CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRẦN QUỐC TUẤN

20:20 | 29/09/2025
TS Lê Văn Tách - Trường Đại học Trần Quốc Tuấn - Bộ Quốc phòng Email: [email protected] Tóm tắt: Trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, ngoại ngữ giữ vị trí tiên phong, vừa là mục tiêu hướng tới, đồng thời là phương tiện hữu hiệu trong vai trò thúc đẩy chuyển đổi số. Từ hoạt động thực tiễn chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn - Bộ Quốc phòng. Từ khoá: Chuyển đổ

TS Lê Văn Tách -

Trường Đại học Trần Quốc Tuấn - Bộ Quốc phòng

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, ngoại ngữ giữ vị trí tiên phong, vừa là mục tiêu hướng tới, đồng thời là phương tiện hữu hiệu trong vai trò thúc đẩy chuyển đổi số. Từ hoạt động thực tiễn chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn - Bộ Quốc phòng.

Từ khoá: Chuyển đổi số; dạy học ngoại ngữ; Trường Đại học Trần Quốc Tuấn; Bộ Quốc phòng.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số là nội dung cơ bản giữ vai trò then chốt trong trụ cột kỹ thuật số của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, chuyển đổi số có vai trò rất quan trọng, làm cơ sở để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đối với các nhà trường Quân đội, nhiệm vụ đặt ra phải đào tạo được đội ngũ cán bộ Quân đội không chỉ vững vàng về tư tưởng, chính trị, tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có kiến thức, kỹ năng mềm; có khả năng cập nhật và ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ, giỏi ngoại ngữ.

Trong những năm qua, ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn đã có nhiều chủ trương, biện pháp triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung và dạy học ngoại ngữ nói riêng. Theo đó, ngoại ngữ là một trong những nội dung được xác định ưu tiên và đã đạt được những kết quả tích cực, chất lượng dạy học ngoại ngữ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, nhận thức của một số ít tổ chức và cá nhân chưa thật đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ; cơ sở hạ tầng kỹ thuật có mặt còn chưa bảo đảm; năng lực số, năng lực ngoại ngữ của các chủ thể còn có những hạn chế nhất định.

Để không ngừng nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, cần phải có nhiều các chủ trương, biện pháp, trong đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn là một trong những hướng tiếp cận có giá trị ứng dụng trong thực tiễn.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Quan niệm về chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Khác với số hóa là việc chuyển thể dữ liệu ở dạng vật lý thành dạng dữ liệu điện tử và tin học hóa, hay còn gọi là ứng dụng công nghệ thông tin là việc số hóa quy trình nghiệp vụ đã có, chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin học hóa, có được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính đột phá, nhất là công nghệ số.

Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, chuyển đổi số là việc triển khai áp dụng công nghệ vào các hoạt động của lĩnh vực giáo dục, đào tạo, phù hợp với mục đích, cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục, đào tạo, trong đó, bao gồm các nội dung: Chuyển đổi số trong quản lý giáo dục; chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá kết quả với các hình thức, bao gồm: Ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý giáo dục, đào tạo; ứng dụng công nghệ trong vận dụng phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ trong lớp học.

Chuyển đổi số trong dạy học là quá trình thay đổi tổng thể, toàn diện theo hướng giảm thuyết giảng, truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, tăng khả năng tự học, tạo cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, cá nhân hóa việc học, góp phần tạo ra xã hội học tập và học tập suốt đời.

Chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ là sự đổi mới tổng thể và toàn diện quá trình dạy học ngoại ngữ trên cơ sở ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.

Ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn, ngoại ngữ được xác định là một trong những nội dung bắt buộc trong chương trình đào tạo cho các đối tượng bao gồm hai môn học tiếng Anh và tiếng Nga. Học viên sau kỳ thi kết thúc môn học còn phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp nội dung ngoại ngữ đã được đào tạo với 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết và phải đạt được trình độ tương đương B1 đối với tiếng Anh và TRK1 đối với tiếng Nga.

