BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO SĨ QUAN CHỈ HUY - THAM MƯU CẤP PHÂN ĐỘI HIỆN NAY

06:22 | 21/05/2026
Đinh Văn Đăng Trường Sĩ quan Pháo binh Tóm tắt: Trước yêu cầu đổi mới giáo dục quân sự theo hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội trở thành nhiệm vụ cấp thiết trong các nhà trường quân đội hiện nay. Bài viết phân tích sâu sắc cơ sở lý luận, thực tiễn và những thách thức đặt ra, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan trẻ

Đinh Văn Đăng

Trường Sĩ quan Pháo binh

Tóm tắt: Trước yêu cầu đổi mới giáo dục quân sự theo hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội trở thành nhiệm vụ cấp thiết trong các nhà trường quân đội hiện nay. Bài viết phân tích sâu sắc cơ sở lý luận, thực tiễn và những thách thức đặt ra, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ sĩ quan trẻ vững vàng về chuyên môn, linh hoạt trong tư duy và hiệu quả trong tổ chức, chỉ huy đơn vị trong tình hình mới.

Từ khóa: Kỹ năng mềm; Đổi mới giáo dục quân sự; đào tạo sĩ quan cấp phân đội; năng lực chỉ huy; kỹ năng tham mưu.

Nhận ngày: 12/5/2026; Biên tập: 12/5/2026; Phản biện: 15/5/2026; Duyẹt đăng: 17/52026.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, chiến tranh hiện đại không chỉ đặt ra những yêu cầu cao về trình độ kỹ thuật và năng lực tác chiến mà còn đòi hỏi cán bộ chỉ huy ở các cấp, đặc biệt là cấp phân đội, phải có khả năng thích ứng linh hoạt, xử lý tình huống nhanh nhạy và phối hợp hiệu quả với các lực lượng. Điều này không thể đạt được nếu sĩ quan tương lai chỉ được trang bị kiến thức chuyên môn quân sự một cách thuần túy mà thiếu đi nền tảng của các kỹ năng mềm. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên trong các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội đang trở thành một yêu cầu thiết yếu, là yếu tố góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng đội ngũ sĩ quan chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Kỹ năng mềm là tập hợp các năng lực cá nhân và xã hội giúp con người giao tiếp hiệu quả, làm việc nhóm, lãnh đạo, giải quyết vấn đề, tư duy phản biện và thích ứng với thay đổi. Trong môi trường quân sự đặc thù, các kỹ năng này có vai trò đặc biệt quan trọng trong chỉ huy chiến đấu, quản lý bộ đội, huấn luyện, cũng như trong công tác dân vận, tuyên truyền và hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn đào tạo tại các nhà trường quân đội cho thấy, việc hình thành và phát triển kỹ năng mềm cho học viên hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn, chưa được tổ chức một cách hệ thống, bài bản và chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết. Bài viết này tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng kỹ năng mềm, đánh giá hiện trạng triển khai tại các nhà trường và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển toàn diện năng lực của đội ngũ sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội trong tương lai.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng mềm trong đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu

Kỹ năng mềm là một bộ phận quan trọng cấu thành nên năng lực toàn diện của con người trong thời đại mới. Không giống với kỹ năng cứng vốn được hiểu là những tri thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cụ thể, kỹ năng mềm mang tính liên ngành, liên cá nhân và có vai trò hỗ trợ, kết nối, điều hòa, bổ sung cho hiệu quả vận dụng kỹ năng cứng trong các hoạt động thực tiễn. Trong môi trường quân sự, đặc biệt là trong công tác đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội, kỹ năng mềm không chỉ cần thiết mà còn là yếu tố mang tính nền tảng nhằm hình thành và phát triển tư duy linh hoạt, khả năng lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, truyền đạt mệnh lệnh và phối hợp hiệp đồng hiệu quả.

