ĐÁNH THỨC NỘI LỰC TỰ HỌC - CHÌA KHÓA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

05:47 | 09/05/2026
Vũ Minh Nguyên Hệ 2, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu vai trò và chất lượng tự học của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) quân sự ở Học viện Chính trị, đặc biệt trong bối cảnh đào tạo Hệ 2. Trên cơ sở phân tích lý luận về nhân tố chủ quan trong tự học và khảo sát thực trạng học tập của học viên, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế về động cơ, thái độ, kỹ năng tự học, khả năn

Vũ Minh Nguyên

Hệ 2, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu vai trò và chất lượng tự học của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) quân sự ở Học viện Chính trị, đặc biệt trong bối cảnh đào tạo Hệ 2. Trên cơ sở phân tích lý luận về nhân tố chủ quan trong tự học và khảo sát thực trạng học tập của học viên, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế về động cơ, thái độ, kỹ năng tự học, khả năng tổ chức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng trong nâng cao năng lực tự học, gắn phát huy nhân tố chủ quan với yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự.

Từ khóa: Nội lực tự học; nhân tố chủ quan; chất lượng đào tạo; học viên Hệ 2; đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự; Học viện Chính trị.

1. Đặt vấn đề

Chất lượng giáo dục và đào tạo trong các học viện quân sự được hình thành từ nhiều nhân tố, trong đó mối quan hệ biện chứng giữa giảng viên và học viên giữ vị trí trung tâm. Đối với Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng - cơ sở trọng yếu đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chính trị, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) - chất lượng đào tạo không chỉ phản ánh trình độ quản lý, tổ chức giảng dạy mà còn thể hiện qua năng lực tự học, tự nghiên cứu và phát triển lâu dài của học viên.

Học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV Hệ 2 vừa học vừa công tác, cần kết hợp chặt chẽ phẩm chất chính trị - tư tưởng vững vàng với năng lực trí tuệ và sư phạm chuyên sâu. Quá trình đào tạo vì vậy không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn đòi hỏi học viên phát triển tư duy lý luận, khả năng phân tích, tổng hợp, phản biện và sáng tạo tri thức mới. Nhân tố chủ quan - gồm động cơ học tập, thái độ, kỹ năng nghiên cứu, tư duy phản biện, kỷ luật và khả năng tự đánh giá - trở thành yếu tố quyết định hiệu quả tự học, năng lực nghề nghiệp và chất lượng giảng dạy trong tương lai.

Thực tiễn cho thấy, Học viện Chính trị đã triển khai nhiều giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao năng lực tự học, nhưng vẫn còn tồn tại hạn chế: một số học viên chưa xác lập động cơ học tập gắn với trách nhiệm nghề nghiệp, khai thác tài liệu chưa sâu, kỹ năng viết và phân tích còn hạn chế. Những hạn chế này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy nhân tố chủ quan trong tự học, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và đề xuất giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV Hệ 2, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Một số vấn đề về nhân tố chủ quan và phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của học viên đào tạo giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị

* Quan niệm, đặc điểm hoạt động tự học của học viên đào tạo giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị

Tự học là một thành tố trung tâm và quan trọng trong hệ thống các nhân tố quyết định chất lượng đào tạo, đặc biệt đối với học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) ở Hệ 2, Học viện Chính trị. Tự học được hiểu là quá trình nhận thức tự tổ chức, trong đó người học chủ động huy động các nguồn lực cá nhân - bao gồm tri thức đã có, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất chính trị và năng lực tư duy - để chiếm lĩnh, xử lý và phát triển tri thức một cách độc lập. Đây không chỉ là quá trình tiếp nhận kiến thức mà còn là hoạt động tự tái tạo, phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa tri thức, từ đó hình thành năng lực vận dụng linh hoạt và sáng tạo. Như vậy, tự học vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu cần hình thành trong quá trình đào tạo giảng viên KHXH&NV, quyết định năng lực nghiên cứu, sư phạm và tư duy lý luận của người học.

Hoạt động tự học ở Hệ 2 diễn ra trong môi trường quân sự chặt chẽ, có sự quản lý trực tiếp và yêu cầu kỷ luật cao. Học viên phải cân đối giữa tuân thủ quy định tập thể và phát triển năng lực học tập độc lập; đồng thời vận dụng tri thức lý luận vào nghiên cứu các vấn đề thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Nội dung tự học không giới hạn trong giáo trình mà mở rộng sang nghiên cứu, phân tích văn kiện, nghị quyết, kết quả khoa học và các tình huống thực tiễn, tạo tiền đề rèn luyện năng lực nghề nghiệp.