2.2. Thực trạng chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn hiện nay

2.2.1. Ưu điểm

Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Trần Quốc Tuấn và đảng ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa, đơn vị luôn quan tâm sâu sắc đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo để từng bước triển khai chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngoại ngữ. Hằng năm, Nhà trường đều có chủ trương lãnh đạo cụ thể, kịp thời đề ra các phương hướng, biện pháp để chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhất là chuẩn hóa về trình độ công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Khoa Khoa học Tự nhiên và Khoa Ngoại ngữ - Tiếng Việt, trong vai trò là khoa chuyên môn đã chủ động tham mưu cho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường về những chủ trương, biện pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ.

Đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn có nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ, có ý thức cầu thị tiến bộ, chủ động khắc phục khó khăn không ngừng học tập và bồi dưỡng nâng cao năng lực số và năng lực ngoại ngữ. Học viên ở các đơn vị có nhận thức tốt và cơ bản đã được tiếp cận với kiến thức công nghệ thông tin, công nghệ số cũng như các phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học ngoại ngữ ở bậc phổ thông. Đội ngũ nhân viên chuyên môn được giao phục vụ các phòng học chuyên dùng, phòng học đa năng, thư viện số có ý thức trách nhiệm trong công việc, có kiến thức chuyên môn và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc.

Nội dung, chương trình môn học ngoại ngữ thường xuyên được đổi mới; phương pháp, kỹ năng đã phát huy được sự chủ động, tính tích cực, tự giác của người học; tập trung phát triển năng lực người học, quan tâm phát triển đồng đều tất cả các kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Đã chuyển từ hình thức thi, kiểm tra tự luận kết hợp phỏng vấn trực tiếp sang các hình thức học viên có thể tự kiểm tra, đánh giá thông qua các phần mềm được cài đặt sẵn hoặc kết hợp đánh giá của giảng viên và các phần mềm tích hợp. Thời gian và không gian học tập khi thực hiện chuyển đổi số đã trở nên linh hoạt hơn; người học có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, có thể có giảng viên hoặc không có giảng viên mà thay vào đó là máy móc, là trợ lý ảo.

Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ đã có sự quan tâm đầu tư nhằm tăng cường trang bị các thiết bị công nghệ hiện đại phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Các phòng học chuyên dùng cho ngoại ngữ, phòng học đa năng, thư viện số đã được xây dựng và đưa vào khai thác, bước đầu có hiệu quả. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin được củng cố, mạng nội bộ được triển khai đảm bảo kết nối dữ liệu liên thông đến tất cả các cơ quan, khoa, đơn vị ; các học liệu phục vụ cho dạy học ngoại ngữ về cơ bản đã được số hóa, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ.

2.2.2. Hạn chế

Nhận thức về vị trí, vai trò của chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở một số ít tổ chức và cá nhân còn chưa thật đầy đủ. Công tác bảo đảm phục vụ cho dạy học ngoại ngữ có mặt chưa đáp ứng, sự kết nối và liên thông trong dạy học ngoại ngữ còn hạn chế. Trong dạy học ngoại ngữ, nội dung kiến thức vẫn chủ yếu phụ thuộc vào giáo trình; hiện tượng sao chép bài giảng và nặng về thuyết trình, chưa coi trọng sự tương tác vẫn còn tồn tại. Khai thác các phần mềm tích hợp vào thi, kiểm tra còn hạn chế; tận dụng thời gian ngoại khóa cho ngoại ngữ có thời điểm chưa hiệu quả. Quy định học viên không được sử dụng điện thoại cũng có những ảnh hưởng đến yêu cầu thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ.

Một số ít cán bộ giảng viên còn vẫn còn tâm lý ngại tiếp cận với công nghệ hiện đại, đặc biệt là số cán bộ giảng viên lớn tuổi. Năng lực số và năng lực ngoại ngữ của một số cán bộ giảng viên có hạn chế, thao tác chậm, chưa xử lý được các sự cố của máy tính và các phần mềm thông thường. Học viên chưa có nhiều thời gian và phương tiện tiếp cận để rèn luyện nâng cao năng lực số phục vụ cho học tập ngoại ngữ. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản và số lượng còn thiếu so với yêu cầu. Chất lượng máy chiếu, máy tính trên giảng đường, phòng học chuyên dùng và thư viện còn hạn chế do sử dụng với tần suất cao. Chất lượng tín hiệu đường truyền của mạng nội bộ không ổn định. Sự cập nhật và khai thác các phần mềm cho dạy học ngoại ngữ có thời điểm chưa đáp ứng; tiến độ số hóa các học liệu ngoại ngữ còn chậm.