Từ góc độ lý luận, kỹ năng mềm được hiểu là tổng hợp những năng lực phi chuyên môn giúp cá nhân tương tác hiệu quả với người khác và với môi trường xung quanh. Bao gồm nhiều yếu tố như kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, lãnh đạo, thích ứng với thay đổi và kiểm soát cảm xúc. Theo nhiều nghiên cứu quốc tế, trong xã hội hiện đại, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi khả năng tổ chức, lãnh đạo và tác động xã hội cao như quân sự, kỹ năng mềm chiếm đến hơn 50% yếu tố quyết định thành công nghề nghiệp. Với đối tượng là học viên các trường sĩ quan, những kỹ năng này là nền tảng quan trọng giúp họ hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy khoa học, phong cách chỉ huy linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh với các tình huống thực tiễn.

Trong môi trường quân đội, kỹ năng mềm không chỉ đơn thuần là công cụ hỗ trợ giao tiếp mà còn thể hiện bản lĩnh chính trị, phẩm chất người cán bộ quân đội và là cơ sở để vận hành hiệu quả các mối quan hệ quân nhân với quân nhân, quân nhân với nhân dân, cấp trên với cấp dưới trong điều kiện đặc thù. Chẳng hạn, kỹ năng lãnh đạo giúp học viên thực hiện tốt nhiệm vụ tổ chức, quản lý và điều hành đơn vị trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Kỹ năng giao tiếp giúp sĩ quan thể hiện tính thuyết phục trong ban hành mệnh lệnh và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ. Kỹ năng làm việc nhóm hỗ trợ cho việc hiệp đồng tác chiến, phối hợp lực lượng một cách đồng bộ. Kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề giúp sĩ quan xử lý hiệu quả các tình huống bất ngờ, quyết đoán và linh hoạt trong chỉ huy thực tiễn.

Về mặt thực tiễn, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên các trường đào tạo sĩ quan đã được đề cập trong nhiều văn bản chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ sở đào tạo quân đội. Nội dung kỹ năng mềm đã được lồng ghép vào các hoạt động giảng dạy, huấn luyện, sinh hoạt đoàn đội, công tác chính trị tư tưởng và tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Một số trường đã chủ động triển khai học phần giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng chỉ huy cơ bản, thực hành diễn thuyết, tổ chức tọa đàm, hội thao, hội thi nhằm tạo môi trường cho học viên rèn luyện năng lực giao tiếp, lãnh đạo và xử lý tình huống.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc tổ chức bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên vẫn còn những hạn chế nhất định. Nhiều chương trình đào tạo chưa thực sự quan tâm đến việc tích hợp kỹ năng mềm một cách bài bản, chưa có giáo trình chuyên sâu hoặc hoạt động thực hành phù hợp. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo bài bản về phương pháp giảng dạy kỹ năng mềm, dẫn đến khó khăn trong tổ chức các hoạt động học tập tích cực và có chiều sâu. Bên cạnh đó, môi trường học tập đặc thù của quân đội với tính kỷ luật cao, khuôn khổ chặt chẽ đôi khi trở thành rào cản trong việc phát huy tính chủ động, sáng tạo - vốn là tiền đề để kỹ năng mềm được hình thành và phát triển.

Bối cảnh hiện nay đang đặt ra nhiều thách thức mới, trong đó có việc chuẩn hóa đội ngũ sĩ quan theo hướng hiện đại, toàn diện, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện. Kỹ năng mềm trở thành một nội dung không thể thiếu trong tiến trình đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, và là điều kiện bảo đảm để học viên có thể tiếp cận nhanh với thực tiễn, thực hiện tốt vai trò người cán bộ chỉ huy trong môi trường chiến đấu và phi chiến đấu ngày càng đa dạng.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy rằng việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội không chỉ là yêu cầu khách quan xuất phát từ sự phát triển của giáo dục quân sự hiện đại mà còn là nhu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn mới.

3. Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên hiện nay

Trong quá trình đào tạo học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội, các nhà trường quân đội đã nhận thức rõ vai trò của kỹ năng mềm đối với sự phát triển toàn diện của người sĩ quan trong điều kiện hiện nay. Việc lồng ghép và từng bước tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng mềm cho học viên đã và đang được quan tâm triển khai trong nhiều lĩnh vực như giảng dạy chính khóa, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt đoàn thể và công tác chính trị tư tưởng. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình tổ chức bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cả về nội dung, phương pháp và hiệu quả đạt được.

