Từ những ngày dạy học thương khó... Nghĩ về vai trò của người Thầy

09:40 | 11/11/2022
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, c

Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.

Những ngày tháng không thể nào quên được

Tôi nhận quyết định của Ty Giáo dục Hải Hưng về công tác tại trường cấp III Văn Lâm (nay là Trường THPT Văn Lâm) từ tháng 10 năm 1975. Tôi công tác tại Trường đến tháng 10 năm 1978 thì được chuyển về Hà Nội, công tác tại một cơ quan của Bộ Giáo dục. Chỉ 3 niên học ở Trường, một khoảng thời gian không dài trong cuộc đời dạy học của tôi, nhưng lại là khoảng thời gian tôi nhớ mãi, không thể nào quên được những ngày thương khó ở nơi đây.

Nhớ mãi, vì đó là những năm tháng tôi mới bước vào nghề dạy học, thuộc cái thuở ban đầu ấy, nên kỉ niệm rất sâu đậm. Nhớ mãi, vì ngày ấy tôi cũng như nhiều bạn bè đồng nghiệp cùng trang lứa dạy học với tất cả tâm huyết của mình, nên có nhiều ấn tượng không thể phai nhạt, ghi xương, khắc cốt. Nhớ mãi, vì dạy học ngày ấy có nhiều điều khác lắm so với dạy học bây giờ. Nhớ mãi, vì những ngày đó vô cùng gian khó, thương nhớ trong sự nghiệp trồng người của chúng tôi.

Trường ở cạnh UBND huyện Văn Lâm, gần ga Lạc Đạo, thuộc xã Lạc Đạo, một vùng đất trung tâm của huyện, nhưng cũng có thể nói là vùng sâu xa của huyện. Cái tên của địa danh Lạc Đạo gợi lên trong chúng tôi âm hưởng không vui. Từ Như Quỳnh, đi vào Lạc Đạo, càng đi càng thấy buồn. Chiều chiều, khi HS đã về hết, khu tập thể GV cũng vắng vẻ (GV người địa phương về nhà), nghe tiếng còi tàu, nhìn ra cánh đồng mênh mông, những người GV trẻ chúng tôi, lòng buồn rười rượi. Trường chưa có ti vi, GV cũng ít người có ra đi ô, caset, về đêm khu trường chìm trong không gian u tịch. Những đêm mưa thì tiếng ếch nhái, chẫu chuộc, côn trùng tấu lên những bản nhạc của đồng quê khiến cho chúng tôi càng thấy cô đơn.

Dãy nhà tập thể của GV chúng tôi nằm ở giữa cánh đồng, được làm bằng tranh tre, nứa lá, tường đất, nền đất. Xung quanh Trường trồng cây cúc tần, cây găng, cây chuối làm hàng rào. So với một số trường ở Hưng Yên mà tôi đã đến thời ấy như Trường cấp III Khoái Châu (ngôi trường Tôi dạy từ 1971 đến 1975), Trường cấp III Bần Yên Nhân, Trường cấp III Văn Giang thì Trường cấp III Văn Lâm khó khăn hơn nhiều về cơ sở vật chất. Tuy nhiên, Trường đã có điện lưới nên không khí trong Trường về ban đêm cũng đỡ cảnh lạnh lẽo, quạnh hiu. Sân trong khu tập thể của GV cũng là sân đất. Trời mưa thì đi lại từ nhà này sang nhà khác, hay đi lên lớp, đất cứ quánh lại, bết lại dưới đế giày, dép, gỡ ra rất khó, chúng tôi nói vui là đất này mến khách, giữ khách. Trời nắng thì bụi. Về mùa rét, thì gió đông bắc thổi nghe rợn người. Tôi nhớ mãi cái giếng khơi của khu tập thể. Giếng to, sâu nhưng nước thì rất vàng. Chúng tôi múc nước về chứa trong xô, chậu và dùng phèn chua cho vào nước, khuấy tan, để nước lắng lại nước sẽ trong, lấy nước đó để dùng trong sinh hoạt. Cạnh nhà của tôi ở là một con mương nhỏ và kế tiếp là con đường từ chợ Đậu (thuộc xã Lạc Đạo) đến chợ Hè (thuộc xã Chỉ Đạo). Thầy trò dạy học ở trên lớp nhưng vẫn có thể nghe rõ được các câu chuyện của người dân đi đường.

