BÀN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀ VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

05:32 | 19/04/2026
TS Nguyễn Mạnh Hổ ThS Nguyễn Đức Thành Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu lý luận của C.Mác, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp nâng cao nhận thức về nguồn gốc tạo ra giá trị và bản chất chủ nghĩa tư bản hiện đại. Bài viết khái quát

TS Nguyễn Mạnh Hổ

ThS Nguyễn Đức Thành

Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, việc nghiên cứu lý luận của C.Mác, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp nâng cao nhận thức về nguồn gốc tạo ra giá trị và bản chất chủ nghĩa tư bản hiện đại. Bài viết khái quát giá trị học thuyết giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất phương hướng vận dụng vào giảng dạy kinh tế chính trị ở các nhà trường quân đội hiện nay.

Từ khóa: Giá trị thặng dư; kinh tế chính trị; nhà trường quân đội; giảng dạy; chủ nghĩa tư bản.

1. Mở đầu

Trong hệ thống lý luận kinh tế của C.Mác, học thuyết giá trị thặng dư đóng vai trò là “hòn đá tảng” vạch trần bản chất vận động và mâu thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bước sang thế kỷ XXI, sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng nền kinh tế tri thức đã làm dịch chuyển căn bản cấu trúc sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, sự thay đổi diện mạo bên ngoài không làm mất đi giá trị của lý luận giá trị thặng dư; ngược lại, thực tiễn đó càng minh chứng cho tính xuyên suốt của quy luật này dưới những hình thái biểu hiện mới tinh vi và phức tạp hơn.

Sự phát triển của kinh tế số và trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo ra ảo giác về sự “nhân văn hóa” trong quan hệ lao động, nơi các khái niệm như “nền kinh tế chia sẻ” hay “tự do kỹ thuật số” thường xuyên được sử dụng để che đậy bản chất bóc lột. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không dừng ở các ví dụ truyền thống mà cần được đặt trong tư duy đa chiều. Việc giảng dạy hiện nay đòi hỏi phải bóc tách được sự chuyển hóa từ bóc lột lao động cơ bắp sang bóc lột lao động trí tuệ, nhận diện rõ thời gian lao động thặng dư không chỉ bị chiếm đoạt tại công xưởng mà còn bị kéo dài thông qua kết nối số. Điều này giúp học viên nhận diện rõ dù công cụ lao động có tiến hóa đến đâu, mục tiêu tối thượng của nhà tư bản vẫn là tối đa hóa giá trị thặng dư dựa trên việc chiếm đoạt lao động sống.

Các nhà trường quân đội không chỉ là nơi đào tạo tri thức chuyên môn quân sự mà còn đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước thực tế, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để phát tán các luận điệu cho rằng học thuyết Mác đã lỗi thời trong kỷ nguyên tri thức. Nếu nội dung giảng dạy thiếu đi sự cập nhật thực tiễn hoặc chỉ dừng lại ở những lập luận xuôi chiều sẽ vô tình tạo ra khoảng trống lý luận, làm giảm sức đề kháng của học viên trước những luận điệu xuyên tạc. Chính vì vậy, việc truyền thụ đúng kiến thức là cách thiết thực nhất để giúp người học viên nâng cao nhận thức, củng cố lập trường tư tưởng, giữ vững bản lĩnh chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước những biến động phức tạp của thời đại.

Bên cạnh đó, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo trong quân đội hiện nay cũng đặt ra yêu cầu cao, đòi hỏi người giảng viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền thụ kiến thức xuôi chiều sang phương pháp tư duy phản biện. Bởi lẽ, đối tượng học viên sĩ quan có tư duy kỷ luật và nhạy bén chính trị nên cần được trang bị khả năng sử dụng lý luận của C.Mác như một công cụ sắc bén để tự giải đáp các hiện tượng kinh tế - xã hội do thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy, việc khái quát giá trị học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác và đề xuất phương hướng vận dụng học thuyết này vào thực tiễn giảng dạy ở các nhà trường quân đội hiện nay không chỉ giúp hoàn thiện khung tri thức mà còn hướng tới mục tiêu hình thành tư duy lý luận độc lập, giúp người học vững vàng hơn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị tại đơn vị sau khi tốt nghiệp khóa học ra trường.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Giá trị học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Học thuyết giá trị thặng dư là một trong những phát kiến vĩ đại của C.Mác, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống Kinh tế chính trị học Mác - Lênin. Trên cơ sở kế thừa có phê phán Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, đặc biệt là những tư tưởng của Adam Smith và David Ricardo, C.Mác đã thực hiện bước đột phá về chất khi phát hiện ra tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động, từ đó luận giải một cách khoa học nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, học thuyết này không chỉ có ý nghĩa nhận thức mà còn là cơ sở phương pháp luận quan trọng để đổi mới hoạt động giảng dạy kinh tế chính trị ở các nhà trường quân đội, cụ thể:

