CHUYỂN ĐỔI SỐ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRÊN HÀNH TRÌNH ĐI VÀO KỶ NGUYÊN SỐ (Một ý tưởng và cũng là một kiến nghị với Bộ GD và ĐT)

06:00 | 08/04/2026
GS.TS Phạm Tất Dong 1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo nghề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (1/2026) đặt ra nhiều yêu cầu quan trọng đối với công tác đào tạo nghề, hướng đến xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, đẩy mạnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Có những yêu cầu sau: - Đột phá chất lượng đào tạo và gắn kết thị trường. Đào tạo đáp ứ

GS.TS Phạm Tất Dong

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo nghề

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (1/2026) đặt ra nhiều yêu cầu quan trọng đối với công tác đào tạo nghề, hướng đến xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, đẩy mạnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên tri thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Có những yêu cầu sau:

- Đột phá chất lượng đào tạo và gắn kết thị trường.

Đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực của thị trường lao động theo xu hướng phục vụ nền sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng. Gắn kết đào tạo nghề với nghiên cứu khoa học và công nghệ, bám sát xu thế phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thế giới.

- Phát triển nhân lực chất lượng cao và trọng dụng tài năng xuất phát từ đào tạo nghề, đặc biệt là nghề trong lĩnh vực trọng điểm.

Tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, xuất khẩu. Đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực có năng lực tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.

- Đổi mới triệt để nội dung và phương pháp đào tạo nghề.

Tăng cường kiến thức, kỹ năng nghề hiện đại. Nâng cao năng lực số. Phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo. Tăng cường trải nghiệm.

- Hội nhập quốc tế và hiện đại hóa.

Quốc tế hóa và hiện đại hóa các cơ sở đào tạo nghề. Đẩy mạnh dạy ngoại ngữ, coi tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai trong đào tạo nghề.

- Nâng cao năng lực và đạo đức của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp.

Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp có đủ tài năng và đức độ để đưa việc đào tạo nghề đạt chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục nghề.

2. Những vấn đề mà chủ trương đổi mới giáo dục nghề nghiệp phải tính đến trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIV (2026 - 2031)

Có những vấn đề sau đây làm bối cảnh cho sự đổi mới giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nhiệm kỳ (2026 - 2031).

2.1. Chuyển giáo dục nghề nghiệp từ sự quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Việc chuyển giao quyền lực quản lý này không đơn thuần là việc bộ máy đào tạo nghề được đặt dưới sự điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo với toàn bộ cơ chế vận hành của nó đã từng tồn tại khi còn thuộc về Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hơn nữa, nó không là một dấu cộng đơn giản trong bộ máy điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Minh họa một cách thô thiển, việc chuyển đổi giáo dục nghề nghiệp sang Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý không chỉ đơn thuần là một “kĩ thuật ghép cành” (Grafting) trong nông nghiệp thường làm: Cành được ghép vẫn song song tồn tại với cây gốc (Rootstock hay Grafting stock). Nói như vậy có nghĩa là, giáo dục nghề nghiệp sẽ phải là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống giáo dục quốc dân, có mối quan hệ chặt chẽ, liên thông, hỗ trợ... với các lĩnh vực khác, nhất là với giáo dục đại học.

40 năm trước, năm 1986, UNESCO đã công bố một quan niệm về giáo dục mà giờ đây nó đang được thể hiện:

“Xóa bỏ hàng rào giả tạo và lỗi thời giữa các ngành giáo dục, giữa các cấp, bậc đại học, giữa giáo dục chính quy với không chính quy; Xóa bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa giáo dục phổ thông, giáo dục khoa học kĩ thuật và chuyên nghiệp”.

Trước đây, tôi coi tuyên bố trên là một tiên đoán; hiện nay, đối với tôi, đó là một nguyên tắc (nếu không nói là một triết lý trong đào tạo con người).

2.2. Trong xã hội số, giáo dục nghề nghiệp tập trung đào tạo những lao động tri thức (Knowledge worker).

Mô hình đào tạo của giáo dục nghề nghiệp trong xã hội số đã khác xa với mô hình đào tạo thợ trong xã hội công nghiệp. Nếu như trong xã hội công nghiệp, người thợ/công nhân làm việc với máy sản xuất độc lập hoặc những lao động chân tay thì trong hệ thống sản xuất số, họ làm việc theo hệ thống tích hợp các công nghệ số với nhiều loại hình thợ/công nhân khác nhau.