Chúng tôi vẫn thường nói một cách văn hoa là trường mình đã được ngói hóa (các lớp học tường được xây gạch, mái lợp ngói, nền lát gạch, các cửa sổ, cửa ra vào khang trang). Trong nắng thu vàng óng của ngày Khai Trường (5/9), mái trường ngói đỏ tươi, tường vàng, các ô cửa màu xanh, trông ngôi trường rực rỡ, long lanh rất là quyến rũ.

Những ngày tháng dạy học thân thiện, tất cả vì HS thân yêu

Vào các năm học 1975 – 76, 1976 – 77, 1977 – 78, Trường chỉ có từ 12 đến 15 lớp (tôi không nhớ chính xác, mỗi khối lớp 8, 9 và 10, nay là lớp 10, 11 và 12 chỉ 4 hay 5 lớp). Đội ngũ GV trong Trường cũng chỉ vài chục người. Có một số thầy cô là người địa phương, còn phần đông thầy cô ở ngoài tỉnh, có cả thầy cô ở khu Bốn (ở Thanh Hóa, ở Nghệ An) và ở miền Nam. Họp hội đồng GV rất vui và có chất lượng. Thầy Nguyễn Thành Xuẩn, Hiệu trưởng là người cẩn thận, chu đáo, rất nghiêm túc trong công việc nhưng cũng lại rất uyển chuyển, có tình, có lí khi xử lí công việc. Các buổi hợp hội đồng do thầy Xuân chủ trì bao giờ cũng đi vào bản chất của vấn đề, gọn mà hiệu quả.Vì Trường có nhiều “cây đa, cây đề” trong Làng Giáo của Hưng Yên, của Hải Hưng, nên ngay từ những năm tháng cách nay hơn 50 năm, trong các cuộc họp của Hội đồng sư phạm nhà trường ý kiến phản biện của GV đã sôi nổi và đa dạng. Nhờ có các ý kiến phản biện mà không khí làm việc trong Hội đồng sư phạm của nhà trường đã ngày càng dân chủ hơn.

Sự gắn kết giữa GV chủ nhiệm, GV bộ môn với HS là chặt chẽ theo hướng hiểu HS, chia sẻ với HS, giúp các em khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt. Trong kế hoạch công tác của GV chủ nhiệm phải có kế hoạch đi thăm, tìm hiểu việc học tập ở nhà của HS. Có nhiều buổi chiều trong tuần, chúng tôi sau khi dạy xong tiết 1, tiết 2 lại “vi hành” bằng xe đạp đến mãi các xã ở khu vực ga Khuyến Lương, ở Tân Hưng, Việt Hưng để tìm hiểu điều kiện, hoàn cảnh khó khăn trong học tập của HS.

Hàng năm. cứ vào dịp cuối năm học, khoảng tháng 4, tháng 5, một số môn học, trong đó có Văn, Toán, HS lớp cuối cấp lại được thầy, cô dạy thêm (cả phụ đạo, cả bồi dưỡng) và HS học thêm. Thầy dạy thêm một cách tự giác, tâm huyết, vì HS; HS học thêm một cách tự nguyện, học để nắm vững kiến thức. Nội dung dạy học thêm cũng không ngoài việc củng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức đã học và rèn luyện một số kĩ năng làm bài cho HS. Dạy thêm và học thêm thời ấy rất vô tư, hồn nhiên vì không vướng bận vào câu chuyện của việc thu tiền. Khái niệm “mua bằng, bán điểm” hầu như không có trong cuộc sống học đường, yếu tố thị trường cũng chưa tác oai, tác quái trong quá trình dạy học của GV và HS. Một số thầy cô trong trường có đi dạy thêm (dạy ở trường bổ túc thôn Ngô Xuyên, xã Như Quỳnh, dạy ở trường bổ túc đặt tại Chùa Ông, xã Tân Quang) thì mới có thù lao chút đỉnh.