Thứ nhất, học thuyết giá trị thặng dư làm sáng tỏ nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư và phương thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản.

Theo quan điểm của C.Mác, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất bị nhà tư bản chiếm đoạt. Nhà tư bản mua sức lao động như một loại hàng hóa đặc biệt, trả cho người lao động một lượng giá trị tương đương với chi phí tái sản xuất sức lao động, biểu hiện dưới hình thức tiền lương. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, sức lao động lại có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Khoảng chênh lệch giữa giá trị mới do lao động tạo ra và giá trị sức lao động chính là giá trị thặng dư, ký hiệu là “m”. Về lượng, giá trị hàng hóa (W) trong sản xuất tư bản chủ nghĩa được cấu tạo gồm:

BÀN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀ VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Trong đó, c là tư bản bất biến (giá trị tư liệu sản xuất), v là tư bản khả biến (giá trị sức lao động), và m là giá trị thặng dư. Công thức này cho thấy chỉ có bộ phận tư bản khả biến (v) mới tạo ra giá trị mới, còn tư bản bất biến (c) chỉ chuyển dịch giá trị của mình vào sản phẩm. Trên cơ sở đó, học thuyết đã vạch trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ ra rằng quan hệ giữa tư bản và lao động không phải là quan hệ trao đổi ngang giá thuần túy, mà thực chất là quan hệ chiếm đoạt lao động không công được che đậy dưới hình thức hợp đồng lao động. C.Mác khẳng định: “Việc sản xuất ra giá trị thặng dư đó là mục đích trực tiếp và là động cơ quyết định của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” [3, tr.370]. Để đo lường mức độ bóc lột, C.Mác đưa ra phạm trù tỷ suất giá trị thặng dư:

BÀN VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀ VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Trong đó, (t) là thời gian lao động tất yếu và (t′) là thời gian lao động thặng dư. Ví dụ, trong một ngày lao động 8 giờ, nếu công nhân cần 4 giờ để tái tạo giá trị sức lao động và 4 giờ còn lại tạo ra giá trị thặng dư, thì m′=100%. Khi kéo dài ngày lao động lên 10 giờ trong khi thời gian lao động tất yếu không đổi, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên 150%, phản ánh mức độ bóc lột gia tăng rõ rệt.

Bên cạnh đó, học thuyết còn xác lập sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, chi phối toàn bộ quá trình vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Thông qua đó, C.Mác đã cung cấp cơ sở khoa học để giải thích nguồn gốc của tích lũy tư bản, sự phân hóa giàu - nghèo và những mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Như vậy, học thuyết giá trị thặng dư không chỉ giải mã nguồn gốc tạo ra của cải trong chủ nghĩa tư bản mà còn cung cấp công cụ phương pháp luận sắc bén để phân tích các quan hệ kinh tế - xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

Thứ hai, học thuyết giá trị thặng dư cung cấp cơ sở để nhận thức đúng đắn bản chất và cơ chế vận hành của kinh tế thị trường.

Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác được xây dựng trên cơ sở phân tích sâu sắc nền sản xuất hàng hóa, do đó hình thành hệ thống phạm trù và quy luật phổ biến đối với mọi nền kinh tế hàng hóa, trong đó có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Việc nhận thức đúng các phạm trù như giá trị, giá trị thặng dư, quy luật giá trị, cạnh tranh… cho phép lý giải động lực của tăng trưởng kinh tế không xuất phát từ ý chí chủ quan mà từ sự vận động khách quan của các quy luật kinh tế. Đây chính là cơ sở để khẳng định tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tuy nhiên, khác với mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là công cụ phương pháp luận giúp phân biệt rõ giữa tính phổ biến của các quy luật kinh tế thị trường với tính đặc thù của mục tiêu phát triển, qua đó nhận thức đầy đủ hơn bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, có thể tránh được hai khuynh hướng sai lầm: hoặc tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, coi nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước; hoặc phủ nhận các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, dẫn đến can thiệp hành chính không phù hợp. Như vậy, học thuyết giá trị thặng dư không chỉ có ý nghĩa trong việc giải thích cơ chế vận hành của kinh tế thị trường mà còn cung cấp nền tảng phương pháp luận để định hướng nhận thức và hành động trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, học thuyết giá trị thặng dư là cơ sở khoa học để nhận diện và giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích trong nền kinh tế nhiều thành phần.

Thông qua việc làm rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, học thuyết đã chỉ ra bản chất của lợi nhuận trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gắn với sự chiếm đoạt lao động không công. C.Mác khẳng định: “Giá trị thặng dư hay lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hóa” [4, tr.74]. Luận điểm này cung cấp cơ sở phương pháp luận để phân tích các quan hệ lợi ích trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Trong bối cảnh Việt Nam phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động vừa thống nhất về mục tiêu phát triển, vừa tiềm ẩn những mâu thuẫn do sự khác biệt về vị thế và điều kiện tham gia vào quá trình phân phối giá trị thặng dư. Việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư cho phép nhận diện đúng bản chất của các quan hệ phân phối, từ đó xây dựng cơ chế điều tiết phù hợp nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Đặc biệt, trong khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, xu hướng gia tăng giá trị thặng dư thông qua kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động hoặc áp dụng các hình thức quản trị mới dựa trên công nghệ vẫn tồn tại dưới những biểu hiện ngày càng tinh vi. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hệ thống pháp luật và cơ chế giám sát nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Qua đó cho thấy, học thuyết giá trị thặng dư không chỉ có giá trị nhận thức mà còn là công cụ lý luận quan trọng để xử lý một cách biện chứng quan hệ lợi ích trong nền kinh tế hiện đại.

Quảng cáo

Thứ tư, học thuyết giá trị thặng dư cung cấp cơ sở khoa học cho việc định hướng chính sách phát triển kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, tức tối đa hóa giá trị thặng dư. Vì vậy, việc phát triển kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài là tất yếu khách quan nhằm huy động các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, xét từ góc độ lý luận giá trị thặng dư của C.Mác, quá trình theo đuổi lợi nhuận luôn gắn liền với xu hướng tích tụ và tập trung tư bản, đồng thời gia tăng khai thác lao động; nếu không được định hướng và điều tiết phù hợp sẽ dẫn đến phân hóa xã hội và những bất ổn tiềm ẩn. Do đó, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư với tư cách là công cụ phương pháp luận cho phép xác định rõ giới hạn và điều kiện của việc khuyến khích lợi nhuận, từ đó xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, vừa tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, ổn định, vừa bảo đảm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên phương diện cụ thể, Nhà nước cần kết hợp hiệu quả các công cụ như chính sách thuế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội và khung khổ pháp luật về lao động nhằm điều tiết quá trình phân phối thu nhập, hạn chế chênh lệch quá mức giữa các tầng lớp dân cư. Mặt khác, học thuyết giá trị thặng dư còn làm rõ tính hai mặt của kinh tế tư nhân: một mặt là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả kinh tế; mặt khác, luôn tiềm ẩn xu hướng chạy theo lợi nhuận thuần túy. Việc nhận thức đầy đủ hai mặt này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, giúp tránh các khuynh hướng cực đoan như phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân hoặc tuyệt đối hóa nó, qua đó định hình cách tiếp cận cân bằng, biện chứng trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thứ năm, học thuyết giá trị thặng dư cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý, điều tiết và kiểm soát các quá trình kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Không dừng lại ở việc giải thích nguồn gốc của lợi nhuận, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác còn phân tích một cách hệ thống các phương pháp sản xuất và các hình thức phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản, qua đó cung cấp công cụ phương pháp luận quan trọng cho việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước. Trên cơ sở nhận thức rõ bản chất vận động của quá trình tạo ra và phân phối giá trị thặng dư, Nhà nước có thể xây dựng các cơ chế điều tiết vĩ mô phù hợp, kết hợp hài hòa giữa việc khuyến khích các chủ thể kinh tế nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ với việc kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực lao động và phân phối thu nhập.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý kinh tế không chỉ nhằm bảo đảm hiệu quả mà còn hướng tới mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội. Do đó, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư cho phép Nhà nước sử dụng linh hoạt các công cụ như chính sách tài khóa, tiền tệ, pháp luật lao động và hệ thống an sinh xã hội để điều tiết quá trình phân phối giá trị thặng dư, hạn chế xu hướng tích tụ và tập trung tư bản quá mức, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Đây chính là biểu hiện cụ thể của việc kết hợp giữa quy luật thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa trong quản lý nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế số và toàn cầu hóa, khi các hình thức tạo ra và phân phối giá trị ngày càng đa dạng và phức tạp, việc vận dụng linh hoạt học thuyết giá trị thặng dư càng trở nên cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của nền kinh tế mà còn tạo cơ sở lý luận vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại.