2.3. Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường đại học Trần Quốc Tuấn

2.3.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy các cấp

Lãnh đạo, chỉ huy các cấp là chủ thể trực tiếp tiến hành các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và xác định các chủ trương, biện pháp, đồng thời cụ thể hóa thành nội dung, yêu cầu, chỉ tiêu, biện pháp trong nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, kế hoạch công tác của người chỉ huy, bảo đảm phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của Nhà trường và đặc thù hoạt động công tác của từng cơ quan, khoa, đơn vị.

Về nội dung, phải thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường cho các đối tượng về chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ; nghiên cứu đề xuất sửa đổi các quy định trong công tác quản lý theo hướng vừa đảm bảo các quy định của Bộ Quốc phòng, phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ của Trường Đại học Trần Quốc Tuấn, vừa linh hoạt tạo điều kiện để học viên được tiếp cận với các công nghệ hiện đại phục vụ cho yêu cầu thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ.

Quảng cáo

Các cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ chủ động tham mưu đề xuất các nội dung, biện pháp chuyển đổi số, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng ủy, chỉ huy các khoa giảng viên, đặc biệt là Khoa Khoa học Tự nhiên và Khoa Ngoại ngữ - Tiếng Việt, lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ, bộ môn, các tổ phương pháp, các hạt nhân công nghệ thông tin và ngoại ngữ chủ động xây dựng kế hoạch lựa chọn, quy hoạch, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên trong từng khoa.

Cấp ủy, chỉ huy các hệ, tiểu đoàn chủ động quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn, kế hoạch về nội dung nâng cao năng lực số, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ đơn vị; quan tâm tạo điều kiện để học viên được thực hành các kỹ năng công nghệ thông tin gắn với thực hành các kỹ năng ngoại ngữ.

2.3.2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát triển năng lực số cho các chủ thể

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tích cực, tự giác của các chủ thể bao giờ cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định hàng đầu đến kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Chủ thể tham gia vào quá trình thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn bao gồm: Các tổ chức, cá nhân, trong đó, đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên là những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp.

Về nội dung, cần tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, giảng viên, học viên của Nhà trường; xây dựng động cơ, trách nhiệm, sự tâm huyết và tạo sự hứng thú tích cực trong nâng cao năng lực số, năng lực ngoại ngữ cho cán bộ, giảng viên, học viên.

Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát triển năng lực số cho các chủ thể, cùng với công tác tổ chức giáo dục và quán triệt, hằng năm cần phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan trình độ, khả năng công nghệ thông tin và ngoại ngữ của cán bộ, giảng viên. Bên cạnh nội dung ngoại ngữ, có thể bổ sung nội dung công nghệ thông tin vào các cuộc thi cán bộ quản lý các cấp và thi, xét giảng viên giỏi hằng năm. Chủ động đề nghị và lựa chọn nguồn cán bộ, giảng viên có khả năng về công nghệ thông tin và ngoại ngữ tham gia các lớp bồi dưỡng; kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp hành chính, làm tốt công tác thi đua, khen thưởng.

Bản thân mỗi cán bộ, giảng viên, học viên cần phải tích cực, tự giác, có ý thức tham gia và biết cách tham gia vào quá trình thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ; chủ động lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, xây dựng kế hoạch tự học tập nâng cao các kỹ năng công nghệ thông tin gắn với kỹ năng ngoại ngữ.

2.3.3. Thường xuyên rà soát, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ngoại ngữ đảm bảo tính kế thừa và phát triển trong môi trường số

Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ngoại ngữ đảm bảo tính kế thừa và phát triển trong môi trường số là một trong những vấn đề mấu chốt tác động trực tiếp đề các yêu cầu và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn.