Trước hết, về nội dung đào tạo, hầu hết các nhà trường chưa có chương trình riêng hoặc khung nội dung chính thức dành cho việc rèn luyện kỹ năng mềm. Việc bồi dưỡng kỹ năng mềm chủ yếu được thực hiện thông qua lồng ghép vào các học phần chuyên ngành như công tác tham mưu huấn luyện, tổ chức quản lý bộ đội, công tác đảng, công tác chính trị, hoặc trong các hoạt động rèn luyện thể lực, huấn luyện dã ngoại và diễn tập. Tuy nhiên, cách tiếp cận này còn mang tính ngẫu nhiên, thiếu hệ thống và chưa đáp ứng được yêu cầu rèn luyện toàn diện về tư duy, thái độ và hành vi giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm hay giải quyết vấn đề trong điều kiện phức tạp.

Thứ hai, về phương pháp tổ chức rèn luyện kỹ năng mềm, phần lớn các hoạt động hiện nay vẫn mang tính hình thức, nặng về lý thuyết, chưa tạo được môi trường thực hành đa dạng và phong phú cho học viên. Các giờ học còn phụ thuộc nhiều vào lối truyền đạt một chiều, chưa khai thác được phương pháp học tập tích cực như học theo tình huống, học qua dự án, học theo mô hình mô phỏng chiến thuật hay phản biện nhóm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp nhận và phát triển kỹ năng mềm của học viên, vốn cần được rèn luyện thông qua trải nghiệm thực tiễn và tương tác xã hội.

Thứ ba, về đội ngũ giảng viên, mặc dù phần lớn giảng viên có trình độ chuyên môn tốt, giàu kinh nghiệm thực tiễn, song chưa được đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy và huấn luyện kỹ năng mềm. Nhiều cán bộ giảng dạy vẫn còn gặp khó khăn trong việc thiết kế hoạt động học tập tích cực, lúng túng trong đánh giá năng lực mềm của học viên. Tình trạng này khiến cho quá trình triển khai rèn luyện kỹ năng mềm trở nên kém hiệu quả và thiếu nhất quán giữa các đơn vị đào tạo.

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất và môi trường học tập chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kỹ năng mềm. Nhiều nhà trường chưa có các không gian học tập linh hoạt như phòng học tương tác, phòng kỹ năng, sân chơi tư duy hoặc các mô hình trải nghiệm giả lập. Các hoạt động ngoại khóa tuy đã được tổ chức nhưng còn mang tính phong trào, chưa có chiều sâu và thiếu định hướng rõ ràng gắn với mục tiêu rèn luyện kỹ năng cụ thể.

Cuối cùng, bản thân một bộ phận học viên chưa thực sự nhận thức đầy đủ vai trò và giá trị của kỹ năng mềm trong hành trình rèn luyện trở thành sĩ quan chính quy. Do quen với môi trường huấn luyện chặt chẽ, học tập theo khuôn mẫu nên nhiều học viên còn thiếu tính chủ động, ngại giao tiếp, ngại trình bày chính kiến và chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động đòi hỏi tư duy phản biện hoặc tinh thần hợp tác nhóm.

Từ thực trạng trên có thể thấy rằng, mặc dù đã có những chuyển biến nhất định trong việc đưa kỹ năng mềm vào quá trình đào tạo sĩ quan, song các nhà trường quân đội vẫn cần có những đổi mới đồng bộ, căn cơ và bài bản hơn nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện kỹ năng mềm, góp phần hình thành người sĩ quan trẻ toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay và thời gian tới.

4. Những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học công nghệ quân sự phát triển nhanh chóng, chiến tranh hiện đại có nhiều biến đổi khó lường, Quân đội nhân dân Việt Nam đang thực hiện lộ trình xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tiến tới hiện đại hóa toàn diện vào năm 2030. Để thực hiện thành công mục tiêu này, yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo sĩ quan, đặc biệt là đối với học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội, ngày càng cao hơn, toàn diện hơn. Một trong những yêu cầu cấp thiết là phải nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện kỹ năng mềm nhằm hình thành đội ngũ cán bộ trẻ vừa giỏi về chuyên môn, vừa linh hoạt, nhạy bén và bản lĩnh trong xử lý tình huống thực tiễn.