Dưới đây là bảng nói lên sự phân biệt này:

Xã hội công nghiệp

Xã hội số

Mục tiêu đào tạo

Thợ/công nhân đứng máy độc lập hoặc lao động kỹ thuật đơn giản

Thợ/công nhân trong hệ thống sản xuất tích hợp số.

Mô hình đào tạo

- Thợ/công nhân đứng máy (workers)

- Lao động với kỹ thuật đơn giản (Laborers)

- Thợ/công nhân vận hành (Opterators).

- Kỹ thuật viên (Technican).

- Thợ/công nhân tri thức (Knowledge workers)

- Người lao động trên nền tảng (Platform workers)

Môi trường lao động

Gara nhỏ, xưởng sản xuất truyền thống

Nhà máy thông minh, dây chuyền tự động thông minh

Thiết bị sản xuất

Máy công cụ riêng lẻ, thiết bị cầm tay

Robot, dây chuyền đồng bộ IoT

Khắc phục sự cố

Kinh nghiệm sửa chữa trực tiếp

Chẩn đoán qua phần mềm, tư duy hệ thống

2.3. Cấu trúc nhân sự của nhân lực chất lượng cao trong tổ chức (đơn vị sản xuất, kinh doanh).

Trong đơn vị sản xuất chuyển đổi số, nhân sự của một tập thể (nhóm) lao động có nhiều loại hình khác nhau, bao gồm:

a. Nhóm chuyên gia công nghệ số.

- Nhà phát triển phần mềm (Software Developer).

- Chuyên gia an ninh mạng (Cybersecurity Specialist, Cybersecurity expert).

- Kỹ sư đám mây (Cloud Engineer, Cloud Computing Engineer).

- Nhà khoa học dữ liệu (Data Scientist).

- Chuyên gia trí tuệ nhân tạo và máy học (AI và Learning Machine expert).

b. Nhóm hỗ trợ chuyển đổi số.

- Chuyên gia xây dựng lộ trình, chuyển đổi số của doanh nghiệp (Digital Transformation Roadmap Specialist).

- Cán bộ quản lý dự án công nghệ (Technology Project Manager).

- Nhà thiết kế trải nghiệm người dùng (User Experience Disigner - UX Disigner/UI Disigner).

c. Nhóm vận hành và duy trì hệ thống.

- Kỹ sư hệ thống (System Engineer).

- Chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật (Technical Support Specialist/Engineer).

d. Những công nhân tri thức.

Các loại thợ (công nhân kỹ thuật) trực tiếp làm ra sản phẩm trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác nhau trên các vị trí việc làm khác nhau (Knowledge workers).

e. Cán bộ quản lý nguồn nhân lực.

Cán bộ quản lý nguồn nhân lực có nhiều loại với những chức năng khác nhau như quản lý về chiến lược (HR Director/Manager), hành chính (HR Admin), tuyển dụng (Recruiter), đào tạo (Học tập và phát triển - Learning & Development), chuyên viên tiền lương và phúc lợi.

Như vậy, khi nói đến nhân lực là phải hiểu cấu trúc nhân sự của tập hợp những người lao động trong một cơ sở sản xuất hay một tổ chức công tác. Chất lượng cao của nhân lực thể hiện ở sự tổng hòa các năng lực của tập hợp này trước một công việc, một sự nghiệp nhất định.

Với cách hiểu về mục tiêu đào tạo của hệ thống dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã chuyển về cho Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, hệ thống này chỉ có chức năng đào tạo công nhân và nhân viên kĩ thuật là chính (hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề), với việc đào tạo công nhân có tay nghề bậc 5 là cao nhất. Do thiếu một số kiến thức phổ thông cần thiết, những người tốt nghiệp trung cấp nghề không có cơ hội theo học đại học.

Những người tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề sẽ đạt tay nghề bậc 5, nếu có nhu cầu liên thông học lên đại học thì họ sẽ có đủ điều kiện. Song, hệ trường cao đẳng nghề lại không đủ năng lực đào tạo rất nhiều nghề mà trong mục 3.I đã đề cập. Với tình trạng đó yêu cầu phổ cập giáo dục bậc trung học cũng như yêu cầu đào tạo nghề hiện đại mà chỉ có thể thực hiện ở trường đại học sẽ mặc nhiên không được phụ huynh và học sinh đón nhận cả trường trung cấp nghề lẫn cao đẳng nghề hiện nay.