Nội dung đổi mới yêu cầu phải bám sát mục tiêu của môn học, bám sát chuẩn đầu ra để rà soát, bổ sung điều chỉnh và đổi mới đồng bộ các nội dung chương trình ngoại ngữ sao cho linh hoạt và hiệu quả.

Các cơ quan, khoa, đơn vị ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn cần phải duy trì nghiêm kế hoạch hoạt động chuyên môn có liên quan đến chuyển đổi số và dạy học ngoại ngữ; tạo môi trường thực hành các kỹ năng số, thực hành kỹ năng ngoại ngữ thường xuyên cả không gian bên trong và không gian bên ngoài Nhà trường; thí điểm, triển khai nhân rộng một số mô hình hoạt động ngoại khóa có sự kết hợp giữa công nghệ và ngoại ngữ một cách hiệu quả ở các cơ quan, khoa, đơn vị; xây dựng môi trường tâm lý, tinh thần, tạo ra bầu không khí tích cực trong sinh hoạt, học tập và công tác; thường xuyên cập nhật những phát triển mới về công nghệ; mở các lớp bồi dưỡng về công nghệ thông tin, ngoại ngữ tại chức ngoài giờ cho cán bộ, giảng viên phù hợp với đặc thù công tác của các đối tượng và chủ động mở rộng giao lưu học tập, trao đổi với các cơ sở giáo dục trong và ngoài Quân đội.

2.3.4. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị và học liệu số đồng bộ, hiện đại

Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin có vai trò rất quan trọng, là nền tảng để triển khai các phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, đặc biệt là trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn. Đối với nội dung ngoại ngữ nếu như cơ sở hạ tầng được đảm bảo, các phương tiện dạy học hiện đại được khai thác tối ưu sẽ mang lại hiệu quả trên nhiều phương diện.

Quan tâm xây dựng môi trường vật chất phục vụ cho dạy học ngoại ngữ; thường xuyên bảo quản và nâng cấp cơ sở vật chất hiện có, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất mới theo hướng hiện đại; quan tâm đầu tư, xây dựng và sử dụng hiệu quả mô hình học cụ, phim huấn luyện bằng ngoại ngữ; đẩy nhanh tiến trình số hóa học liệu, đặc biệt là hệ thống bài giảng và các tài liệu mới cập nhật trên hệ thống mạng nội bộ; tăng cường đầu tư tài chính, công sức, trí tuệ cho xây dựng trung tâm học liệu công nghệ thông tin và ngoại ngữ hiện đại; tăng cường ứng dụng công nghệ, phương tiện hiện đại trong công tác quản lý giáo dục, đào tạo và trong dạy học ngoại ngữ.

2.3.5. Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các phần mềm dạy học ngoại ngữ

Công tác nghiên cứu khoa học và sự hợp tác trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao các sản phẩm khoa học là cơ sở, nền tảng, mang tính quyết định cho việc thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn .

Nhà trường thực hiện duy trì có nền nếp, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; tập trung ưu tiên nhiều hơn nữa cho các đề tài, cải tiến, sáng kiến, xây dựng các phần mềm dạy học ngoại ngữ; chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu; rà soát và quy hoạch các phần mềm ứng dụng trong công tác nghiên cứu khoa học và trong dạy học; chủ động tham mưu, đề xuất các nội dung nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng các thành tựu công nghệ mới gắn với đặc điểm dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn; phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ, khả năng và kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học ở các cơ quan, khoa, đơn vị; động viên, khuyến khích sự tham gia nghiên cứu các chuyên đề, sáng kiến có liên quan đến chuyển đổi số trong học tập ngoại ngữ đối với đội ngũ học viên ở các đơn vị. Nhà trường cần có chế độ, chính sách thỏa đáng cho các sản phẩm khoa học được triển khai ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn dạy học ngoại ngữ ở Nhà trường.