Thứ sáu, học thuyết giá trị thặng dư định hướng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam.

Một trong những luận điểm cơ bản của C.Mác là phát triển nền sản xuất lớn gắn với trình độ xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất, nhằm tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư. Về bản chất, sự gia tăng giá trị thặng dư không chỉ dựa vào kéo dài thời gian lao động (giá trị thặng dư tuyệt đối) mà ngày càng phụ thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động thông qua tiến bộ khoa học - công nghệ (giá trị thặng dư tương đối). Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để định hướng chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, việc phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng nhanh và bền vững. Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản so với chủ nghĩa tư bản là ở mục tiêu phát triển: nếu trong chủ nghĩa tư bản, việc gia tăng giá trị thặng dư nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho một bộ phận sở hữu tư bản, thì trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quá trình này phải gắn liền với mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Do đó, phát triển lực lượng sản xuất không chỉ là yêu cầu kinh tế thuần túy mà còn là nhiệm vụ chính trị - xã hội có ý nghĩa chiến lược. Mặt khác, học thuyết giá trị thặng dư còn cung cấp cơ sở phương pháp luận để nhận thức đúng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đi đôi với hoàn thiện quan hệ sản xuất, bảo đảm phân phối công bằng, hạn chế phân hóa xã hội và phát huy vai trò điều tiết của Nhà nước. Điều này cho thấy, vận dụng học thuyết giá trị thặng dư không phải nhằm tái lập cơ chế vận hành của chủ nghĩa tư bản, mà là để khai thác những yếu tố hợp lý của kinh tế thị trường phục vụ mục tiêu phát triển con người toàn diện.

2.2. Vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của C.Mác vào giảng dạy Kinh tế chính trị ở nhà trường quân đội hiện nay

Một là, cập nhật, phát triển nội dung lý luận phù hợp với những biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Việc cập nhật nội dung giảng dạy theo hướng gắn lý luận giá trị thặng dư với những biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại không chỉ làm sâu sắc nhận thức khoa học mà còn góp phần nâng cao tính chiến đấu, tính thực tiễn của môn học Kinh tế chính trị trong các nhà trường Quân đội hiện nay. Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những biến đổi sâu sắc về hình thức tổ chức sản xuất và phương thức khai thác lao động. Do đó, việc giảng dạy phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cần được cập nhật theo hướng gắn lý luận với các biểu hiện mới của thực tiễn. Trên cơ sở học thuyết của C.Mác, cần làm rõ bản chất của giá trị thặng dư hiện nay không thay đổi, song phương thức tạo ra và chiếm đoạt giá trị thặng dư ngày càng tinh vi hơn, đặc biệt thông qua việc ứng dụng công nghệ cao, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI).

