BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ – MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DÂN

06:25 | 01/05/2025
1.Đặt vấn đề TCGCVN - Cách đây gần 80 năm, ngày 8.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành liền 3 sắc lệnh 17,19 và 20 về chống nạn thất học: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”; “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học buổi tối”; “Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bức, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người”.

1.Đặt vấn đề

TCGCVN - Cách đây gần 80 năm, ngày 8.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành liền 3 sắc lệnh 17,19 và 20 về chống nạn thất học: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”; “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học buổi tối”; “Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bức, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người”.

Chỉ sau một năm từ 8.9.1945 đến 8.9.1946, phong trào bình dân học vụ đã thu được thành tích đáng kích lệ, như đã tổ chức được 74.957 lớp học, có 95.665 giáo viên tham gia dạy học và thu hút được 2.520.678 người đi học. Trong thư gửi đồng bào nhân dịp 2.9.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen ngợi thành tích của Bình dân học vụ như sau: “Trong hai năm chúng ta đã dạy hơn bốn triệu đồng bào nam, nữ biết đọc, biết viết và đã có nhiều làng xã toàn dân đều biết chữ. Đó là thành tích vẻ vang nhất trong lúc cái gì cũng thiếu thốn”. Như vậy phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hàng triệu người dân Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong công cuộc khai sáng dân trí và xây dựng đất nước. Những bài học về ‘xóa mù chữ, bình dân học vụ’ có giá trị rất lớn cho đến ngày nay.

Ngày nay, khi Việt Nam bước vào thời kỳ chuyển đổi số toàn diện, câu chuyện 'xóa mù' lại một lần nữa trở nên thời sự – nhưng lần này không chỉ là chữ nghĩa, mà là công nghệ. Khái niệm 'Bình dân học vụ số' vì thế đang được nhắc đến nhiều như một cách hình tượng hóa yêu cầu cấp thiết: phổ cập kỹ năng số cho toàn dân.

Trong buổi gặp mặt đại diện các nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (ngày 18/11/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo phát động phong trào “Bình dân học vụ số”, nhằm phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, nơi người dân còn hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ. Tổng Bí thư nhấn mạnh đây không chỉ là một sáng kiến giáo dục mà còn là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, giúp xây dựng một xã hội giàu tri thức và sức mạnh công nghệ để xây dựng kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vương mình của dân tộc.

2.Bình dân học vụ số là gì?

“Bình dân học vụ số” là một khái niệm mới, nhưng mang nhiều hàm ý sâu sắc. Nó không chỉ là việc hướng dẫn người dân biết cách dùng điện thoại, máy tính hay ứng dụng công nghệ; mà còn là quá trình phổ cập kỹ năng số căn bản – từ đọc hiểu thông tin trực tuyến, sử dụng dịch vụ công, giao tiếp qua mạng, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân trong không gian số.

"Bình dân học vụ số" là một chiến lược giáo dục toàn dân trong thời đại kỹ thuật số, nhằm mục tiêu:

- Xóa bỏ tình trạng "mù chữ số", tức là sự thiếu kiến thức và kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).

- Đưa kiến thức số đến với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, người lớn tuổi và những nhóm yếu thế khác trong xã hội.

- Thúc đẩy học tập suốt đời thông qua nền tảng số, tạo điều kiện để mọi công dân có thể tiếp cận tri thức, phát triển kỹ năng, và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Các đặc trưng chính của “Bình dân học vụ số” là:

- Phổ cập kỹ năng số cơ bản như sử dụng điện thoại thông minh, truy cập internet, tìm kiếm thông tin, sử dụng email, ứng dụng học tập, tài khoản công dân số...

- Học tập mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời nhờ nền tảng số, mọi người có thể học qua điện thoại, máy tính bảng, các ứng dụng học tập, video trên mạng, mạng xã hội, v.v.

- Tiếp cận tri thức mở nhờ có tài liệu học tập, thông tin, kiến thức được cung cấp miễn phí, mở và dễ hiểu, phù hợp với người học lớn tuổi hoặc có trình độ thấp.

- Tính cộng đồng và tương tác cao, người học có thể tham gia nhóm học tập online, tương tác với người dạy và người học khác thông qua mạng xã hội hoặc diễn đàn. Chúng ta có thể thấy một vài ví dụ sau:

  • Một phụ nữ trung niên ở nông thôn tham gia lớp học trực tuyến về kỹ năng bán hàng qua mạng do hội phụ nữ tổ chức, học qua YouTube và Zalo.
  • Một cụ ông 70 tuổi ở vùng cao được con cháu dạy cách dùng smartphone để tra cứu thời tiết, đọc báo điện tử và gọi video.
  • Một ông nông dân miền núi có thể giới thiệu sản phẩm do mình làm ra và bán hàng online một cách dễ dàng...