3. Những yêu cầu đặt ra với giáo dục nghề nghiệp trong tham gia cách mạng công nghiệp 4.0 và sứ mệnh trong kỷ duyên số

Đi vào kỷ nguyên số, tiếp cận và tham gia vào cách mạng công nghiệp 4.0. Những yêu cầu mà nền kinh tế số đặt ra cho công việc đào tạo nghề gồm:

3.1. Đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao

Quảng cáo

- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi rất nhiều về cơ cấu lao động. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi rất nhiều về kỹ năng, đòi hỏi người lao động phải thích ứng nhanh với sự thay đổi này. Nhiều nghề mới xuất hiện, đòi hỏi người lao động học hỏi thêm để có năng lực chuyển đổi nghề, tránh rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp.

- Xây dựng lại chương trình đào tạo nghề, đổi mới phương pháp đào tạo, hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao để làm việc trong hệ thống sản xuất sử dụng các công nghệ như Trí tuệ nhân tạo, Dữ liệu lớn, Chuỗi khối, điện toán đám mây, In 3D, robot nghệ thông minh...

3.2. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ số

- Trong hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ cần nhanh chóng nâng cao trình độ về công nghệ số để bảo đảm quy trình đào tạo ứng dụng các công nghệ số cần thiết.

- Việc ứng dụng công nghệ số trong đào tạo nghề phải nhanh chóng giúp người học làm quen với hệ thống sản xuất tự động và dây chuyền sản xuất thông minh.

- Giảng dạy về công nghệ số phải được coi là nền tảng để giúp học viên có thêm những kỹ năng cần cho việc chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng trong sản xuất trên mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân.

3.3. Nâng cao cao năng lực cạnh tranh và thích ứng

- Sự cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường trong nước và thế giới phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hiện đại trong đó. Sự kết tinh tri thức mới trong sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào những công nghệ cao.

- Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, việc đào tạo nghề nhất thiết phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Người lao động phải được rèn luyện thường xuyên để có được tư duy sáng tạo nhạy bén và những kỹ năng số luôn được đổi mới.

- Cơ sở đào tạo nghề phải tổ chức theo mô hình “Nhà trường - doanh nghiệp” (Mô hình đào tạo kép), chú trọng năng lực thực hành thông qua các hình thức đào tạo trải nghiệm thay vì đào tạo chạy theo lý thuyết.

- Cùng với việc chăm lo cho người học những kỹ năng về chuyên môn -nghiệp vụ (kỹ năng cứng), phải có chương trình đào tạo những kỹ năng mềm như kỹ năng xanh, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng hợp tác.

3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế

Để hàng hóa Việt Nam vươn nhanh ra thế giới bằng năng lực cạnh tranh, cần thấy rằng, đang có nhiều cơ hội cho kinh tế nước phát triển nhờ các Hiệp định Thương mại tự do, qua đó có thể thu hút dòng vốn đầu tư từ bên ngoài và tham gia sân chơi sâu hơn vào mạng lưới sản xuất khu vực. Chính vì vậy, việc đào tạo nghề cần phải có sự giúp đỡ của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự hợp tác quốc tế có thể mang lại nhiều điều cần thiết như kinh nghiệm đào tạo nghề, chương trình đào tạo nghề, xu thế phát triển nghề và việc xây dựng nhân lực chất lượng cao, trao đổi cán bộ giảng dạy và đào tạo nghề, tranh thủ vốn đầu tư để xây dựng các cơ sở dạy nghề hiện đại.

4. Kiến nghị về một số giải pháp tổ chức lại giáo dục nghề nghiệp

Với những vấn đề chúng tôi đặt ra trên đây, cần có những giải pháp cụ thể để hiện thực hóa các ý tưởng đó. Xin đề xuất mấy giải pháp:

4.1 Xếp sắp lại cơ quan quản lý giáo dục nghề nghiệp hiện tại ở Bộ Giáo dục và Đào tạo

Sau khi chức năng giáo dục nghề nghiệp từ Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chuyển sang Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên được thành lập. Với cách hiểu của tôi, đây là mảnh ghép 2 tổ chức quản lý rất khác nhau về chức năng và nhiệm vụ, nói nôm na là “đồng sàng dị mộng”.