Hiệu quả tự học còn được hỗ trợ bởi hệ thống điều kiện vật chất, kỹ thuật và môi trường học thuật của Học viện, bao gồm thư viện, tài liệu chuyên ngành, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, các hình thức xê-mi-na, thảo luận và hướng dẫn nghiên cứu. Tuy nhiên, khả năng khai thác các điều kiện này phụ thuộc chủ yếu vào nhân tố chủ quan của học viên: động cơ học tập, thái độ, phương pháp, tư duy phản biện và kỷ luật tự giác. Khi các yếu tố này được phát huy đúng hướng, tự học trở thành công cụ cơ bản để học viên Hệ 2 làm chủ tri thức, hoàn thiện năng lực nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu đào tạo giảng viên KHXH&NV trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại.

* Vai trò phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của học viên đào tạo giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị

Một là, phát huy nhân tố chủ quan trong tự học giúp nâng cao năng lực nhận thức và tư duy lý luận cho học viên. Tự học là quá trình chủ động huy động các nguồn lực nội tại như tri thức đã có, kinh nghiệm thực tiễn, phẩm chất chính trị và năng lực tư duy, để chiếm lĩnh, xử lý và phát triển tri thức. Quá trình này giúp học viên hình thành khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa, từ đó nâng cao năng lực tư duy lý luận, khả năng nghiên cứu độc lập và vận dụng sáng tạo tri thức vào thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị. Thông qua tự học, học viên Hệ 2 nắm vững kiến thức lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và kiến thức quân sự, đồng thời hình thành năng lực phản biện và giải quyết vấn đề một cách khoa học. Đây là cơ sở để mỗi học viên trở thành chủ thể tích cực trong quá trình nhận thức, chuyển hóa tri thức khách quan thành năng lực nội sinh và xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất nghề nghiệp bền vững.

Hai là, định hướng chuẩn mực hành vi và bồi dưỡng bản lĩnh chính trị trong môi trường quân sự. Hoạt động tự học diễn ra trong môi trường quân sự có tính kỷ luật cao, chịu sự giám sát và quản lý chặt chẽ về thời gian, nội dung và nền nếp học tập. Nhân tố chủ quan giúp học viên biết kết hợp hài hòa giữa tuân thủ kỷ luật tập thể với phát triển năng lực độc lập, đồng thời hình thành thái độ trách nhiệm, ý thức tự giác và phương pháp học tập khoa học. Quá trình này không chỉ giúp học viên lĩnh hội tri thức mà còn rèn luyện bản lĩnh chính trị, khả năng thích ứng với các tình huống thực tiễn, giữ vững lập trường tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp và phong cách tác phong sư phạm trong Quân đội.

Ba là, tạo điều kiện phát triển năng lực tư duy phản biện và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Phát huy nhân tố chủ quan giúp học viên nhận diện vấn đề, xây dựng giả thuyết, phân tích bản chất và vận dụng sáng tạo tri thức trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy và công tác thực tiễn. Học viên được rèn luyện khả năng phản biện, lập luận, phân tích thông tin và phối hợp giải quyết tình huống, từ đó nâng cao năng lực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt trong bối cảnh thông tin đa chiều và không gian mạng phức tạp hiện nay. Đây là nền tảng để học viên Hệ 2 vừa đảm nhiệm giảng dạy lý luận, vừa tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

2.2. Thực trạng phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của học viên đào tạo giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị.

