ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO - ĐỘNG LỰC CHO GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

10:17 | 03/03/2025
Tóm tắt: Trong bài viết tác giả đánh giá vai trò quan trọng của đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo trong hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững. Qua đó, bài viết tổng kết những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại trong hoạt động đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo bền vững

Tóm tắt: Trong bài viết tác giả đánh giá vai trò quan trọng của đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo trong hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững. Qua đó, bài viết tổng kết những thành tựu đạt được, đồng thời chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại trong hoạt động đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo bền vững, góp phần vào sự phát triển lâu dài của địa phương và đất nước.

Từ khóa: Cán bộ làm công tác giảm nghèo; Đào tạo; Đào tạo cán bộ; Giảm nghèo; Giảm nghèo bền vững.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Giảm nghèo bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng của Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế - xã hội. Dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong giảm nghèo nhưng tỉ lệ nghèo và cận nghèo vẫn còn tồn tại, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh đó, đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo (cán bộ) đóng vai trò quan trọng, làm cầu nối giữa chính sách và người dân, đảm bảo việc triển khai hiểu quả các chương trình giảm nghèo. Việc đào tạo này không chỉ nhằm cung cấp kiến thức chuyên môn, mà còn rèn luyện kỹ năng quản lý, giao tiếp và giải quyết vấn đề trong thực tế. Bài viết này sẽ phân tích tầm quan trọng của đào tạo cán bộ trong hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững, những hạn chế của công tác này hiện nay và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo.

II. NỘI DUNG

1. Vai trò của cán bộ làm công tác giảm nghèo trong hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của cán bộ nói chung, Người cho rằng “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [1]

Trong quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững, cán bộ làm công tác giảm nghèo đóng vai trò trung gian giữa chính sách và người dân, là người trực tiếp triển khai các chương trình giảm nghèo tại cơ sở. Một đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao, tận tâm sẽ giúp:

Thứ nhất, xây dựng chính sách giảm nghèo sát với thực tiễn, phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Cán bộ làm công tác giảm nghèo là những người trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai chính sách giảm nghèo. Chính sách có hoa mỹ nhưng không phù hợp với tình hình thực tế cũng vô nghĩa. Vì vậy, việc xây dựng các chính sách khắc phục được tối đa tình trạng nghèo của người dân đòi hỏi cán bộ phải hiểu rõ tình hình địa phương, thường xuyên chủ động khảo sát điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương, đánh giá nguồn lực và những thách thức đối với người nghèo để đề xuất các chính sách thiết thực. Trong quá trình triển khai chính sách cần linh hoạt, không áp dụng một cách máy móc mà cần có sự điều chỉnh phù hợp, đảm bảo các đối tượng nghèo được hỗ trợ tối đa.

Thứ hai, hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn, kỹ thuật và dịch vụ xã hội. Cán bộ làm công tác giảm nghèo là người hướng dẫn và tư vấn cho người nghèo tiếp cận các chương trình tín dụng chính sách, giúp họ vay vốn với lãi suất ưu đãi. Họ phối hợp cới các tổ chức, doanh nghiệp để tổ chức đào tạo nghề, truyền giao kỹ thuật mới cho người nghèo. Bên cạnh đó, họ đóng vai trò hỗ trợ người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội để đảm bảo cuộc sống ổn định, giúp họ thoát nghèo bền vững.

Thứ ba, cán bộ làm công tác giảm nghèo đóng vai trò giám sát, đánh giá, điều chỉnh kịp thời các hoạt động nhằm đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiểu quả, tránh tình trạng thất thoát, lãng phí.

Thứ tư, cán bộ làm công tác giảm nghèo là người khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường của người dân, giúp họ nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy từ “nhận-cho” sang “hỗ trợ - tự vươn lên”.

Vai trò to lớn của cán bộ là không thể phủ nhận trong quá trình giảm nghèo bền vững, khi họ là những người trực tiếp thực hiện và đảm bảo các chính sách, chương trình mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều cán bộ làm công tác giảm nghèo thiếu kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm trong triển khai các chương trình, dẫn dến tình trạng thực thi chính sách chưa hiệu quả, chống chế và lãng phí nguồn lực. Vì vậy, việc đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo là yếu tố quan trọng trong việc phát huy, nâng cao tối đa các vai trò của cán bộ làm công tác giảm nghèo.

2. Thực trạng công tác đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo hiện nay

Thời gian qua, đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo đã được đào tạo, bôi dưỡng tăng nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, trình độ quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững. Theo Bộ Lao động – Thương binh và xã hội cho biết: trong 3 năm (2021-2023), số cán bộ làm công tác giảm nghèo được đào tạo theo “Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025” đã đạt 181.875 cán bộ với 1.412 lớp tập huấn, 36 đoàn học tập kinh nghiệm. [2]

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo còn một số hạn chế:

Một là, một số cơ quan, địa phương chưa nhận thức đầy đủ và thiếu sự chủ động trong công tác đào tạo, bồi dưỡng; chưa xây dựng được kế hoạch đào tạo; còn bị động trong việc sắp xếp công việc, thời gian đề xử cán bộ tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng. Một bộ phận cán bộ làm công tác giảm nghèo còn e ngại việc học tập nâng cao, chưa tập trung nghiên cứu để nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và có tư duy ỷ lại.