Giáo dục nghề nghiệp (Vocational Education) có sứ mệnh đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, tay nghề cao cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Hệ thống này giúp người học phát triển toàn diện về đạo đức, kỹ năng nghề, lối sống hiện đại lành mạnh, đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế số khi quốc gia đi vào chương trình chuyển đổi số và phát triển trong kỷ nguyên số.

Giáo dục thường xuyên (Continuing Education) là chương trình học tập dành cho người lớn nhằm cập nhật kỹ năng, kiến thức sau giáo dục chính quy. Theo tôi hiểu, lâu nay ta hiểu không chính xác về khái niệm “Giáo dục thường xuyên”, coi nó là một ngành học, thực chất nó là chính sách quốc gia về giáo dục, nhằm bảo đảm con người được học tập thường xuyên liên tục từ lọt lòng đến khi qua đời. Đáng ra chúng ta phải sửa thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên” bằng thuật ngữ “Giáo dục người lớn” (Adult Education).

Giáo dục người lớn là một ngành chuyên môn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm quản lý. Nhiệm vụ này không thể chia sẻ cho các bộ khác, càng không phải là nhiệm vụ của một tổ chức xã hội.

Giáo dục người lớn có sứ mệnh tạo cơ hội học tập suốt đời, giúp người lớn cập nhật kiến thức, kỹ năng mới để nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng việc làm (trong nghề), giúp cho người lớn thích ứng ứng với những thay đổi của công nghệ,tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi nghề nghiệp.

(Giáo dục người lớn tạo nhân lực tại chỗ chất lượng cao, còn giáo dục thế hệ trẻ trong hệ thống đào tạo K.12 và Đại học thì tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước).

Với cách hiểu của tôi, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo giải quyết sự bất hợp lý trên đây như sau:

- Đưa giáo dục nghề nghiệp vào sự quản lý của Vụ Giáo dục đại học (vì giáo dục đại học và giáo dục nghề đều là giáo dục chuyên nghiệp) có thể đặt tên lại là: “Vụ giáo dục đại học và chuyên nghiệp”.

- Giữ nguyên Vụ giáo dục thường xuyên như cũ về phương diện tổ chức, đặt tên là “Vụ giáo dục người lớn”.

4.2. Hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay cần được xây dựng theo một cấu trúc hợp lý

Hệ giáo dục học theo hình thức chính quy dành cho thế hệ trẻ (bao gồm cả thanh niên học nghề) và Hệ giáo dục học theo hình thức không chính quy dành cho người lớn.

Trong Hệ thống giáo dục chính quy có giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông (gồm tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông). Không nên ghép cấu trúc sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề vào cấu trúc giáo dục phổ thông. Việc ghép như hiện nay sẽ không được dân hưởng ứng và hiệu quả là nó sẽ không phát triển. Lý do cơ bản ở đây là nhà nước không chủ trương phổ cập giáo dục trung cấp nghề, cho nên nếu học xong trung cấp nghề rồi mới học tiếp để phổ cập giáo dục phổ thông thì sẽ giống như phải thực hiện một “thao tác thừa” rất không hợp lý.

Tôi cho rằng, trong hệ giáo dục trung học phổ thông nên có 2 loại trường: Trường Trung học phổ thông cơ bản và trường Trung học phổ thông kỹ thuật. Loại hình thứ nhất hướng học sinh tốt nghiệp theo hệ đại học nghiên cứu; Loại hình thứ hai dành cho học sinh bộc lộ tài năng về kỹ thuật và công nghệ, có triển vọng thành những chuyên gia, những tài năng về phát triển công nghệ và kỹ thuật.

Nếu thực hiện cách xây dựng hệ trung học phổ thông như vậy thì với học sinh trung học phổ thông, ta sẽ không “phân luồng” (một cách gần như hoàn toàn thất bại từ trước đến nay) mà tiến hành hướng học (tiếng Anh: Educational guidance; tiếng Pháp: Orientation scolaire), hướng dẫn học sinh học xong trung học cơ sở chọn trường trung học phổ thông kỹ thuật nếu có năng lực trội về khoa học kỹ thuật hoặc chọn trường Trung học phổ thông cơ bản nếu giỏi nhiều môn khoa học xã hội, nhân văn. Đối với học sinh trung học phổ thông, nhà trường sẽ hướng nghiệp, hướng dẫn các em chọn trường đại học.

