích ứng và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Thế Đan: Học trực tuyến: Tốc độ phát triển nhanh mở ra kỷ nguyên đào tạo
mới,https://vnexpress.net/giao-duc/hoc-tructuyen-toc-do-phat-trien-nhanh-mo-ra-ky-nguyen-dao-tao-moi-3841121.html,19/11/2018

2. Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Kinh tế quốc dân (EDUTOP), Bài 3: Mô hình hệ thống E-learning

3. Lê Thị Mai Hoa, Ban Tuyên giáo Trung ương. Truy cập ngày 13/9/2021 from https://tuyengiao.vn/khoa-giao/giao-duc/day-hoc-truc-tuyen-de-ung-pho-voi-dich-covid-19

4. https://daotaocq.gdnn.gov.vn

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.