3.Hiện trạng ‘mù số’ ở Việt nam

Theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia 2023 của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2023, Việt Nam có khoảng 80% người dân trưởng thành sở hữu smartphone, nhưng chỉ khoảng 45% trong số đó sử dụng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4. Điều này cho thấy khoảng cách lớn giữa việc 'có thiết bị' và 'biết sử dụng' còn rất xa.

Biểu đồ 1: Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo vùng

BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ – MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DÂN

4.Tại sao cần ‘Bình dân học vụ số’?

- Chuyển đổi số không chỉ là công nghệ – mà là sự bao trùm lên tất cả mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của mọi tầng lớp nhân dân. Chuyển đổi số quốc gia không chỉ đơn thuần là đầu tư công nghệ, mà là chuyển đổi cách thức sống, làm việc và tương tác trong toàn xã hội. Tuy nhiên, sự thành công của quá trình này phụ thuộc phần lớn vào mức độ tham gia của người dân.

- Khẩu hiệu “không để ai bị bỏ lại phía sau” được nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, kế hoạch hành động của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, tuy nhiên, để khẩu hiệu này trở thành hiện thực, cần một cuộc “bình dân học vụ số” thật sự – với các chương trình hành động cụ thể, có sự tham gia của toàn xã hội.

- Tăng cường quyền năng số cho người dân, Bình dân học vụ số còn mang ý nghĩa trao quyền lực số cho người dân. Khi người dân có thể truy cập thông tin, đặt lịch khám bệnh hay bán hàng trực tuyến, đó chính là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của giáo dục kỹ năng số.

Biểu đồ 2: Tỷ lệ biết sử dụng smartphone theo độ tuổi

BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ – MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DÂN

5.Một số mô hình tiêu biểu thực hiện chuyển đổi số ở Việt Nam

- Chương trình “Tổ công nghệ cộng đồng”. Bộ TT&TT đã triển khai mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại hàng ngàn xã, phường. Đây là lực lượng hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ số cơ bản.

- “Lớp học số” cho người cao tuổi, lớp học kỹ năng số miễn phí đã được tổ chức cho người cao tuổi, giúp họ học cách sử dụng Zalo, đặt khám online, tra cứu thông tin...

- Doanh nghiệp đồng hành cùng cộng đồng, các doanh nghiệp như MoMo, VNPT, Viettel đã có nhiều chương trình hỗ trợ kỹ năng số cho tiểu thương, nông dân, học sinh...

BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ – MỘT YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DÂN

Lớp học ‘Bình dân học vụ số’ dành cho người cao tuổi

Quảng cáo

6.Giải pháp thúc đẩy ‘Bình dân học vụ số’

Vận dụng những giải pháp về xóa mù chữ của Việt Nam thời kỳ đầu thành lập nước, có thể nêu ra một số giải pháp chính sau: Xây dựng chiến lược quốc gia về phổ cập kỹ năng số; Lồng ghép giáo dục số trong hệ thống giáo dục và đào tạo nghề; Phát triển mạng lưới tình nguyện viên công nghệ; Ứng dụng công nghệ đơn giản, dễ dùng, thân thiện với người già; Xã hội hóa và liên kết đa ngành. Có thể cụ thể hơn như sau:

1),Nhóm giải pháp về chính sách và cơ chế hỗ trợ

- Ban hành chính sách thúc đẩy phổ cập kỹ năng số cơ bản: Xây dựng Chương trình quốc gia về phổ cập kỹ năng số cho người trưởng thành, tương tự như các chương trình xóa mù chữ trước đây; Đưa "năng lực số cơ bản" trở thành một tiêu chí phát triển bền vững cấp xã, huyện.

- Miễn, giảm chi phí truy cập mạng và thiết bị đầu cuối, Chính phủ phối hợp với doanh nghiệp viễn thông để cung cấp gói cước Internet giá rẻ, hỗ trợ điện thoại thông minh cho người có thu nhập thấp, tích hợp ‘bình dân học vụ số’ trong chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh gắn mục tiêu phổ cập kỹ năng số với các chương trình an sinh – giảm nghèo – phát triển cộng đồng.

2) Nhóm giải pháp về nội dung và phương pháp giáo dục

- Thiết kế tài liệu học tập đơn giản – dễ hiểu – dễ ứng dụng, xây dựng các module học tập ngắn gọn (5–10 phút), sử dụng ngôn ngữ địa phương, hình ảnh minh họa, video sinh động; Ưu tiên các nội dung như: cách dùng điện thoại, tra cứu thông tin, làm thủ tục hành chính điện tử, thương mại điện tử cơ bản...

- Triển khai các mô hình học tập linh hoạt, đa dạng: Lớp học lưu động, giáo viên, sinh viên tình nguyện đến tận thôn xóm hướng dẫn người dân, lớp học qua radio, TV, YouTube, Zalo, Facebook, đặc biệt phù hợp với người lớn tuổi.

- Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên tình nguyên ở cộng đồng. Mỗi tổ dân phố, thôn bản có 1–2 người biết công nghệ làm "trợ giảng số" cho cộng đồng, tận dụng các hoạt động cảu hội phụ nữ, hội nông dân, hội người cao tuổi như những "cánh tay nối dài" của ‘Bình dân học v8uuj số’ trong nhân dân.

3).Nhóm giải pháp về công nghệ và hạ tầng kỹ thuật

- Đầu tư hạ tầng số ở vùng sâu vùng xa, mở rộng vùng phủ sóng 4G/5G, xây dựng các "góc học tập số" miễn phí tại nhà văn hóa, thư viện công cộng, xây dựng nền tảng học tập trực tuyến cho người lớn tuổi và người ít học, thực hiện giao diện lớn, ít chữ, nhiều hình, điều hướng đơn giản, có hướng dẫn bằng giọng nói.

- Ứng dụng AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa việc học của người dân, gợi ý nội dung học phù hợp với nghề nghiệp, sở thích, nhu cầu từng người dân.

4).Nhóm giải pháp vận động và truyền thông xã hội trong cộng đồng dân cư

- Phát động phong trào học tập số như một cuộc cách mạng xã hội mới. Slogan đề xuất: "Không ai bị bỏ lại phía sau trong thế giới số!", vì vậy có thể tổ chức các cuộc thi, tôn vinh các "gương sáng học tập số" trong cộng đồng.

- Tổ chức hợp tác công – tư – cộng đồng, lấy doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ kỹ thuật và nền tảng số, các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp tham gia triển khai mô hình học tập, còn người dân chủ động học, chia sẻ kiến thức cho nhau.

"Bình dân học vụ số" không chỉ là việc dạy kỹ năng số, mà là một cuộc vận động lớn về khai mở tri thức, quyền lực số cho mọi công dân. Để thành công, cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó người dân là trung tâm và cũng là chủ thể của quá trình này.

7.Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời, “Bình dân học vụ số” không chỉ là một sáng kiến giáo dục, mà còn là một sứ mệnh xã hội mang tầm vóc lịch sử. Nếu phong trào Bình dân học vụ năm 1945 đã góp phần đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi bóng tối mù chữ để bước vào thời kỳ cách mạng, thì ngày nay, Bình dân học vụ số chính là con đường giúp người dân thoát khỏi “mù công nghệ số” để hòa nhập và phát triển trong kỷ nguyên số.

Bình dân học vụ số không chỉ nhằm trang bị kỹ năng sử dụng công nghệ cho người dân, mà sâu xa hơn, là trao quyền tri thức, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, tham gia xã hội, cải thiện sinh kế và phát triển toàn diện con người. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những nhóm yếu thế: người già, người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, người chưa có điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin hiện đại.

Tuy nhiên, để phong trào Bình dân học vụ số thực sự lan tỏa mạnh mẽ và đi vào thực chất, cần có một cách tiếp cận đa ngành, đa cấp và đồng bộ. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thiết thực và lâu dài, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp công nghệ cần đóng vai trò tích cực, trong khi đó, mỗi công dân cũng cần chủ động và sáng tạo trong việc học hỏi, chia sẻ và lan tỏa tri thức số. "Không ai bị bỏ lại phía sau" trong hành trình số hóa của dân tộc – đó không chỉ là một khẩu hiệu, mà phải là một cam kết hành động!"

Với tinh thần đó, việc phát triển “Bình dân học vụ số” không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành giáo dục, mà là trách nhiệm của cả xã hội, vì một tương lai mà mỗi người dân đều có thể làm chủ công nghệ, tiếp cận tri thức, và sống trọn vẹn trong một thế giới đang đổi thay từng ngày.

---------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Tô Bá Trượng (2002), Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người’ và học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bách khoa thư Hồ Chí Minh sơ giản. T.1(tr.147).

[Tô Bá Trượng-Bách khoa thư Hồ Chí Minh sơ giản, T1(tr.148).

1. Trần Quang Minh (2023). Bình dân học vụ số: Một khái niệm mới trong giáo dục công dân số. Tạp chí Giáo dục & Xã hội, số 87.

2. UNESCO (2021). Digital Literacy: A right, not a privilege. Paris: UNESCO Publishing.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia 2023.

4. Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám thống kê Việt Nam.

5. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2020). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. QĐ 749/QĐ-TTg.

6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Hướng dẫn triển khai tổ công nghệ số cộng đồng.

7. MoMo (2022). Báo cáo Chợ 4.0 và năng lực số của tiểu thương Việt./.

Ngày 16/04/2025.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.