XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC HOÀN TOÀN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

20:51 | 05/05/2025
Đặt vấn đề TCGCVN - Trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, sinh viên các nhà trường trong toàn quốc tự hào công bố: “từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” [4]. Lá thư của Hồ Chí Minh vào thời điểm lúc bấy giờ có giá trị như là lời tuyên ngôn cho sự ra đời của một nền giáo dục mới, “Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đồng thời, những nội dung trong lá th

  1. Đặt vấn đề

TCGCVN - Trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, sinh viên các nhà trường trong toàn quốc tự hào công bố: “từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” [4]. Lá thư của Hồ Chí Minh vào thời điểm lúc bấy giờ có giá trị như là lời tuyên ngôn cho sự ra đời của một nền giáo dục mới, “Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đồng thời, những nội dung trong lá thư còn chứa đựng một tư tưởng chiến lược định hướng cho sự phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.

Nhận thức về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào cho đúng? Trong bối cảnh hội nhập hợp tác quốc tế hiện nay, tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam có còn phù hợp hay không? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam như thế nào trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc? Đó là những vấn đề đặt ra mà bài viết này cần phải giải quyết.

15-9-1945: Bác Hồ gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là đòi hỏi tất yếu khách quan của lịch sử

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, là nền giáo dục mà chúng ta đã thực hiện, đang thực hiện và sẽ còn phải tiếp tục thực hiện. Nhìn lại lịch sử phát triển giáo dục của dân tộc ta trong các triều đại Phong kiến, có nhiều điều để tự hào với thế giới, song dù sao nền giáo dục chính thống của dân tộc vẫn là nền giáo dục Nho học. Nền giáo dục đó được xây dựng dựa trên nền tảng triết lý Nho giáo, nội dung, phương pháp giáo dục tuy có được cải biên cho phù hợp với đặc điểm của con người và xã hội Việt Nam nhưng vẫn là “kinh”, “sử” giáo điều, học theo lời dạy của các hoàng đế Trung Hoa.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược, đất nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền giáo chính thống của nhà nước đã có nhiều biến đổi, nhưng đó vẫn là nền giáo dục ngoại lai, không phải nền giáo dục của dân tộc Việt Nam.

Từ khi giành được độc lập dân tộc, ngay trong năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, mặc dù đất nước còn muôn vàn khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tiến hành hàng loạt cải cách giáo dục mang lại những thành tựu to lớn và được xã hội đồng tình hưởng ứng, đồng thời đã bắt tay vào xây dựng một nền giáo dục mới mang tính dân tộc, đại chúng và khoa học. Đó là nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương xây dựng nền giáo dục kháng chiến, kiến quốc. Từ đó đến nay đất nước ta đã trải qua 3 cuộc cải cách giáo dục chính thức. Cuộc cải cách lần thứ nhất vào năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ 2 vào năm 1956 đã tạo cơ sở cho miền Bắc tiến lên xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang nét riêng của dân tộc Việt Nam. Bước vào những năm 1960, nhiều mô hình nhà trường mới được xuất hiện trở thành những điểm sáng trong nền giáo dục của nước nhà.

Tuy nhiên, từ khi chiến tranh leo thang ra miền Bắc, cả nước tập trung toàn lực cho cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, các nhà trường vẫn thi đua dạy tốt, học tốt, nền giáo dục mới vẫn tiếp tục vươn lên tự khẳng định mình, nhưng việc tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận giáo dục mới chưa có điều kiện để tiến hành một cách chính quy, căn bản, toàn diện. Lý luận về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Sau khi niềm Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cuộc cải cách lần thứ 3 được khởi xướng từ năm 1979, nhằm xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 đang tiến hành thì bắt gặp công cuộc đổi mới đất nước, một số mục tiêu, nhiệm vụ cải cách chưa thực hiện xong thì phải điều chỉnh theo hướng đổi mới. Cuộc cải cách giáo dục được hòa nhập vào công cuộc đổi mới, trở thành quá trình đổi mới giáo dục và được kéo dài đến tận ngày nay. Trong quá trình đổi mới đó, bối cảnh thế giới và trong nước liên tiếp có những biến động lớn. Trước tình hình gay cấn đó, Đảng, Chính phủ và ngành giáo dục đã cố gắng tìm mọi giải pháp để chấn hưng và giữ vững định hướng phát triển giáo dục. Trong số những giải pháp đó có cả những giải pháp mang tính tình huống, làm cho quá trình đổi mới giáo dục mang tính chắp vá, thiếu tính hệ thống, căn bản và toàn diện.

Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều vấn đề mới về giáo dục đã và đang đặt ra đòi hỏi phải có một chủ trương đường lối mang tính chiến lược định hướng cho sự đổi mới, phát triển giáo dục một cách bền vững. Nhiều nhà khoa học đã lên tiếng đề xuất các giải pháp khác nhau về cải cách giáo dục. Trong đó có những ý kiến đề nghị “dỡ ra làm lại từ đầu”, có ý kiến đề nghị “đổi mới tận gốc” nền giáo dục hiện nay. Lại có quan điểm cải cách giáo dục Việt Nam theo mô hình giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 4 năm 2009 Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 242-TB/T.Ư trong đó khẳng định: tiếp tục xây dựng “một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1]. Tiếp đó, Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” [2]. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, một lần nữa khẳng định: Xây dựng nền giáo dục Việt Nam “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [3, tr.121].

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam được thực hiện xuyên suốt trong lịch sử và gắn liền với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Đó là định hướng chiến lược cho quá trình đổi mới, phát triển giáo dục hiện nay.

2.2. Đặc trưng bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một mục tiêu của tư tưởng độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của giáo dục phải thống nhất với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội. Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chỉ có thể thực hiện được đồng thời với mục tiêu độc lập dân tộc. Vì vậy, bản chất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục độc lập dân tộc.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Việt Nam. Triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng giáo dục của dân tộc Việt Nam được đúc kết từ thực tiễn lịch sử, được tồn tại trong dòng chảy của nền văn hóa dân gian Việt Nam. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng của Đảng về giáo dục. Đó là cơ sở phương pháp luận để xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục được xây dựng dựa trên cơ sở nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh, hội nhập, hợp tác quốc tế, các nền văn hóa đang có xu hướng thâm nhập vào nhau làm đảo lộn các giá trị truyền thống. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đứng vững trên những giá trị mang bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập quốc tế. Chỉ có thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng khi đứng vững trên nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Trong thế giới hội nhập hiện nay có nhiều mô hình giáo dục rất đa dạng, nhiều nội dung giáo dục hấp dẫn, nhưng mọi mô hình và nội dung giáo dục chỉ có giá trị khi nó phù hợp tương thích với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Niệt Nam.

2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, tiếp tục đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Quảng cáo

Một là, đổi mới giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Hồ Chí Minh

Không có một môn khoa học nào có thể phát triển được mà lại không dựa trên một nền tảng triết học nhất định. Muốn đưa nền giáo dục Việt Nam vươn tới đỉnh cao của khoa học giáo dục không thể không dựa trên những triết lý giáo dục của dân tộc, mà đỉnh cao là triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Thực chất triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là những luận điểm triết học về con người, về mối quan hệ của con người với vũ trụ, với thế giới tự nhiên và xã hội. Bằng những kinh nghiệm thực tiễn, tổ tiên ta đã đúc kết nên những triết lý giáo dục rất dễ hiểu nhưng rất thâm thuý và rất sát thực, hiệu quả đối với con người Việt Nam. Những triết lý đó đã trở thành cơ sở lý luận định hướng cho mọi hoạt động của dòng giáo dục dân gian âm thầm và mạnh mẽ của dân tộc dưới các triều đại phong kiến.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến, nền giáo dục mới của nước ta từng bước được hình thành. Đó là nền giáo dục cách mạng nhưng mang đậm những đặc điểm rất riêng của dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh kháng chiến, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những triết lý giáo dục của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin để xây dựng và chỉ đạo nền giáo dục mới. Nếu không dựa trên những tư tưởng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh thì không thể xây dựng được nền giáo dục kháng chiến, không thể đào tạo được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu vừa kháng chiến vừa kiến quốc lúc bấy giờ.

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là triết lý về con người, lấy con người làm trung tâm. Đổi mới giáo dựa trên nền tảng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là quá trình đổi mới được xuất phát từ con người, vì con người.