Hai là, công tác đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo vẫn còn dàn trải và hình thức; việc phối hợp chưa có sự linh hoạt, nhịp nhàng và đồng bộ từ khâu bắt đầu cho đến kết thúc, nội dung còn nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra, đánh giá chưa thực sự hiệu quả, thiếu thực chất. Phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy, học tập còn thiếu thốn do việc đầu tư cho giáo dục còn mang tính bình quân, cào bằng.

Quảng cáo

Ba là, chương trình đào tạo còn thiếu tính chuyên sâu về giảm nghèo bền vững; chưa có nhiều khóa đào tạo tập trung vào các kỹ năng cần thiết như quản lý dự án, tiếp cận nguồn vốn, huy động nhà tài trợ, ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp, phát triển kinh tế địa phương.

Bốn là, chất lượng đào tạo không đồng đều giữa các vùng miền. Đặc biệt, cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện tiếp cận các chương trình đào tạo bài bản.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo nhằm đảm bảo giảm nghèo bền vững

Để nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác giảm nghèo và biến công tác đào tạo thành động lực thực sự cho giảm nghèo bền vững, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng sau:

Thứ nhất, thực hiện đầy đủ, hiệu quả việc nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo theo đúng phương hướng, nội dung “Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025”.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thể chế và chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành sớm thực hiện khung đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác giảm nghèo phù hợp với điều kiện Việt Nam. Tiếp tục đổi mới căn bản nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp đào tạo, như: xây dựng các khóa học thực tiễn, tập trung vào các kỹ năng như quản lý dự án giảm nghèo, tiếp cận vốn vay ưu đãi, hướng dẫn người dân phát triển kinh tế; mời các chuyên gia, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm,... Đồng thời, có cơ chế giám sát việc chấp hành của các cơ quan, đơn vị nhà nước nhằm khuyến khích, động viên và công nhận trình độ, năng lực của cán bộ tham gia đào tạo.

Thứ ba, tăng cường đào tạo tại cơ sở. Các chương trình đào tạo, tập huấn tại chỗ nên được mở rộng, giúp cán bộ làm công tác giảm nghèo có thể áp dụng ngay kiến thức tại địa phương mình. Bên cạnh đó, các hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn cần được tổ chức thường xuyên hơn giữa các địa phương, các cấp nhằm giúp cán bộ làm công tác giảm nghèo có thể chia sẻ, học hỏi được nhiều bài học mang tính thực tiễn mà không chỉ dừng lại ở lý thuyết thông thường.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ trong đào tạo. Đối với các vùng có địa lý phức tạp, khó khăn trong tiếp cận trực tiếp, có thể tiếp cận các khóa đào tạo thông qua các phương tiện trực tuyến. Muốn vậy, cần tập trung hơn nữa trong xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến, giúp cán bộ ở vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt.

Thứ năm, cần quan tâm, nâng cấp, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị dạy và học tại các cơ sở đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo nhằm bảo đảm các điều kiện dạy và học có chất lượng phù hợp với từng thời kỳ.

Thứ sáu, tập trung xây dựng, bổ sung và hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ giảng viên, các chuyên gia về đào tạo trong lĩnh vực giảm nghèo bền vững. Đồng thời, tăng cường các hoạt động nghiên cứu thực tiễn cho đội ngũ giảng viên, đưa giảng viên đi thực tế về cơ sở để có cơ hội học tập kinh nghiệm thiết thực, gắn sát với công tác đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo. Quan tâm, xem xét chế độ phụ cấp, đãi ngộ, tiền lương cho đội ngũ giảng viên có thâm niên giảng dạy.

Thứ bảy, cần bổ sung và hoàn thiện chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác giảm nghèo khi được cử đi học nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình mới để cán bộ yên tâm học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Ngoài ra, tiếp tục thực hiện các biện pháp chế tài nghiêm khắc và mạnh dạn tinh giản biên chế hoặc loại khỏi bộ mát nhà nước đối với những cán bộ yếu kém năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức, tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả cán bộ làm công tác giảm nghèo vẫn đang phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

III. KẾT LUẬN

Đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo chính là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững. Một đội ngũ cán bộ có kiến thức, kỹ năng và tâm huyết sẽ giúp chính sách giảm nghèo được triển khai hiệu quả, phù hợp với thực tiễn địa phương và thực sự mang lại lợi ích cho người dân. Vì vậy, đầu tư vào công tác đào tạo cán bộ không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà cần có sự chung tay của toàn xã hội. Chỉ khi có một đội ngũ cán bộ đủ năng lực, chúng ta mới có thể đảm bảo rằng mọi người dân đều có cơ hội vươn lên, thoát nghèo một cách bền vững, hướng tới một tương lau phát triển thịnh vượng cho đất nước.

Nhóm NCKH lớp Quản lý hành chính nhà nước - K42

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, p. tr.68.

[2] Mard.gov.vn, “Những kết quả nổi bật sau 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025,” 21 11 2023. [Trực tuyến]. Available: https://www.a.gov.vn/Pages/nhung-ket-qua-noi-bat-sau-3-nam-thuc-hien-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-giam-ngheo-ben-vung--.aspx.

[3] Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.