Trước hết, yêu cầu về đổi mới mô hình tác chiến và phương thức huấn luyện hiện đại hóa đòi hỏi cán bộ phân đội phải có khả năng giao tiếp nhanh, phối hợp hiệu quả, xử lý tình huống linh hoạt trong điều kiện chiến trường phi tuyến tính và liên quân binh chủng. Điều này không thể đạt được nếu học viên chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà không thành thạo các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản biện, quản lý thời gian và điều hành nhân sự.

Bên cạnh đó, đặc điểm của các nhiệm vụ phi chiến đấu ngày càng mở rộng như tham gia phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo hay bảo đảm an ninh mạng… cũng đòi hỏi sĩ quan trẻ phải có khả năng thích ứng nhanh, khả năng truyền đạt thông tin hiệu quả, khả năng thương thuyết, phối hợp và chia sẻ thông tin với các lực lượng dân sự hoặc quốc tế. Những năng lực này chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua quá trình rèn luyện kỹ năng mềm một cách bài bản, khoa học và gắn liền với thực tiễn.

Từ góc độ giáo dục, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học đặt ra thách thức lớn cho các nhà trường quân đội. Việc lấy học viên làm trung tâm, khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo và hợp tác nhóm trong học tập đòi hỏi phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giảng dạy, tổ chức hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập. Trong đó, kỹ năng mềm chính là một trong những cấu phần quan trọng của năng lực toàn diện mà các nhà trường cần hướng tới bồi dưỡng.

Một yêu cầu quan trọng khác đến từ đặc điểm tâm lý, nhận thức và thói quen học tập của thế hệ học viên sĩ quan hiện nay. Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội và xu hướng học tập mở, học viên có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức mới, nhưng đồng thời cũng dễ bị phân tán tư tưởng, hạn chế khả năng tương tác thực tế và thiếu kỹ năng làm việc tập thể. Vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm còn là yêu cầu xuất phát từ chính nội tại của quá trình hình thành nhân cách người sĩ quan trẻ trong bối cảnh xã hội có nhiều chuyển biến sâu sắc.

Cuối cùng, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan không chỉ nhằm phục vụ nhiệm vụ quốc phòng mà còn gắn liền với nhiệm vụ chính trị, đối ngoại quốc phòng và công tác dân vận trong tình hình mới. Sĩ quan trẻ phải là người có tư duy biện chứng, có khả năng diễn đạt mạch lạc, có phong cách làm việc khoa học và có khả năng truyền cảm hứng, lãnh đạo tập thể. Những yêu cầu này đều gắn chặt với các kỹ năng mềm cần được trang bị trong quá trình đào tạo tại các học viện, nhà trường quân đội.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm không còn là lựa chọn mang tính bổ trợ mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc và có tính chiến lược trong đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội hiện nay. Đó chính là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn, tinh thông về tổ chức và linh hoạt trong thực tiễn công tác.

5. Một số giải pháp bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội hiện nay

Một là, hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng tích hợp kỹ năng mềm

Một trong những giải pháp quan trọng và có tính nền tảng trong việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên chính là hoàn thiện chương trình đào tạo hiện hành theo hướng tích hợp nội dung phát triển kỹ năng mềm một cách có hệ thống, khoa học và phù hợp với đặc điểm của môi trường quân sự. Trên thực tế, nhiều chương trình đào tạo sĩ quan hiện nay vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức chuyên môn, trong khi các kỹ năng mềm mới chỉ được đề cập rải rác hoặc lồng ghép ở mức độ hạn chế. Điều này khiến cho học viên khó có điều kiện rèn luyện một cách chủ động và toàn diện.

Việc tích hợp kỹ năng mềm cần được thực hiện trên cả ba phương diện: mục tiêu, nội dung và phương pháp. Trong xác định mục tiêu đào tạo, bên cạnh năng lực chuyên môn quân sự, cần đặt ra yêu cầu cụ thể về các nhóm kỹ năng mềm cốt lõi như giao tiếp, lãnh đạo nhóm, quản lý thời gian, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, điều hành tình huống và khả năng thích ứng linh hoạt. Trong nội dung giảng dạy, cần xây dựng các chủ đề học phần, chuyên đề tích hợp hoặc các học phần độc lập liên quan đến kỹ năng mềm. Các học phần như “Nghệ thuật chỉ huy, điều hành phân đội”, “Kỹ năng xử lý tình huống thực tế”, hoặc “Giao tiếp quân sự trong môi trường liên quân” có thể là gợi ý phù hợp.

