BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG ĐẨY MẠNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN KHU VỰC BIÊN GIỚI

21:54 | 07/05/2026
Nguyễn Trung Thanh Học viện Biên phòng Email: [email protected] Lê Hồng Thành Học viện Chính trị Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, hình thức và phương pháp triển khai. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc

Nguyễn Trung Thanh

Học viện Biên phòng

Email: [email protected]

Lê Hồng Thành

Học viện Chính trị

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện về nội dung, hình thức và phương pháp triển khai. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội Biên phòng đã tích cực ứng dụng công nghệ số vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận thông tin của Nhân dân vùng biên giới. Bài viết tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của Bộ đội Biên phòng thời gian qua; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới hiện nay.

Từ khóa: Bộ đội Biên phòng; chuyển đổi số; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; khu vực biên giới.

1. Mở đầu

Khu vực biên giới giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. Đây là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật còn hạn chế. Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới luôn được Đảng, Nhà nước, Quân đội và Bộ đội Biên phòng đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao nhận thức pháp luật, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên cương Tổ quốc. Hiện nay, quá trình chuyển đổi số quốc gia đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật theo hướng hiện đại, linh hoạt và hiệu quả hơn. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin pháp luật mà còn tạo điều kiện đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn biên giới. Trong bối cảnh đó, Bộ đội Biên phòng đã từng bước đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Thực trạng chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng

Những năm qua, quán triệt chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về chuyển đổi số quốc gia, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ biên giới, giúp chính quyền địa phương, đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; nhất là ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới. Các đơn vị biên phòng đã từng bước đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng kết hợp giữa hình thức truyền thống với các nền tảng số hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho quần chúng Nhân dân. Nhiều đơn vị Bộ đội Biên phòng đã chủ động xây dựng các trang thông tin điện tử, fanpage, nhóm mạng xã hội để tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến Nhân dân khu vực biên giới. Nội dung tuyên truyền được thiết kế đa dạng dưới dạng video clip, infographic, hình ảnh trực quan, tin bài ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc.

Trên cơ sở “ra mắt và triển khai thực hiện mô hình Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới1, Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã trực tiếp xuống từng thôn bản, hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, internet an toàn, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, học tập trên nền tảng số và tham gia thương mại điện tử, giúp người dân thay đổi tư duy, nâng cao dân trí, từng bước phát triển kinh tế số. các đồn biên phòng đã sử dụng hệ thống loa truyền thanh thông minh, ứng dụng phần mềm quản lý dữ liệu dân cư, thư viện điện tử pháp luật nhằm phục vụ hiệu quả công tác tuyên truyền tại cơ sở. Cùng với đó, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã tích cực phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai nhiều mô hình tuyên truyền pháp luật trên nền tảng số như: Tiếng loa Biên phòng điện tử; tổ tuyên truyền số cộng đồng; mỗi cán bộ, chiến sĩ là một tuyên truyền viên trên không gian mạng; Hòm thư điện tử tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm2. Thông qua các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, TikTok, nhiều nội dung tuyên truyền pháp luật liên quan đến Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia, Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh… được lan tỏa sâu rộng đến đông đảo quần chúng Nhân dân. Việc ứng dụng công nghệ số cũng góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý, lưu trữ và khai thác dữ liệu phục vụ tuyên truyền pháp luật.

Một số đơn vị đã xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về tình hình địa bàn, đặc điểm dân cư, nhu cầu tiếp cận thông tin pháp luật của Nhân dân nhằm phục vụ công tác tuyên truyền đúng trọng tâm, trọng điểm. Hoạt động hội nghị trực tuyến, tập huấn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến về pháp luật cũng được triển khai hiệu quả, tiết kiệm thời gian, kinh phí và nhân lực. Đặc biệt, trong thời gian xảy ra dịch bệnh Covid-19, việc ứng dụng nền tảng số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đã phát huy hiệu quả rõ nét. Các đơn vị Bộ đội Biên phòng duy trì thường xuyên hoạt động tuyên truyền trực tuyến, đăng tải thông tin cảnh báo, hướng dẫn quy định pháp luật về phòng, chống dịch bệnh, xuất nhập cảnh trái phép, góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân khu vực biên giới3. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ Bộ đội Biên phòng từng bước được bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng truyền thông trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng vẫn còn một số hạn chế nhất định. Hạ tầng công nghệ thông tin ở nhiều khu vực biên giới còn thiếu đồng bộ; chất lượng đường truyền internet chưa ổn định, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Một bộ phận người dân chưa có điều kiện tiếp cận thiết bị công nghệ số, trình độ sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế nên hiệu quả tiếp nhận thông tin pháp luật trên môi trường số chưa cao. Nội dung tuyên truyền số ở một số đơn vị còn đơn điệu, chưa thật sự hấp dẫn, thiếu tính tương tác và chưa phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng đa phương tiện trong tuyên truyền pháp luật còn ở mức sơ khai; “Một số cán bộ làm công tác tuyên truyền chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng số, kỹ năng truyền thông hiện đại nên còn lúng túng trong triển khai thực hiện4. Ngoài ra, công tác phối hợp giữa các lực lượng, các ngành trong xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ tuyên truyền pháp luật còn thiếu chặt chẽ; nguồn kinh phí đầu tư cho chuyển đổi số ở một số đơn vị còn hạn chế.

Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết là do điều kiện kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực biên giới còn khó khăn, cơ sở hạ tầng số phát triển chưa đồng đều; “Nhận thức của một số cấp ủy, chỉ huy đơn vị về vai trò của chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền pháp luật chưa thật đầy đủ5. Nguồn nhân lực có trình độ công nghệ thông tin, kỹ năng truyền thông số còn thiếu, trong khi công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị còn bất cập; việc đầu tư trang thiết bị, phần mềm phục vụ chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

2.2. Một số gải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ về vai trò của chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định chất lượng và hiệu quả triển khai chuyển đổi số trong toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội về chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở đó, xác định rõ chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới. Cần đưa nội dung chuyển đổi số vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch công tác hằng năm của các đơn vị; xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong triển khai thực hiện. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ về vai trò, lợi ích của công nghệ số trong hoạt động công tác biên phòng, từ đó phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn nhiệm vụ. Các đơn vị cần thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng truyền thông trên không gian mạng cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tuyên truyền pháp luật. Nội dung đào tạo cần gắn với thực tiễn địa bàn biên giới, chú trọng kỹ năng xây dựng sản phẩm truyền thông số, quản trị nền tảng mạng xã hội, xử lý thông tin xấu độc trên không gian mạng và bảo đảm an toàn thông tin. Qua đó, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên truyền có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng tốt với môi trường số.

Hai là, tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số và trang thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.

Để chuyển đổi số đạt hiệu quả thực chất, cần quan tâm đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin tại các đơn vị Bộ đội Biên phòng, đặc biệt ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các cơ quan chức năng cần phối hợp với chính quyền địa phương, doanh nghiệp viễn thông mở rộng vùng phủ sóng internet, nâng cao chất lượng đường truyền tại các khu vực khó khăn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân tiếp cận thông tin pháp luật trên môi trường số. Cùng với đó, cần đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác tuyên truyền như hệ thống màn hình điện tử, loa truyền thanh thông minh, thiết bị livestream, phòng họp trực tuyến, máy tính bảng, phần mềm thiết kế nội dung truyền thông số. Việc ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây cần được nghiên cứu triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Các đơn vị cũng cần xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin hiệu quả giữa các lực lượng, các ngành và địa phương. Đồng thời, chú trọng công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng; chủ động phòng ngừa nguy cơ lộ lọt thông tin, bị tấn công mạng hoặc lợi dụng không gian mạng để chống phá hoạt động tuyên truyền pháp luật của lực lượng Bộ đội Biên phòng.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên nền tảng số.

Quảng cáo

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, việc đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận thông tin pháp luật của Nhân dân khu vực biên giới. Nội dung tuyên truyền cần được lựa chọn ngắn gọn, dễ hiểu, sát thực tiễn đời sống và tập trung vào những vấn đề người dân quan tâm như xuất nhập cảnh, phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, bảo vệ đường biên cột mốc, an ninh mạng, phòng chống mua bán người… Các đơn vị Bộ đội Biên phòng cần đẩy mạnh sản xuất sản phẩm truyền thông số đa dạng như video clip, infographic, podcast, phim ngắn, tọa đàm trực tuyến, livestream hỏi đáp pháp luật. Nội dung tuyên truyền cần tăng cường tính trực quan, sinh động và khả năng tương tác với người xem; đồng thời chú trọng sử dụng song ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số để phù hợp với đặc điểm địa bàn biên giới. Bên cạnh đó, cần phát huy hiệu quả của các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, TikTok trong lan tỏa thông tin pháp luật chính thống đến Nhân dân. Việc xây dựng các fanpage, nhóm cộng đồng trực tuyến về pháp luật biên giới cần được triển khai bài bản, thường xuyên cập nhật nội dung mới, tạo môi trường trao đổi thông tin tích cực giữa lực lượng Bộ đội Biên phòng với Nhân dân. Ngoài ra, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền trực tiếp với tuyên truyền trên môi trường số; giữa giáo dục pháp luật với đấu tranh phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng. Qua đó góp phần nâng cao “sức đề kháng” thông tin cho Nhân dân khu vực biên giới trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Bốn là, phát huy vai trò phối hợp của các lực lượng, tổ chức và Nhân dân trong thực hiện chuyển đổi số.

Chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là nhiệm vụ mang tính tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều lực lượng và tổ chức. Vì vậy, Bộ đội Biên phòng cần tăng cường phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan tư pháp, cơ quan thông tin truyền thông, đoàn thanh niên, hội phụ nữ và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng và triển khai các chương trình tuyên truyền pháp luật trên nền tảng số. Các đơn vị cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư tham gia lan tỏa thông tin pháp luật thông qua mạng xã hội và các nền tảng số. Đây là lực lượng có ảnh hưởng lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao tính thuyết phục và hiệu quả của hoạt động tuyên truyền. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghệ trong hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo kỹ năng số và xây dựng nền tảng truyền thông phục vụ khu vực biên giới. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa cho chuyển đổi số cần được thực hiện linh hoạt, phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Đồng thời, cần phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tham gia xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh; khuyến khích người dân chủ động tiếp cận, chia sẻ và phản hồi thông tin pháp luật trên các nền tảng số. Qua đó tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng Bộ đội Biên phòng với Nhân dân trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc.