Quảng cáo

Những giờ dạy học có tính sáng tạo

Là GV dạy Văn, dạy một môn học có rất nhiều lợi thế, nếu không muốn nói là có lợi thế nhất trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cẩm, đạo đức, tâm hồn cao đẹp cho HS, nhưng trong thực tiễn dạy học chúng tôi lại nhận ra một thực trạng là có rất nhiều HS không thích học môn Văn, giờ Văn. Trao đổi với các em, các em cho biết, rất thích Văn, yêu Văn nhưng với một số giờ dạy học cụ thể, với các bài cụ thể thì các em chán học. Hiện tượng trong giờ Văn nhưng HS không chú ý nghe giảng, lại đọc tiểu thuyết, đọc sách báo, không phải là điều hiếm gặp trong dạy học. Vào thập niên 70 – 80 của thế kỉ trước, trên văn đàn của Việt Nam, cuốn tiểu thuyết “X 30 phá lưới” của Đặng Thanh, nói về nhà tình báo Phan Thúc Định rất cuốn hút bạn đọc. HS truyền tay nhau đọc “X 30 Phá lưới”. Cứ có sách là các em đọc, đọc ngấu nghiến. Rõ rằng là, HS vẫn yêu Văn, các em chỉ không yêu một số giờ Văn, bài Văn cụ thể nào đó thôi.

Từ thực tế đó, chúng tôi suy nghĩ phải thay đổi cách dạy học, giúp HS có cách tiếp cận khác đối với tác phẩm Văn được dạy trong nhà trường. Chúng tôi làm công việc này một cách lặng lẽ, tế nhị. Bởi vì, đây là vấn đề có tính chất nhạy cảm. Vào thời điểm của những năm trước đổi mới (1986), trong giáo dục, trong dạy học sự chi phối của tư duy một chiều, áp đặt, tư duy hành chính, bao cấp đối với GV đã diễn ra một cách rất nặng nề, khó cưỡng lại được. Sách giáo khoa là tối thượng, là đúng 100%. Dạy học không thể khác SGK. Kiểu dạy học phổ biến, chủ yếu nhất của thời kì này là dạy học giáo điều, thầy nói, trò nghe, ghi chép và khi làm bài thì nói lại những điều đã có ở trong SGK, nhắc lại những điều thầy đã giảng ở trên lớp. Tính tích cực nhận thức của HS bị hạn chế. Nhận ra điều này, trong giờ dạy của mình, chúng tôi đã cố gắng dạy học theo hướng phát động, khơi gợi sự suy nghĩ của HS. Chúng tôi cố gắng chọn một số bài thơ, tác phẩm Văn có chất Văn, giàu chất Văn cho HS tham khảo. Trong dạy học, chúng tôi không tạo áp lực cho HS. Và, việc làm này giúp HS yêu Văn hơn, yêu giờ dạy học Văn ở trên lớp hơn. Cũng có một số thầy cố trong tổ Văn, thầy cố ở trong Trường ủng hộ, khuyến khích cách dạy học của chúng tôi. Rồi, những buổi họp Tổ chuyên môn (Tổ Văn), những buổi dự giờ luôn luôn là những buổi sinh hoạt có tính chuyên môn sâu sắc, mà sau này bằng lí luận khoa học giáo dục, bằng cách nhìn của lí luận dạy học hiện đại chúng tôi mới nhận thức được một cách sâu sắc cách dạy học của chúng tôi ngày ấy theo định hướng của dạy học nêu vấn đề, sử dụng nghiên cứu trường hợp, sử dụng thảo luận nhóm. Bài nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện” (Nghiên cứu Giáo dục, số 28, tháng 11/1973) là tài liệu gối đầu giường đối với GV dạy Văn chúng tôi.

Nhắc lại đôi điều như nêu trên là một cách để chúng tôi tri ân Ngôi Trường thân yêu, Trường THPT Văn Lâm mà chúng tôi đã có thời gian được gắn bó sâu sắc, được chia sẻ buồn vui cùng đồng nghiệp, được dạy học với tinh thần tất cả vì học sinh thân yêu!

Đôi điều suy ngẫm về vai trò của người Thầy

Vai trò của người Thầy luôn được đề cao và coi trọng, hình ảnh người Thầy giáo luôn tiêu biểu trong mọi tầng lớp của xã hội, và nghề dạy học được thừa nhận là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý. Đã có rất nhiều bản nhạc, bài thơ, trang văn ca ngợi nghề dạy học, ca ngợi người Thầy.