Quảng cáo

Để chương trình phát huy hiệu quả, cần tiến hành rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra nhằm bảo đảm học viên sau khi tốt nghiệp không chỉ đạt yêu cầu về kiến thức quân sự, chính trị mà còn đáp ứng được các tiêu chí về năng lực cá nhân và xã hội. Đồng thời, công tác thiết kế chương trình cần có sự tham khảo mô hình đào tạo sĩ quan hiện đại ở một số quốc gia có nền quốc phòng tiên tiến như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Israel để rút kinh nghiệm trong xây dựng các hoạt động tích hợp kỹ năng mềm phù hợp với đặc thù đào tạo quân sự của Việt Nam.

Hai là, đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá theo hướng phát triển kỹ năng mềm

Phương pháp giảng dạy đóng vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển kỹ năng mềm cho học viên. Trong điều kiện hiện nay, các nhà trường cần mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền thống thuyết giảng sang hướng phát triển năng lực người học, lấy học viên làm trung tâm và tăng cường tương tác hai chiều trong quá trình học tập. Đổi mới này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu tri thức mà còn tạo môi trường thuận lợi để học viên hình thành và phát triển các kỹ năng mềm một cách tự nhiên và hiệu quả.

Các phương pháp giảng dạy nên được đa dạng hóa, trong đó ưu tiên những phương pháp phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tư duy của học viên như học qua tình huống, học theo dự án, học qua mô phỏng chiến thuật, tổ chức hội thảo, phản biện nhóm, thi đua nhóm và học tập qua trải nghiệm thực tế. Thông qua các phương pháp này, học viên không chỉ được rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp, hợp tác, ra quyết định và phản ứng linh hoạt trước các tình huống bất ngờ.

Song song với đổi mới phương pháp giảng dạy, việc đánh giá kết quả học tập cũng cần được cải tiến theo hướng đánh giá quá trình và đánh giá năng lực thực tiễn thay vì chỉ đánh giá lý thuyết. Việc sử dụng các công cụ như hồ sơ học tập (portfolio), bản tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, phỏng vấn tình huống hoặc bảng tiêu chí kỹ năng sẽ giúp đánh giá được mức độ phát triển kỹ năng mềm của học viên một cách toàn diện và khách quan hơn.

Cuối cùng, cần chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên về kỹ năng sư phạm tích cực, kỹ năng hướng dẫn thực hành kỹ năng mềm, đồng thời khuyến khích cán bộ giảng dạy chủ động đổi mới cách tổ chức bài học nhằm tạo cảm hứng học tập và rèn luyện cho học viên.

Ba là, tổ chức hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm thực tế gắn với mục tiêu phát triển kỹ năng mềm

Các hoạt động ngoại khóa và thực tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường học tập linh hoạt, đa chiều và giàu tính tương tác, qua đó giúp học viên phát triển kỹ năng mềm một cách hiệu quả, tự nhiên và bền vững. Không giống với hoạt động học tập chính khóa vốn mang tính khuôn mẫu và có giới hạn nhất định, các hoạt động ngoại khóa cho phép học viên được tự do thể hiện cá nhân, hợp tác nhóm, giải quyết vấn đề thực tiễn và rèn luyện tinh thần trách nhiệm cũng như khả năng tự quản lý.

Các nhà trường cần xây dựng kế hoạch tổ chức ngoại khóa một cách có định hướng, khoa học và thường xuyên. Các hoạt động nên gắn liền với thực tiễn học tập và đời sống quân sự, tiêu biểu như: hội thi kỹ năng lãnh đạo phân đội, thi biện luận chính trị, diễn đàn thanh niên sĩ quan trẻ, mô phỏng diễn tập tình huống liên quân, tham gia hoạt động dân vận, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao với các đơn vị bạn. Những hoạt động này không chỉ giúp học viên rèn luyện khả năng thuyết trình, quản lý thời gian, làm việc nhóm mà còn hình thành tư duy tổ chức, điều hành và xử lý tình huống trong điều kiện thực tế.

