1.Đặt vấn đề
TCGCVN - Cách đây gần 80 năm, ngày 8.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành liền 3 sắc lệnh 17,19 và 20 về chống nạn thất học: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”; “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học buổi tối”; “Trong khi chờ đợi lập được nền tiểu học cưỡng bức, việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người”.
Chỉ sau một năm từ 8.9.1945 đến 8.9.1946, phong trào bình dân học vụ đã thu được thành tích đáng kích lệ, như đã tổ chức được 74.957 lớp học, có 95.665 giáo viên tham gia dạy học và thu hút được 2.520.678 người đi học. Trong thư gửi đồng bào nhân dịp 2.9.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen ngợi thành tích của Bình dân học vụ như sau: “Trong hai năm chúng ta đã dạy hơn bốn triệu đồng bào nam, nữ biết đọc, biết viết và đã có nhiều làng xã toàn dân đều biết chữ. Đó là thành tích vẻ vang nhất trong lúc cái gì cũng thiếu thốn”. Như vậy phong trào Bình dân học vụ đã xóa mù chữ cho hàng triệu người dân Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong công cuộc khai sáng dân trí và xây dựng đất nước. Những bài học về ‘xóa mù chữ, bình dân học vụ’ có giá trị rất lớn cho đến ngày nay.
Ngày nay, khi Việt Nam bước vào thời kỳ chuyển đổi số toàn diện, câu chuyện 'xóa mù' lại một lần nữa trở nên thời sự – nhưng lần này không chỉ là chữ nghĩa, mà là công nghệ. Khái niệm 'Bình dân học vụ số' vì thế đang được nhắc đến nhiều như một cách hình tượng hóa yêu cầu cấp thiết: phổ cập kỹ năng số cho toàn dân.
Trong buổi gặp mặt đại diện các nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam (ngày 18/11/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo phát động phong trào “Bình dân học vụ số”, nhằm phổ cập tri thức cơ bản về chuyển đổi số đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, nơi người dân còn hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ. Tổng Bí thư nhấn mạnh đây không chỉ là một sáng kiến giáo dục mà còn là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, giúp xây dựng một xã hội giàu tri thức và sức mạnh công nghệ để xây dựng kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vương mình của dân tộc.
2.Bình dân học vụ số là gì?
“Bình dân học vụ số” là một khái niệm mới, nhưng mang nhiều hàm ý sâu sắc. Nó không chỉ là việc hướng dẫn người dân biết cách dùng điện thoại, máy tính hay ứng dụng công nghệ; mà còn là quá trình phổ cập kỹ năng số căn bản – từ đọc hiểu thông tin trực tuyến, sử dụng dịch vụ công, giao tiếp qua mạng, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân trong không gian số.
"Bình dân học vụ số" là một chiến lược giáo dục toàn dân trong thời đại kỹ thuật số, nhằm mục tiêu:
- Xóa bỏ tình trạng "mù chữ số", tức là sự thiếu kiến thức và kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).
- Đưa kiến thức số đến với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, người lớn tuổi và những nhóm yếu thế khác trong xã hội.
- Thúc đẩy học tập suốt đời thông qua nền tảng số, tạo điều kiện để mọi công dân có thể tiếp cận tri thức, phát triển kỹ năng, và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các đặc trưng chính của “Bình dân học vụ số” là:
- Phổ cập kỹ năng số cơ bản như sử dụng điện thoại thông minh, truy cập internet, tìm kiếm thông tin, sử dụng email, ứng dụng học tập, tài khoản công dân số...
- Học tập mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời nhờ nền tảng số, mọi người có thể học qua điện thoại, máy tính bảng, các ứng dụng học tập, video trên mạng, mạng xã hội, v.v.
- Tiếp cận tri thức mở nhờ có tài liệu học tập, thông tin, kiến thức được cung cấp miễn phí, mở và dễ hiểu, phù hợp với người học lớn tuổi hoặc có trình độ thấp.
- Tính cộng đồng và tương tác cao, người học có thể tham gia nhóm học tập online, tương tác với người dạy và người học khác thông qua mạng xã hội hoặc diễn đàn. Chúng ta có thể thấy một vài ví dụ sau:
- Một phụ nữ trung niên ở nông thôn tham gia lớp học trực tuyến về kỹ năng bán hàng qua mạng do hội phụ nữ tổ chức, học qua YouTube và Zalo.
- Một cụ ông 70 tuổi ở vùng cao được con cháu dạy cách dùng smartphone để tra cứu thời tiết, đọc báo điện tử và gọi video.
- Một ông nông dân miền núi có thể giới thiệu sản phẩm do mình làm ra và bán hàng online một cách dễ dàng...