Hoạt động tự học của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị trong những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực. Nhận thức về vai trò của tự học ngày càng rõ nét, động cơ học tập được hình thành đúng hướng, kết hợp giữa nhu cầu tự hoàn thiện bản thân và trách nhiệm nghề nghiệp. Học viên từng bước phát huy tính chủ động, tự giác trong xây dựng kế hoạch học tập, nghiên cứu tài liệu và tham gia các hoạt động học thuật, đồng thời chú trọng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và tư duy phản biện. Kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy, phần lớn học viên nhận thức đúng vai trò quyết định của nhân tố chủ quan trong tự học, tích cực duy trì nền nếp học tập buổi chiều, buổi tối và triển khai quỹ thời gian tự học hợp lý. Năng lực tự tổ chức, vận dụng tri thức lý luận vào thực hành nghề nghiệp được nâng lên thông qua tập bài, giảng tập, thực tập tại các đơn vị và nghiên cứu thực tiễn, góp phần phát triển đồng bộ phẩm chất chính trị, năng lực tư duy và kỹ năng nghề nghiệp. Những biểu hiện này cho thấy nhân tố chủ quan của học viên đã được khơi dậy, đóng vai trò là động lực nội sinh quan trọng thúc đẩy hiệu quả đào tạo và hình thành bản lĩnh, phẩm chất của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tự học vẫn còn một số hạn chế. Một bộ phận học viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò chủ thể của mình, dẫn đến động cơ và trách nhiệm học tập chưa thật sự vững chắc. Việc tổ chức và sử dụng thời gian tự học chưa đồng đều; một số học viên vẫn còn học tập theo hướng đối phó, tập trung chủ yếu vào các môn thi tốt nghiệp hoặc các nội dung yêu thích, trong khi các môn học khác chưa được quan tâm đúng mức. Phương pháp và hình thức tự học còn đơn điệu, thiếu sự phối hợp nhóm, trao đổi học thuật và khai thác các kênh nghiên cứu chuyên sâu; khả năng vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị còn hạn chế. Ngoài ra, một số học viên chưa thực sự chủ động xây dựng kế hoạch tự học khoa học, khai thác và hệ thống hóa tài liệu, dẫn đến nội dung tự học còn nặng về ghi nhớ, thiếu chiều sâu và tính sáng tạo. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan - như ý thức tự giác, năng lực tổ chức và kỹ năng tự học chưa đồng đều - và nguyên nhân khách quan liên quan đến cơ chế quản lý, điều kiện học tập, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất.

2.3. Một số bài học kinh nghiệm phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của học viên đào tạo giảng viên Khoa học xã hội và nhân văn ở Hệ 2, Học viện Chính trị hiện nay.

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và xây dựng động cơ học tập đúng đắn là giải pháp nền tảng, quyết định đối với việc phát huy nhân tố chủ quan trong tự học. Thực tiễn cho thấy, mọi chuyển biến tích cực trong hoạt động học tập và rèn luyện của học viên đều bắt nguồn từ nhận thức đúng đắn, được củng cố bởi động cơ học tập tích cực và hiện thực hóa thông qua ý thức trách nhiệm cá nhân. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quân sự, đội ngũ giảng viên KHXH&NV quân sự không chỉ cần vững lý luận mà còn phải có năng lực thích ứng nhanh với môi trường giáo dục hiện đại, năng lực nghiên cứu khoa học, khai thác dữ liệu số và định hướng tư tưởng trên không gian mạng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, đồng thời Nghị quyết số 71-NQ/TW yêu cầu xây dựng nền giáo dục hiện đại, mở, linh hoạt, lấy người học làm trung tâm, phát triển năng lực tự học và học tập suốt đời. Việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và xây dựng động cơ học tập đúng đắn không chỉ giúp học viên nâng cao kết quả học tập trước mắt, mà còn là giải pháp chiến lược để hình thành đội ngũ giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy hiện đại và năng lực thích ứng với yêu cầu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Quảng cáo