4.3. Tiến hành việc học tập suốt đời trong đội ngũ lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất... theo tinh thần “Bình dân học vụ số”

Hơn ai hết, những lao động kỹ thuật phải cập nhật kịp thời (By day learning) những kiến thức và kỹ năng mới, bởi với sự tác động của trí tuệ nhân tạo và nhiều công nghệ mới khác, vòng đời của công nghệ sản xuất sẽ rút ngắn nhanh chóng. Không học nhanh và kịp thời sẽ bị gạt ra khỏi hệ thống sản xuất hiện đại.

Các tổ chức sản xuất phải đưa học tập thường xuyên vào đơn vị của mình, tạo nên vốn tri thức của tổ chức và phải coi xây dựng các tổ chức học tập (Learning Organizations) như một yêu cầu bắt buộc trong doanh nghiệp và các tập đoàn sản xuất.

4.4. Thúc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo nghề với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Công việc này sẽ mang lại những lợi ích lớn sau đây:

a. Nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế thông qua việc tiếp cận các chương trình, giáo trình và nguồn học liệu phong phú và bổ ích. Nên ưu tiên thiết lập quan hệ hợp tác với Đức, Nhật, Singapore... những quốc gia có nhiều kinh nghiệm tiên tiến về lĩnh vực này.

b. Thông qua hợp tác quốc tế, nhanh chóng nâng cao trình độ tay nghề của giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.

c. Sinh viên học nghề sẽ có nhiều cơ hội rèn luyện kỹ năng nghề, nâng cao trình độ ngoại ngữ, có nhiều điều kiện để rèn luyện về năng lực và phẩm chất thành “Công dân toàn cầu”.

d. Thu hút được nhiều dự án quốc tế để đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại từ các nguồn tài chính bên ngoài.

4.5. Xây dựng lại Thể chế giáo dục nghề nghiệp

Xây dựng lại Thể chế giáo dục nghề nghiệp (Vocational Training Institution) theo đường lối giáo dục của Đảng đã được ghi vào Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết của Bộ Chính trị số 71-NQ/TW (22/8/2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Trong Nghị quyết 71-NQ/TW, về mục tiêu phát triển đến năm 2035 có sự khẳng định như sau:

“Hệ thống giáo dục và đào tạo tiếp tục được hiện đại hóa, có bước tiến mạnh, vững chắc về tiếp cận, công bằng và chất lượng. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông (tôi tự tô đậm mệnh đề này) và tương đương”.

Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết 71-NQ/TW có những ý chỉ đạo cụ thể như sau:

“Phân cấp mạnh quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp về chính quyền địa phương”.

“Tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là đào tạo kỹ năng nghề trong những lĩnh vực công nghệ cao”.

“Đầu tư hiện đại cho một số trường cao đẳng chất lượng cao đẳng chuẩn quốc tế”.

Với yêu cầu sắp xếp lại các tổ chức một cách tinh và gọn, căn cứ vào các ý kiến chỉ đạo trên đây chúng tôi đề xuất một cách làm như sau:

- Những trường sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề sẽ giao cho chính quyền địa phương quản lý.

- Một số trường trung cấp nghề (nếu cần) có thể chuyển thành trường trung học phổ thông kỹ thuật để thực hiện chủ trương Phổ cập giáo dục trong Trung học phổ thông. Loại hình trường này hướng học sinh học các trường đại học đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật.

- Những trường cao đẳng nghề được đầu tư để nâng cấp thì tốt nhất là nâng nâng lên thành trường đại học ở địa phương hoặc cho nhập vào trường đại học chuyên ngành ở Trung ương.

- Theo cách này, Bộ Giáo dục không cần có Cục giáo dục nghề nghiệp. Trong trường hợp không có Cục này nữa thì giáo dục thường xuyên trở lại thành vụ như trước đây và gọi là Vụ giáo dục người lớn.

Như thế thì việc sửa đổi Luật giáo dục lại phải tiếp tục.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.