Việc phân tích cần tập trung làm rõ sự chuyển dịch từ bóc lột dựa trên cường độ lao động cơ bắp sang bóc lột dựa trên cường độ lao động trí óc. Nếu trong chủ nghĩa tư bản cổ điển, giá trị thặng dư chủ yếu được tạo ra thông qua kéo dài thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động thủ công, thì trong điều kiện hiện nay, quá trình này được thực hiện thông qua tối ưu hóa quy trình sản xuất, kiểm soát lao động bằng thuật toán, gia tăng hiệu suất làm việc trí tuệ và rút ngắn thời gian lao động tất yếu. Điều đó cho thấy phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối ngày càng giữ vai trò chủ đạo, phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất.

Trong giảng dạy tại các nhà trường quân đội, cần đặc biệt chú trọng việc gắn lý luận với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp quốc phòng thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh kết hợp với quốc phòng. Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực chính là biểu hiện sinh động của việc gia tăng giá trị thặng dư tương đối trong điều kiện mới. Thông qua các ví dụ gắn với lĩnh vực chuyên môn, học viên không chỉ nắm vững bản chất lý luận mà còn nhận thức rõ ý nghĩa thực tiễn của học thuyết, từ đó nâng cao khả năng vận dụng vào hoạt động công tác sau khi tốt nghiệp ra trường.

Hai là, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên thông qua các phương pháp dạy học hiện đại.

Phát huy tính tích cực, chủ động của học viên thông qua các phương pháp dạy học hiện đại không chỉ nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần hình thành năng lực tư duy lý luận và khả năng vận dụng sáng tạo học thuyết giá trị thặng dư vào thực tiễn công tác trong Quân đội. Quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đối với các nhà trường quân đội hiện nay, việc giảng dạy Kinh tế chính trị nói chung và học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác nói riêng cần chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển năng lực tư duy phản biện độc lập của học viên. Trên cơ sở đó, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp nêu vấn đề có ý nghĩa quan trọng giúp khơi dậy hứng thú học tập và nâng cao chất lượng tiếp thu lý luận. Giảng viên có thể đặt ra những tình huống nghịch để khơi gợi cho học viên trả lời. Thông qua quá trình phân tích, thảo luận và lý giải, học viên sẽ từng bước vận dụng học thuyết của C.Mác để nhận diện bản chất sự gia tăng giá trị thặng dư và cơ chế phân phối không công bằng trong nền kinh tế thị trường.

Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ trực quan như sơ đồ tư duy, mô hình đồ họa, video mô phỏng… giúp cụ thể hóa những phạm trù trừu tượng như quá trình tạo ra giá trị thặng dư trong các nhà máy thông minh, qua đó làm rõ mối quan hệ giữa tư bản bất biến, tư bản khả biến và giá trị thặng dư trong điều kiện sản xuất hiện đại. Việc trực quan hóa này không chỉ hỗ trợ học viên dễ dàng nắm bắt bản chất vấn đề mà còn góp phần nâng cao khả năng liên hệ lý luận với thực tiễn phát triển của khoa học - công nghệ. Để triển khai hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại, giảng viên không những phải nắm vững nội dung giáo trình, văn kiện mà còn phải chủ động ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng thành thạo các phần mềm trình chiếu, công cụ mô phỏng và các nền tảng số trong giảng dạy. Việc trực quan hóa các công thức liên quan đến giá trị thặng dư (m), tỷ suất giá trị thặng dư (m′) sẽ góp phần khắc phục tính khô khan của nội dung lý luận, đồng thời tạo điều kiện để học viên tiếp cận tri thức một cách sinh động, hệ thống và hiệu quả hơn.

Ba là, gắn kết chặt chẽ lý luận với thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Gắn kết lý luận giá trị thặng dư với thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ nâng cao tính thuyết phục của nội dung giảng dạy mà còn góp phần hình thành ở học viên năng lực nhận thức đúng đắn, toàn diện về con đường phát triển kinh tế của đất nước trong bối cảnh mới. Điều này đòi hỏi việc giảng dạy học thuyết giá trị thặng dư không dừng ở việc trình bày các phạm trù lý luận trừu tượng mà cần được đặt trong mối liên hệ mật thiết với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trên cơ sở lý luận của C.Mác, cần làm rõ sự khác biệt về bản chất quan hệ bóc lột trong chủ nghĩa tư bản với cơ chế phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu trong chủ nghĩa tư bản, giá trị thặng dư gắn với sự chiếm đoạt lao động không công của người lao động bởi nhà tư bản, thì trong điều kiện nước ta, phân phối chủ yếu được thực hiện theo lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời kết hợp với các hình thức phân phối khác thông qua hệ thống chính sách xã hội nhằm bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội.