Bên cạnh đó, việc tổ chức các khóa huấn luyện kỹ năng mềm ngắn hạn, các chương trình trải nghiệm ngoài học đường như công tác tại địa phương, làm nhiệm vụ chính trị xã hội, tiếp xúc với lực lượng dân sự và quốc tế cũng là những phương thức hiệu quả để học viên củng cố và mở rộng kỹ năng mềm đã được hình thành trong quá trình học tập tại nhà trường.

Để bảo đảm hiệu quả, cần có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong và ngoài quân đội để huy động nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức và đánh giá kết quả đạt được. Đồng thời, cần đưa kết quả tham gia hoạt động ngoại khóa vào tiêu chí đánh giá, xếp loại rèn luyện toàn diện của học viên nhằm nâng cao tính tự giác và động cơ phấn đấu.

Bốn là, nâng cao năng lực sư phạm và nhận thức của đội ngũ giảng viên về giáo dục kỹ năng mềm

Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức, hướng dẫn và định hướng quá trình rèn luyện kỹ năng mềm cho học viên. Nếu giảng viên chỉ tập trung truyền đạt kiến thức chuyên môn mà thiếu đi khả năng hướng dẫn rèn luyện các kỹ năng phi chuyên môn thì học viên sẽ khó có cơ hội hình thành và phát triển toàn diện năng lực cá nhân. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu nâng cao năng lực sư phạm của giảng viên, đặc biệt là năng lực tổ chức dạy học phát triển kỹ năng mềm, trở thành một đòi hỏi cấp thiết.

Trước hết, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên đề cho giảng viên về phương pháp giảng dạy tích cực, kỹ thuật thiết kế hoạt động học tích hợp kỹ năng mềm, phương pháp đánh giá kỹ năng mềm cũng như các mô hình giảng dạy hiện đại phù hợp với môi trường quân đội. Giảng viên cần được trang bị kiến thức cơ bản về tâm lý học, giao tiếp giáo dục, quản lý lớp học tương tác và thiết kế học liệu gắn với mục tiêu phát triển năng lực.

Tiếp theo, cần xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên chủ động nghiên cứu, đổi mới phương pháp dạy học, mạnh dạn áp dụng các mô hình giảng dạy tích cực như lớp học đảo ngược, lớp học mô phỏng, học theo nhóm, học qua dự án. Quá trình này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ ban giám hiệu, khoa chuyên môn và các bộ phận quản lý giáo dục nhằm tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, không gian, tài liệu và cơ sở vật chất.

Ngoài ra, đội ngũ giảng viên cần nêu gương trong việc thể hiện kỹ năng mềm trong thực tiễn giảng dạy và quản lý học viên. Phong cách giao tiếp thân thiện, tinh thần hợp tác, tư duy phản biện tích cực, khả năng truyền cảm hứng và thái độ công tâm, khách quan trong đánh giá sẽ trở thành những chuẩn mực hình mẫu giúp học viên học tập và noi theo trong quá trình rèn luyện. Qua đó, giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người tổ chức, huấn luyện và định hướng phát triển nhân cách cho học viên sĩ quan.

Năm là, tăng cường ứng dụng công nghệ và hợp tác trong giáo dục kỹ năng mềm

Trong thời đại chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc ứng dụng công nghệ vào giáo dục - đào tạo, đặc biệt trong lĩnh vực bồi dưỡng kỹ năng mềm, mang lại nhiều lợi ích vượt trội. Học viên có thể được tiếp cận với những mô hình học tập đa dạng, trực quan, giàu tính tương tác và phản hồi nhanh, từ đó nâng cao hiệu quả tiếp nhận kiến thức và rèn luyện năng lực thực tiễn. Vì vậy, các nhà trường quân đội cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại vào quá trình dạy học kỹ năng mềm một cách bài bản, linh hoạt và phù hợp với đặc thù quân sự.