3.Hiện trạng ‘mù số’ ở Việt nam
Theo Báo cáo Chuyển đổi số quốc gia 2023 của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2023, Việt Nam có khoảng 80% người dân trưởng thành sở hữu smartphone, nhưng chỉ khoảng 45% trong số đó sử dụng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4. Điều này cho thấy khoảng cách lớn giữa việc 'có thiết bị' và 'biết sử dụng' còn rất xa.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo vùng

4.Tại sao cần ‘Bình dân học vụ số’?
- Chuyển đổi số không chỉ là công nghệ – mà là sự bao trùm lên tất cả mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của mọi tầng lớp nhân dân. Chuyển đổi số quốc gia không chỉ đơn thuần là đầu tư công nghệ, mà là chuyển đổi cách thức sống, làm việc và tương tác trong toàn xã hội. Tuy nhiên, sự thành công của quá trình này phụ thuộc phần lớn vào mức độ tham gia của người dân.
- Khẩu hiệu “không để ai bị bỏ lại phía sau” được nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, kế hoạch hành động của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, tuy nhiên, để khẩu hiệu này trở thành hiện thực, cần một cuộc “bình dân học vụ số” thật sự – với các chương trình hành động cụ thể, có sự tham gia của toàn xã hội.
- Tăng cường quyền năng số cho người dân, Bình dân học vụ số còn mang ý nghĩa trao quyền lực số cho người dân. Khi người dân có thể truy cập thông tin, đặt lịch khám bệnh hay bán hàng trực tuyến, đó chính là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của giáo dục kỹ năng số.
Biểu đồ 2: Tỷ lệ biết sử dụng smartphone theo độ tuổi

5.Một số mô hình tiêu biểu thực hiện chuyển đổi số ở Việt Nam
- Chương trình “Tổ công nghệ cộng đồng”. Bộ TT&TT đã triển khai mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng” tại hàng ngàn xã, phường. Đây là lực lượng hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ số cơ bản.
- “Lớp học số” cho người cao tuổi, lớp học kỹ năng số miễn phí đã được tổ chức cho người cao tuổi, giúp họ học cách sử dụng Zalo, đặt khám online, tra cứu thông tin...
- Doanh nghiệp đồng hành cùng cộng đồng, các doanh nghiệp như MoMo, VNPT, Viettel đã có nhiều chương trình hỗ trợ kỹ năng số cho tiểu thương, nông dân, học sinh...

Lớp học ‘Bình dân học vụ số’ dành cho người cao tuổi
6.Giải pháp thúc đẩy ‘Bình dân học vụ số’
Vận dụng những giải pháp về xóa mù chữ của Việt Nam thời kỳ đầu thành lập nước, có thể nêu ra một số giải pháp chính sau: Xây dựng chiến lược quốc gia về phổ cập kỹ năng số; Lồng ghép giáo dục số trong hệ thống giáo dục và đào tạo nghề; Phát triển mạng lưới tình nguyện viên công nghệ; Ứng dụng công nghệ đơn giản, dễ dùng, thân thiện với người già; Xã hội hóa và liên kết đa ngành. Có thể cụ thể hơn như sau:
1),Nhóm giải pháp về chính sách và cơ chế hỗ trợ
- Ban hành chính sách thúc đẩy phổ cập kỹ năng số cơ bản: Xây dựng Chương trình quốc gia về phổ cập kỹ năng số cho người trưởng thành, tương tự như các chương trình xóa mù chữ trước đây; Đưa "năng lực số cơ bản" trở thành một tiêu chí phát triển bền vững cấp xã, huyện.
- Miễn, giảm chi phí truy cập mạng và thiết bị đầu cuối, Chính phủ phối hợp với doanh nghiệp viễn thông để cung cấp gói cước Internet giá rẻ, hỗ trợ điện thoại thông minh cho người có thu nhập thấp, tích hợp ‘bình dân học vụ số’ trong chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và gắn mục tiêu phổ cập kỹ năng số với các chương trình an sinh – giảm nghèo – phát triển cộng đồng.
2) Nhóm giải pháp về nội dung và phương pháp giáo dục
- Thiết kế tài liệu học tập đơn giản – dễ hiểu – dễ ứng dụng, xây dựng các module học tập ngắn gọn (5–10 phút), sử dụng ngôn ngữ địa phương, hình ảnh minh họa, video sinh động; Ưu tiên các nội dung như: cách dùng điện thoại, tra cứu thông tin, làm thủ tục hành chính điện tử, thương mại điện tử cơ bản...
- Triển khai các mô hình học tập linh hoạt, đa dạng: Lớp học lưu động, giáo viên, sinh viên tình nguyện đến tận thôn xóm hướng dẫn người dân, lớp học qua radio, TV, YouTube, Zalo, Facebook, đặc biệt phù hợp với người lớn tuổi.
- Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên tình nguyên ở cộng đồng. Mỗi tổ dân phố, thôn bản có 1–2 người biết công nghệ làm "trợ giảng số" cho cộng đồng, tận dụng các hoạt động cảu hội phụ nữ, hội nông dân, hội người cao tuổi như những "cánh tay nối dài" của ‘Bình dân học v8uuj số’ trong nhân dân.
3).Nhóm giải pháp về công nghệ và hạ tầng kỹ thuật
- Đầu tư hạ tầng số ở vùng sâu vùng xa, mở rộng vùng phủ sóng 4G/5G, xây dựng các "góc học tập số" miễn phí tại nhà văn hóa, thư viện công cộng, xây dựng nền tảng học tập trực tuyến cho người lớn tuổi và người ít học, thực hiện giao diện lớn, ít chữ, nhiều hình, điều hướng đơn giản, có hướng dẫn bằng giọng nói.
- Ứng dụng AI và dữ liệu lớn để cá nhân hóa việc học của người dân, gợi ý nội dung học phù hợp với nghề nghiệp, sở thích, nhu cầu từng người dân.
4).Nhóm giải pháp vận động và truyền thông xã hội trong cộng đồng dân cư
- Phát động phong trào học tập số như một cuộc cách mạng xã hội mới. Slogan đề xuất: "Không ai bị bỏ lại phía sau trong thế giới số!", vì vậy có thể tổ chức các cuộc thi, tôn vinh các "gương sáng học tập số" trong cộng đồng.
- Tổ chức hợp tác công – tư – cộng đồng, lấy doanh nghiệp công nghệ hỗ trợ kỹ thuật và nền tảng số, các tổ chức xã hội, hội nghề nghiệp tham gia triển khai mô hình học tập, còn người dân chủ động học, chia sẻ kiến thức cho nhau.
"Bình dân học vụ số" không chỉ là việc dạy kỹ năng số, mà là một cuộc vận động lớn về khai mở tri thức, quyền lực số cho mọi công dân. Để thành công, cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó người dân là trung tâm và cũng là chủ thể của quá trình này.
7.Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời, “Bình dân học vụ số” không chỉ là một sáng kiến giáo dục, mà còn là một sứ mệnh xã hội mang tầm vóc lịch sử. Nếu phong trào Bình dân học vụ năm 1945 đã góp phần đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi bóng tối mù chữ để bước vào thời kỳ cách mạng, thì ngày nay, Bình dân học vụ số chính là con đường giúp người dân thoát khỏi “mù công nghệ số” để hòa nhập và phát triển trong kỷ nguyên số.
Bình dân học vụ số không chỉ nhằm trang bị kỹ năng sử dụng công nghệ cho người dân, mà sâu xa hơn, là trao quyền tri thức, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, tham gia xã hội, cải thiện sinh kế và phát triển toàn diện con người. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những nhóm yếu thế: người già, người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, người chưa có điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin hiện đại.
Tuy nhiên, để phong trào Bình dân học vụ số thực sự lan tỏa mạnh mẽ và đi vào thực chất, cần có một cách tiếp cận đa ngành, đa cấp và đồng bộ. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thiết thực và lâu dài, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp công nghệ cần đóng vai trò tích cực, trong khi đó, mỗi công dân cũng cần chủ động và sáng tạo trong việc học hỏi, chia sẻ và lan tỏa tri thức số. "Không ai bị bỏ lại phía sau" trong hành trình số hóa của dân tộc – đó không chỉ là một khẩu hiệu, mà phải là một cam kết hành động!"
Với tinh thần đó, việc phát triển “Bình dân học vụ số” không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành giáo dục, mà là trách nhiệm của cả xã hội, vì một tương lai mà mỗi người dân đều có thể làm chủ công nghệ, tiếp cận tri thức, và sống trọn vẹn trong một thế giới đang đổi thay từng ngày.
---------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tô Bá Trượng (2002), Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người’ và học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bách khoa thư Hồ Chí Minh sơ giản. T.1(tr.147).
[Tô Bá Trượng-Bách khoa thư Hồ Chí Minh sơ giản, T1(tr.148).
1. Trần Quang Minh (2023). Bình dân học vụ số: Một khái niệm mới trong giáo dục công dân số. Tạp chí Giáo dục & Xã hội, số 87.
2. UNESCO (2021). Digital Literacy: A right, not a privilege. Paris: UNESCO Publishing.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Báo cáo chuyển đổi số quốc gia 2023.
4. Tổng cục Thống kê (2022). Niên giám thống kê Việt Nam.
5. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2020). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. QĐ 749/QĐ-TTg.
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Hướng dẫn triển khai tổ công nghệ số cộng đồng.
7. MoMo (2022). Báo cáo Chợ 4.0 và năng lực số của tiểu thương Việt./.
Ngày 16/04/2025.
Ý kiến bạn đọc