Hai là, thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng để học viên nhận thức đầy đủ vai trò của tự học đối với việc hoàn thiện phẩm chất và năng lực nghề nghiệp. Trong môi trường giáo dục quân sự hiện đại, tự học không còn là hoạt động bổ trợ mà đã trở thành phương thức cơ bản để tiếp cận, cập nhật và sáng tạo tri thức. Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, khối lượng tri thức lý luận và thực tiễn tăng nhanh, đòi hỏi học viên phải tự nghiên cứu, tự cập nhật và tự đổi mới tư duy. Học viên cần xác lập mục tiêu học tập rõ ràng, gắn việc học với trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Động cơ học tập dựa trên lý tưởng nghề nghiệp và trách nhiệm chính trị giúp học viên chủ động vượt qua khó khăn, tích cực nghiên cứu tài liệu, đổi mới phương pháp học tập và nâng cao trình độ bản thân. Việc đa dạng hóa hình thức giáo dục, như sinh hoạt chính trị, tọa đàm khoa học, diễn đàn học thuật, học tập chuyên đề về chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, kết hợp biểu dương các điển hình tiên tiến và phê phán biểu hiện học tập hình thức, góp phần hình thành bản lĩnh học tập chủ động và ý thức tự hoàn thiện bản thân.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể giáo dục để định hướng và củng cố động cơ học tập đúng đắn. Giảng viên giữ vai trò trực tiếp trong định hướng tư duy, truyền cảm hứng nghiên cứu và hình thành phương pháp tự học khoa học cho học viên. Họ không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn kỹ năng khai thác học liệu số, xử lý thông tin, phát triển tư duy phản biện và nghiên cứu khoa học trong môi trường số hóa. Phẩm chất đạo đức, phong cách khoa học và tinh thần đổi mới sáng tạo của giảng viên tác động trực tiếp đến việc hình thành động cơ nghề nghiệp và khát vọng phát triển của học viên. Đồng thời, cấp ủy, chỉ huy và cán bộ quản lý phải đưa nội dung xây dựng động cơ tự học, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý thức làm chủ công nghệ vào kế hoạch đào tạo, giám sát quá trình học tập và đánh giá kết quả định kỳ. Các cơ quan chức năng như Phòng Đào tạo, Phòng Chính trị, Ban Khảo thí phối hợp tham mưu, kiểm tra và điều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại hóa và chuyển đổi số.

Bốn là, kết hợp giáo dục nhận thức với phong trào thi đua học tập và nghiên cứu khoa học, tạo môi trường học tập số tích cực để chuyển hóa động cơ học tập thành hành động cụ thể, thường xuyên và hiệu quả. Học viện cần xây dựng môi trường học tập hiện đại, phát triển thư viện số, học liệu điện tử, diễn đàn học thuật trực tuyến và các mô hình học tập thông minh. Học viên được hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học cá nhân theo học kỳ, tăng cường kiểm tra, đánh giá thông qua học trực tuyến, nghiên cứu khoa học, thảo luận học thuật và thực hành nghề nghiệp. Sự kết hợp giữa giáo dục, quản lý và tự quản tạo cơ chế đồng bộ, giúp học viên từ tiếp thu thụ động chuyển sang tự nghiên cứu, tự khám phá và tự hoàn thiện năng lực.

Năm là, phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên trong phát triển kỹ năng tự học. Trong môi trường đào tạo quân sự hiện đại, kỹ năng tự học không chỉ là đọc tài liệu hay ghi nhớ bài giảng mà là tổ hợp các phương thức tổ chức nhận thức, khai thác thông tin, xử lý tri thức và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị. Học viên cần rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch tự học khoa học, linh hoạt và thích ứng với năng lực cá nhân, sử dụng các nền tảng quản lý thời gian, ứng dụng hỗ trợ học tập, phần mềm xây dựng kế hoạch và công cụ theo dõi tiến độ. Đồng thời, họ phải biết xử lý, quản trị và hệ thống hóa thông tin học tập trong môi trường số, kết hợp ghi chép truyền thống với sơ đồ tư duy điện tử, phần mềm ghi chú thông minh, cơ sở dữ liệu đám mây và nền tảng quản lý học liệu cá nhân. Học viên cần nâng cao khả năng đọc, khai thác, đánh giá và phản biện tài liệu, đồng thời phát triển tư duy phản biện, tư duy độc lập và năng lực sáng tạo thông qua xê-mi-na, tọa đàm khoa học, thảo luận chuyên đề, tập bài, xử lý tình huống và diễn tập công tác đảng, công tác chính trị.

Sáu là, đổi mới toàn diện hình thức, phương pháp và quy trình tự học. Nội dung đào tạo cần hiện đại hóa, tích hợp tri thức mới, tăng cường kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng số và năng lực xử lý tình huống thực tiễn. Học viên cần đa dạng hóa hình thức tự học: kết hợp học cá nhân với nhóm, học trực tiếp với trực tuyến, lý luận với thực tiễn và nghiên cứu khoa học. Phương pháp học tập tích cực như học qua tình huống, phát hiện và giải quyết vấn đề, tự kiểm tra và đánh giá, kết hợp công nghệ số hỗ trợ phân tích thông tin phải được áp dụng. Quy trình tự học cần khoa học, logic, từ xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung trọng tâm, tái hiện kiến thức bằng tư duy độc lập, mở rộng thông tin, phân tích và hệ thống hóa tri thức, đến vận dụng thực tiễn và tự kiểm tra kết quả. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ nâng cao hiệu quả, tính linh hoạt và cá thể hóa hoạt động tự học.