Nhìn vào lịch sử của dân tộc, trong ba vị trí đặc biệt quan trọng của xã hội Việt xưa “Quân (Vua) - Sư (Thầy) - Phụ (Cha)”, thì "Thầy" xếp sau "Vua" và trên cả "Cha mẹ". Trong văn học dân gian nói chung và ca dao tục ngữ nói riêng, vai trò của người thầy được khẳng định: "Không Thầy đố mày làm nên", "Công cha, nghĩa mẹ, ơn Thầy", “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Muốn con hay chữ phải yêu lấy Thầy”... Thầy là người được xã hội ở thời nào cũng vậy đặc biệt coi trọng và tôn vinh, là người mà nhân dân gửi gắm niềm tin, đào tạo, dạy dỗ, giáo dục con em họ học hành mà thành tài. Thầy giáo là biểu tượng thiêng liêng, cao quý cho sự học, là “khuôn vàng thước ngọc” của đạo đức, nhân cách để học trò noi theo (Thầy nào trò ấy), để trở thành người có đức, có nhân, có tài đứng ra xây đời, giúp nước.

Đạo lý thầy-trò là một trong những đạo lý thiêng liêng nhất của con người. Cũng như đạo trung của dân với nước và đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ, đạo lý thầy-trò góp phần tạo nên truyền thống cao đẹp, bản sắc văn hóa của dân tộc và cốt cách con người Việt Nam.

Trong truyền thống Việt Nam, Thầy giáo luôn hết mình dạy dỗ, không chỉ truyền tải kiến thức cho học trò, dạy học trò nên người, thành người, mà Thầy giáo còn luôn giữ phẩm giá thanh cao để làm gương cho học trò noi theo. Còn học trò cũng phải giữ đúng “đạo học trò”, nhất mực coi trọng những lời dạy bảo của thầy, chăm chỉ học tập và ứng xử cho phải đạo. Nếu phạm lỗi phải biết kính cẩn xin lỗi và sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy, nước ta mới có nhiều thầy giỏi, trò tài, tạo nên lịch sử vẻ vang hàng nghìn năm văn hiến. Tuy nhiên, người Thầy giáo chân chính cũng luôn mong muốn dạy một thì học trò biết mười và “hậu sinh khả úy”, “con hơn cha là nhà có phúc”,…

Người Thầy được xã hội tôn vinh nhưng trọng trách mà xã hội đặt ra cho người thầy cũng hết sức nặng nề. Trò không ngừng học, người thầy cũng phải không ngừng tự học, học nữa, học mãi, tự làm mới mình để đủ sức khai sáng, khơi nguồn sáng tạo cho thế hệ trẻ theo đà tiến bộ của văn hóa xã hội và khoa học kỹ thuật hiện đại trong thời đại 4.0.

Ngày nay, mặc dù xã hội có nhiều đổi mới, nhiều giá trị có sự biến đổi, nhưng đạo Thầy-Trò truyền thống vẫn được giữ gìn và phát huy.

Cách mạng Tháng 8 thành công, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, giặc đói giặc rốt, giặc ngoại xâm hoành hành. Mặc dù bận trăm công, ngàn việc bộn bề, song Bác Hồ luôn đề cao và quan tâm đến công tác giáo dục, nâng cao trình độ dân trí cho toàn dân. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, Bác Hồ thiết tha căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần vào công học tập của các cháu”. Ngoài quan tâm đến việc học tập của các cháu, sinh thời Người luôn đề cao sứ mệnh của người Thầy giáo, coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Người khẳng định: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?. Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất…, những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh… Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề Thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục đào tạo chính là đội ngũ những người Thầy giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Lời căn dặn này của Người đến ngày nay, trong công cuộc đổi mới giáo dục vẫn còn nguyên giá trị.

Trong xã hội ngày nay, mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều yếu tố hiện đại, tiện ích có thể tham gia vào quá trình giáo dục con người, nhưng vẫn không gì có thể thay thế được vị trí đặc biệt quan trọng của Thầy-Cô giáo. Bởi lẽ, dù xã hội có phát triển như thế nào đi nữa, ngườiThầy vẫn luôn là biểu tượng cho nhân cách, chuẩn mực đạo đức và là người truyền vào tâm hồn học trò những điều tốt đẹp, thắp sáng niềm tin trong tâm hồn học trò, gieo mầm thiện để nhân lên những điều thiện trong tâm căn mỗi học trò. Học trò là trung tâm của một giờ dạy, của quá trình dạy học, giáo dục, nhưng Thầy giáo vẫn không thể là cái bóng mờ, vẫn luôn luôn giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, khơi gợi, thắp sáng,.. trong tâm hồn cao đẹp của học trò những giá trị cao đẹp./.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.