Việc phân tích rõ sự khác biệt này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định hướng nhận thức cho học viên, giúp tránh những cách hiểu giản đơn hoặc đồng nhất hóa cơ chế thị trường ở Việt Nam với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Qua đó, học viên nhận thức được rằng, mặc dù cùng vận hành theo các quy luật của sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường, nhưng mục tiêu phát triển, bản chất xã hội và cơ chế điều tiết của nền kinh tế nước ta mang tính đặc thù, phản ánh định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cần khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, từ góc độ lý luận giá trị thặng dư, cũng cần nhận thức rõ tính hai mặt của khu vực này, đó là vừa có khả năng thúc đẩy tăng trưởng, vừa tiềm ẩn xu hướng gia tăng khai thác lao động nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp. Do đó, việc phát triển kinh tế tư nhân phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thông qua hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.

Bốn là, phát huy vai trò của môn học trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Phát huy vai trò của môn học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn trực tiếp bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận cho học viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch gia tăng sử dụng không gian mạng và các phương tiện truyền thông hiện đại để xuyên tạc, phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có học thuyết giá trị thặng dư. Vì vậy, giảng dạy nội dung này trong các nhà trường Quân đội không chỉ nhằm trang bị tri thức kinh tế mà còn có ý nghĩa trực tiếp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở lý luận của C.Mác, cần giúp học viên nhận diện và phản bác một cách khoa học, có cơ sở những luận điệu sai trái như cho rằng “máy móc tạo ra giá trị” hoặc “vốn tự thân sinh ra giá trị”, qua đó phủ nhận vai trò quyết định của lao động sống trong quá trình sản xuất.

Về mặt lý luận, cần làm rõ rằng máy móc, công nghệ hay vốn chỉ là những yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, thuộc phạm trù tư bản bất biến, có chức năng chuyển dịch giá trị sẵn có vào sản phẩm chứ không tạo ra giá trị mới. Chỉ có lao động sống của con người, thông qua hoạt động sản xuất, mới là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Việc tuyệt đối hóa vai trò của công nghệ hoặc vốn thực chất là sự che đậy bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thức biểu hiện mới của kinh tế số và trí tuệ nhân tạo. Trong giảng dạy, cần kết hợp giữa phân tích lý luận với dẫn chứng thực tiễn sinh động, như việc các nền tảng công nghệ số mang lại lợi nhuận lớn dựa trên sự tham gia và đóng góp dữ liệu, tri thức của người lao động và người dùng. Qua đó, học viên có thể nhận thức rõ rằng, dù hình thức biểu hiện có thay đổi, song bản chất của quá trình tạo ra giá trị thặng dư vẫn không thay đổi, từ đó củng cố niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin.

3. Kết luận

Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời trong chủ nghĩa tư bản thế kỷ XIX, song đến nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và ý nghĩa thời đại sâu sắc. Những biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đặc biệt dưới tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, không làm mất đi mà ngược lại càng làm nổi bật sức sống bền vững của học thuyết. Bản chất của quá trình tạo ra giá trị thặng dư vẫn gắn liền với lao động sống, dù được che đậy dưới những hình thức ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Việc nghiên cứu và giảng dạy học thuyết giá trị thặng dư vì vậy không chỉ dừng ở truyền thụ tri thức kinh tế chính trị, mà còn góp phần làm sáng tỏ bản chất vận động của thế giới hiện đại, giúp người học nhận diện đúng các hiện tượng kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế./.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

3. C. Mác và Ph. Ăngghen (1894), “Quy luật tỷ suất lợi nhuận”, C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994, tr.370.

4. C. Mác và Ph. Ăngghen (1894), “Sự chuyển hóa giá trị thặng dư thành lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận”, C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994, tr.74.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.