Một trong những ứng dụng hiệu quả là sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến để tổ chức học theo chủ đề, học qua tình huống mô phỏng, xây dựng thư viện video tình huống, các khóa học kỹ năng ngắn hạn và tổ chức thảo luận trực tuyến. Những mô hình này giúp học viên có thể luyện tập kỹ năng giao tiếp, phản biện, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề trong không gian số, đồng thời tăng cường khả năng tự học và chủ động tiếp cận tri thức mới.

Bên cạnh đó, cần phát triển các phần mềm mô phỏng chiến thuật, chỉ huy tác chiến, quản lý đơn vị... có tích hợp các tình huống yêu cầu học viên vận dụng kỹ năng mềm để xử lý. Việc mô phỏng thực tế sẽ giúp học viên rèn luyện trong điều kiện gần giống với môi trường chiến đấu, từ đó nâng cao khả năng phản ứng, tư duy linh hoạt và ra quyết định chính xác.

Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác giữa các nhà trường quân đội với các cơ sở đào tạo kỹ năng mềm dân sự, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ giáo dục cũng là hướng đi cần thiết nhằm học hỏi kinh nghiệm, cập nhật xu hướng đào tạo hiện đại và chia sẻ nguồn lực. Hợp tác quốc tế cũng có thể mở rộng theo hướng tổ chức các hội thảo, chương trình trao đổi giảng viên, học viên để học hỏi mô hình giáo dục kỹ năng mềm của các nước có nền đào tạo sĩ quan tiên tiến.

Như vậy, với sự hỗ trợ của công nghệ và mở rộng hợp tác giáo dục, việc bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội sẽ ngày càng trở nên hiệu quả, phù hợp với yêu cầu đào tạo trong kỷ nguyên mới.

6. Kết luận

Bồi dưỡng kỹ năng mềm cho học viên các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy - tham mưu cấp phân đội là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Quân đội nhân dân Việt Nam đang thực hiện lộ trình hiện đại hóa toàn diện, xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị, tinh thông về quân sự, vững vàng về tổ chức và linh hoạt trong thực tiễn. Kỹ năng mềm không chỉ là công cụ hỗ trợ giao tiếp, điều hành và lãnh đạo mà còn là nền tảng để phát triển bản lĩnh chính trị, phong cách chỉ huy khoa học và khả năng thích ứng trong môi trường tác chiến đa dạng, phức tạp.

Thực tế cho thấy, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc đưa kỹ năng mềm vào chương trình đào tạo, song quá trình triển khai vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về nội dung, phương pháp, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất. Trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cần được đặt ở vị trí ưu tiên, gắn kết chặt chẽ với đổi mới phương pháp đào tạo và xây dựng chuẩn đầu ra.

Với những giải pháp đồng bộ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, các nhà trường quân đội sẽ từng bước hình thành đội ngũ sĩ quan trẻ có năng lực toàn diện, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.

[2]. Bộ Quốc phòng. (2019). Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Hà Nội.

[3]. Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu. (2020). Báo cáo tổng kết công tác giáo dục - đào tạo năm 2020 và phương hướng nhiệm vụ năm 2021. Hà Nội.

[4]. Trần Kiểm (Chủ biên). (2016). Tâm lý học quân sự. Nxb Quân đội Nhân dân.

[5]. Nguyễn Văn Hạnh (2020). Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường đại học trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Tạp chí Giáo dục, (490), tr. 12-15.

[6]. Lê Văn Hảo (2021). Bồi dưỡng kỹ năng mềm trong giáo dục quốc phòng và an ninh đối với sinh viên đại học hiện nay. Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, (3), tr. 45-48.

TRAINING SOFT SKILLS FOR STUDENTS OF COMMAND AND STAFF OFFICER TRAINING SCHOOLS - CURRENT LEVEL OF COMPANY COMMANDERS

Đinh Văn Đang

Artillery Officer College

Abstract: In response to the demand for reforming military education towards the comprehensive development of the qualities and capabilities of learners, the cultivation of soft skills for officer cadets in command and staff positions at the unit level has become an urgent task in current military schools. This article deeply analyzes the theoretical and practical foundations and the challenges posed, thereby proposing a system of feasible and sustainable solutions to enhance the quality of training for young officers who are solid in expertise, flexible in thinking, and effective in organizing and commanding units in the new situation.

Keywords: Soft skills development; command and staff officers; platoon-level officer training; development of qualities and competencies; military academies.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.