Hai là, đổi mới giáo dục phải tuân thủ theo quy luật phát triển của nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử

Văn hóa là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, văn hóa phát triển đến chừng mực nào thì giáo dục cũng phát triển tương đương ở chừng mực ấy. Nhìn lại lịch sử, Việt Nam đã từng có nền văn hóa giáo dục phát triển khá cao so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, thời nhà Hồ đã đề ra chủ trương cải cách giáo dục với những giải pháp rất tiến bộ. Mặc dù cuộc cải cách không thành công, nhưng tư tưởng giáo dục tiến bộ đi trước thời đại của nhà Hồ đã đặt ra những vấn đề cho các cuộc cải cách giáo dục cần phải suy nghĩ. Một nền văn hóa giáo dục đã từng phát triển rực rỡ như vậy trong lịch sử thì nhất định bản thân nó phải chứa đựng những yếu tố tích cực cho sự phát triển mới trong tương lai. Dù có đổi mới giáo dục theo hướng nào nhưng nếu không tôn trọng quá khứ lịch sử, không dựa trên nền tảng lịch sử văn hóa giáo dục của dân tộc mình thì trước sau cũng thất bại.

Để xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang bản sắc dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải nghiên cứu, tổng kết, phát hiện ra những quy luật vận động phát triển của nền văn hóa giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Tìm ra đặc điểm riêng chi phối sự vận động phát triển đó, những nguyên nhân thành công và thất bại của các cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử dân tộc từ xưa tới nay.

Ba là, đổi mới giáo dục phải phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục luôn có tính lịch sử cụ thể, phát triển giáo dục phải phù hợp với trình độ phát triển chung của xã hội. Đổi mới giáo dục phải căn cứ vào điều kiện thực tại và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam. Giáo dục vừa phải đi trước sự phát triển, định hướng cho sự phát triển vừa phải tương thích với sự phát triển của xã hội. Không thể nôn nóng xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại vượt ra ngoài khuôn khổ phát triển của xã hội hiện tại.

Trong khi xã hội đang vận động, phát triển, nhiều vấn đề lý luận chính trị còn phải tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm, chưa thể kết luận ngay được, cơ chế quản lý mới đang hình thành, kỷ cương xã hội đang từng bước ổn định, thì sự biến động thiếu ổn định của nền giáo dục cũng là lẽ đương nhiên. Dù cho giáo dục có cố gắng đến mấy đi nữa thì sự đổi mới, phát triển của nó vẫn bị chế ước bởi trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng và các hình thái ý thức xã hội của chế độ xã hội hiện hành. Mọi sự định hướng phát triển giáo dục, đào tạo phải dựa trên sự định hướng phát triển xã hội, phải tương thích với quá trình phát triển xã hội. Nghĩa là, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì giáo dục phải trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình thực hiện các mục tiêu cách mạng đã đặt ra.

Bốn là, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay không phải là “Bế quan tỏa cảng” khép kín theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, cũng không phải là tự đánh mất mình, đổi mới chạy theo đuôi của các nền giáo dục khác trên thế giới. Ngược lại, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đủ sức đứng vững trước mọi thử thách của thời đại, chủ động trong việc lựa chọn những giá trị quốc tế và chủ động trong việc lan tỏa những giá trị Việt Nam ra quốc tế.

Trong xu thế hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có nhiều yếu tố thời đại nảy sinh và biến động rất nhanh. Tất cả những yếu tố đó cùng với sự vận động của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những mâu thuẫn mới trong lĩnh vực giáo dục. Đó là mâu thuẫn giữa tính ổn định tương đối của sự phát triển giáo dục với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường; giữa tính lâu dài của quá trình giáo dục với tính ngắn hạn của điều tiết thị trường; giữa tính hiệu quả chậm của tác động giáo dục với tính hiệu quả nhanh của tác dụng thị trường; giữa tính nhân văn của giáo dục với tính khắc nghiệt của cạnh tranh thị trường. Quá trình đổi mới, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam phải kịp thời phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn đó, mặt khác phải tăng cường khả năng dự báo, bám sát sự biến đổi trong cung cầu của thị trường nhân lực xã hội để điều chỉnh cơ cấu chuyên ngành và phương thức đào tạo nhân lực. Phải thường xuyên bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo, chủ động thích ứng và ứng biến theo sự thay đổi của thời cuộc.

3. Kết Luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong thư gửi học sinh, sinh viên nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tháng 9 năm 1945 có giá trị như một bản tuyên ngôn của một nền giáo dục mới. Tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một nội dung nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Cơ sở của sự đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong tình hình hiện nay là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Đó là “Một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1].

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban chấp hành Trung ương Đảng, Kết luận số 242-TB/T.Ư ngày 15-4-2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TƯ 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật Hà Nội-2011, trang 130-131

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr.32

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.