Năm là, tăng cường kiểm tra, sơ kết, tổng kết và nhân rộng các mô hình chuyển đổi số hiệu quả.

Để bảo đảm quá trình chuyển đổi số đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả bền vững, các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện tại cơ sở. Nội dung kiểm tra cần tập trung vào hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong tuyên truyền pháp luật, chất lượng sản phẩm truyền thông số, khả năng tiếp cận thông tin của Nhân dân và mức độ an toàn thông tin trên môi trường mạng. Các đơn vị cần thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, chú trọng biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có sáng kiến, mô hình hiệu quả nhằm tạo động lực thúc đẩy phong trào chuyển đổi số trong toàn lực lượng. Việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để xây dựng mô hình điểm về tuyên truyền pháp luật trên nền tảng số cần được triển khai đồng bộ. Những mô hình hiệu quả như “Đồn Biên phòng số”, “Tổ tuyên truyền pháp luật trực tuyến”, “Tiếng loa Biên phòng điện tử” cần được nhân rộng phù hợp với điều kiện của từng địa bàn biên giới. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị trong và ngoài Quân đội về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại trong giáo dục pháp luật. Qua đó góp phần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Sáu là, đẩy mạnh xây dựng môi trường pháp lý và cơ chế chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.

Để chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đạt hiệu quả bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý phù hợp với thực tiễn hoạt động của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu ban hành những quy định cụ thể về quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu số trong hoạt động tuyên truyền pháp luật; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng. Cùng với đó, cần có cơ chế ưu tiên đầu tư ngân sách, trang thiết bị công nghệ và nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số tại các đơn vị Bộ đội Biên phòng đóng quân ở khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Việc xây dựng các chính sách khuyến khích cán bộ, chiến sĩ học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong công tác tuyên truyền pháp luật cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Các cơ quan chức năng cần tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, hỗ trợ cơ sở trong triển khai các nền tảng số phục vụ công tác tuyên truyền pháp luật; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp thống nhất giữa Bộ đội Biên phòng với các cơ quan thông tin truyền thông, cơ quan tư pháp, doanh nghiệp công nghệ nhằm tạo sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện chuyển đổi số. Bên cạnh đó, cần chú trọng xây dựng các quy định về chuẩn hóa dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và bảo mật thông tin trong toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành hệ sinh thái số phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật một cách hiện đại, hiệu quả và an toàn. Việc hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế chính sách sẽ tạo động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong lực lượng Bộ đội Biên phòng phát triển toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới trong tình hình mới.

3. Kết luận

Chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới là xu thế tất yếu và yêu cầu khách quan trong bối cảnh hiện nay. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội Biên phòng đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong ứng dụng công nghệ số phục vụ công tác tuyên truyền pháp luật. Những kết quả đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân, củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, quá trình chuyển đổi số vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện hạ tầng số, đổi mới nội dung tuyên truyền đến phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và Nhân dân. Đồng thời, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ công nghệ thông tin, kỹ năng truyền thông hiện đại và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả công tác biên phòng mà còn tạo nền tảng quan trọng để xây dựng khu vực biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững trong thời kỳ mới./.

Tài liệu tham khảo.

1. Bộ đội Biên phòng (2026), Báo cáo công bố mô hình “Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới”, Nội.

2. Bộ đội Biên phòng (2025), Báo cáo kết quả chuyển đổi số trong Bộ đội Biên phòng, Hà Nội.

3. Bộ đội Biên phòng (2025), Báo cáo kết quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, Hà Nội.

4. Bộ đội Biên phòng (2024), Báo cáo kết quả chuyển đổi số trong Bộ đội Biên phòng, Hà Nội.

5. Bộ đội Biên phòng (2024), Báo cáo kết quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật , Hà Nội.

THE BORDER GUARD FORCE PROMOTES DIGITAL RANSFORMATION IN PUBLIC COMMUNICATION, DISSEMINATION, AND LEGAL EDUCATION FOR PEOPLE IN BORDER AREAS

Nguyen Trung Thanh

Border Guard Academy
Email: [email protected]

Le Hong Thanh

Political Academy

Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution and the vigorous advancement of the national digital transformation process, public communication and legal education dissemination for people in border areas are facing the urgent need for comprehensive innovation in content, forms, and methods of implementation. As the core and specialized force responsible for managing and safeguarding national sovereignty and border security, the Border Guard Force has actively applied digital technologies to public communication and legal education activities in order to enhance the effectiveness of information access for people in border areas. This article focuses on analyzing the current state of digital transformation in the Border Guard Force’s public communication and legal education activities in recent years, identifying the achieved results, existing limitations, and their causes. On that basis, the article proposes several solutions to further promote digital transformation in public communication and legal education for people in border areas in the current period.

Keywords: Border Guard Force; digital transformation; public communication and dissemination of legal education; border areas.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.