Bảy là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể sư phạm. Học viên là trung tâm, chịu trách nhiệm xây dựng động cơ học tập, phát triển kỹ năng tự học, tư duy phản biện và năng lực nghiên cứu. Tuy nhiên, nhân tố chủ quan chỉ thực sự phát triển khi được hỗ trợ bởi hệ thống giáo dục - đào tạo quân sự đồng bộ. Tập thể lớp, tổ học tập, giảng viên và cơ quan chức năng phối hợp tạo môi trường học tập hiện đại, kỷ luật, giàu tương tác và số hóa. Hoạt động diễn đàn học thuật trực tuyến, nhóm học tập số, chia sẻ tài liệu, thảo luận và phản biện khoa học giúp học viên rèn luyện kỹ năng hợp tác, giao tiếp học thuật và năng lực xử lý thông tin. Giảng viên hướng dẫn phương pháp nghiên cứu, tổ chức học liệu số, khai thác trí tuệ nhân tạo và mô phỏng số nhằm phát triển tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề và phong cách học thuật. Cán bộ quản lý trực tiếp hỗ trợ bằng việc duy trì nền nếp tự học, kiểm tra, đánh giá và phối hợp với giảng viên điều chỉnh chương trình và kế hoạch đào tạo.

Tám là, đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và hệ thống học liệu số là nền tảng phát huy nhân tố chủ quan. Thư viện số, giảng đường số, học liệu điện tử và công cụ trí tuệ nhân tạo giúp học viên mở rộng không gian học tập, nâng cao khả năng nghiên cứu, tự quản lý và vận dụng kiến thức. Sự kết nối chặt chẽ giữa “giảng đường thực - không gian số - thực tiễn đơn vị” tạo môi trường học tập hiện đại, thúc đẩy học viên phát huy nội lực, sáng tạo và nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

4. Kết luận

Phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự ở Hệ 2, Học viện Chính trị hiện nay là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và chuyển đổi số mạnh mẽ trong Quân đội. Thực tiễn cho thấy, quá trình tự học của học viên đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức, động cơ, kỹ năng tự học và năng lực vận dụng tri thức, song vẫn còn tồn tại những hạn chế về tính chủ động, sáng tạo, khả năng khai thác học liệu số và áp dụng vào thực tiễn công tác. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu, rút ra các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thiết thực nhằm xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng tự học, phát triển hệ thống kỹ năng số và phương pháp học tập hiện đại là cần thiết. Khi được triển khai đồng bộ, các giải pháp này sẽ góp phần hình thành đội ngũ giảng viên KHXH&NV quân sự “vừa hồng, vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực nghề nghiệp toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong thời kỳ mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Quốc phòng (2025), Nâng cao chất lượng tự học của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NV quân sự ở Hệ 2, Học viện Chính trị, Hà Nội.

2. Học viện Chính trị (2025), Báo cáo tổng kết hoạt động tự học và phát huy nhân tố chủ quan của học viên Hệ 2, Hà Nội.

3. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực tự học, số hóa giáo dục trong Quân đội, số 3488-NQ/QUTW, ngày 29/01/2025, Hà Nội.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025), Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT về Khung năng lực số cho người học, ngày 24/01/2025, Hà Nội.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Hướng dẫn lượng hóa các khái niệm mới trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 562/BKHCN-VCL, ngày 31/3/2025.

AWAKENING THE INNER POTENTIAL FOR SELF-LEARNING - THE KEY TO IMPROVING THE QUALITY OF TRAINING FOR MILITARY SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES LECTURERS AT THE POLITICAL ACADEMY TODAY

Vu Minh Nguyen
Cadet, System 2, Political Academy

Sum mary: This article focuses on researching the role and quality of self-study among trainees in the military social sciences and humanities lecturer training program at the Political Academy, particularly within the context of the Level 2 training program. Based on a theoretical analysis of subjective factors in self-study and a survey of the trainees' learning situation, the article clarifies the achievements while also identifying limitations in motivation, attitude, self-study skills, organizational abilities, and the application of knowledge to practice. From this, it draws valuable lessons that provide guidance in improving self-study capacity, linking the development of subjective factors with the requirements for improving the quality of military lecturer training.

Key words: Self-learning ability; subjective factors; quality of training; students of System 2; training of military social science and humanities lecturers; Political Academy.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.