Chủ động mở rộng giao lưu, hợp tác trong nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng công nghệ trong giáo dục, đào tạo và trong dạy học ngoại ngữ với các cơ quan, đơn vị thông qua các hội thảo, hội nghị chuyên đề; phối hợp tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu giữa Trường Đại học Trần Quốc Tuấn với các viện nghiên cứu, các cơ sở giáo dục trong và ngoài Quân đội;

2.3.6. Triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn an ninh

Trong thực tế gắn liền với chuyển đổi số là yêu cầu về an ninh thông tin để quản trị rủi ro an toàn thông tin mạng và quản trị rủi ro an toàn số. Tầm quan trọng của công tác bảo đảm an ninh thông tin là yêu cầu mang tính bắt buộc, giữ vai trò then chốt và luôn được khẳng định là nhiệm vụ cấp thiết trong tiến trình chuyển đổi số.

Cấp uỷ, chỉ huy các cấp phải thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức cho các chủ thể về yêu cầu đảm bảo an toàn an ninh là trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân tham gia các hoạt động trong môi trường số, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên và nhân viên các phòng máy, phòng học chuyên dùng cho ngoại ngữ. Khai thác sử dụng an toàn, có hiệu quả mạng LAN nội bộ của Nhà trường và mạng quân sự của Bộ Quốc phòng; sử dụng các phần mềm bảo mật, phần mềm diệt vi rút có bản quyền, cài đặt mật khẩu mạnh, kích hoạt tường lửa tích hợp sẵn trên hệ điều hành khi khai thác và sử dụng các cơ sở dữ liệu chung hoặc tham gia trực tuyến; xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy định bảo đảm an toàn an ninh phù hợp với các hoạt động của Trường Đại học Trần Quốc Tuấn; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc bảo mật dữ liệu trong tất cả các cơ quan, khoa, đơn vị; chủ động trong ứng cứu và xử lý sự cố an toàn an ninh, kịp thời báo cáo sự cố theo phân cấp.

Những nội dung, giải pháp đã được đề xuất ở trên giúp cho việc đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ứng dụng công nghệ số trong dạy học nói chung và nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ nói riêng ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ Quân đội trong tình hình mới.

3. Kết luận

Quán triệt và triển khai thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, trong những năm qua Trường Đại học Trần Quốc Tuấn đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm cập nhật và khai thác triệt để những thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong dạy học, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Vấn đề thúc đẩy chuyển đổi số trong dạy học ngoại ngữ ở Trường Đại học Trần Quốc Tuấn vừa là nội dung, vừa là giải pháp quan trọng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy học của ngoại ngữ của Nhà trường. Các giải pháp được đề xuất là cơ sở khoa học giúp Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các cơ quan khoa, đơn vị của Trường Đại học Trần Quốc Tuấn chỉ đạo và tiến hành các hoạt động đổi mới tổng thể và toàn diện quá trình dạy học ngoại ngữ trên cơ sở ứng dụng công nghệ số phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Các nhà trường khác trong Quân đội có thể nghiên cứu, tham khảo và vận dụng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn của của mỗi trường.

Tài liệu Tham khảo

[1]. Quân ủy Trung ương (2022) Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 về “Đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới”, Hà Nội, (tr. 10).

[2]. Bộ Quốc phòng (2016), Chỉ thị số 89/CT-BQP, ngày 09/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường Quân đội, Hà Nội, (tr. 2).

[3]. Trường Sĩ quan Lục quân 1 (2023), Kế hoạch số 2499/KH-LQ, ngày 02/6/2023 của Trường Sĩ quan Lục quân 1 về “Chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục, đào tạo giai đoạn 2023 - 2025, định hướng đến năm 2030”, Tài liệu lưu hành nội bộ, (tr. 5).

[4]. Đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân 1 (2017), Nghị quyết chuyên đề số 39-NQ/ĐU, ngày 09/5/2017 về lãnh đạo nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ đến năm 2020 và những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong tình hình mới, Tài liệu lưu hành nội bộ, (tr. 4).

[5]. Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Tin học hóa, Cẩm nang Chuyển đổi số: (https://dx.mic.gov.vn , truy cập 14h46 ngày 17 tháng 10 năm 2023).

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.