Đổi mới phương pháp đào tạo các môn Khoa học Xã hội và Nhân văn theo hướng tích cực đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

10:22 | 23/11/2022
Hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, đại học nói riêng là đòi hỏi bức thiết của toàn xã hội. Giáo dục và đào tạo hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người chứ không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ trang bị kiến thức thuần túy. "Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắ

Hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, đại học nói riêng là đòi hỏi bức thiết của toàn xã hội. Giáo dục và đào tạo hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người chứ không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ trang bị kiến thức thuần túy. "Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội"[1]. Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo thì đổi mới phương pháp phải ở vị trí trung tâm. Trong xu thế đó và đáp ứng tốt với yêu cầu "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hoá một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; bảo đảm số lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ"[2], việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) trong các nhà trường quân đội cần tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm. Để thực hiện tốt hơn phương hướng này, cần thực hiện những bước đi phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm của từng nhà trường quân đội hiện nay.

Trước hết, các nhà trường quân đội cần tăng cường tổ chức hội thảo, trao đổi học thuật để đi đến thống nhất nhận thức về việc cần nhanh chóng triển khai phương pháp đào tạo tích cực trong tất cả các môn học, đặc biệt là các môn KHXH&NV với lộ trình phù hợp; hướng tới nhận thức chung về đổi mới phương pháp đào tạo (PPĐT) và phương pháp đào tạo tích cực. Cần có cách hiểu đầy đủ rằng đổi mới PPĐT thực chất không phải là sự phủ định sạch trơn PPĐT cũ và thay thế bằng một loạt các PPĐT mới. Về mặt bản chất, đổi mới PPĐT là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới PPĐT là làm thế nào để học viên phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình hình thành, phát triển năng lực và cả cách thức để có được năng lực ấy, phát triển và hoàn thiện nhân cách. Từ nhận thức đó, đi tới cách hiểu thống nhất về phương pháp giảng dạy tích cực. Phương pháp đào tạo tích cực coi học viên là trung tâm của quá trình đào tạo. PPĐT tích cực kết hợp hài hòa những PPĐT được sử dụng trước đây (mà người ta vẫn gọi là PPĐT truyền thống) và hệ thống các phương pháp khác với sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật dạy học. Như vậy PPĐT tích cực không đối lập với PPĐT truyền thống và phương pháp này càng không phải chỉ là việc chuyển tải nội dung bài giảng lên các slide trình chiếu như cách hiểu khô cứng. Phương pháp mới là sự kết hợp hài hòa, linh hoạt nhiều phương pháp trong đó tùy thuộc vào khả năng của đối tượng đào tạo và điều kiện vật chất của từng nhà trường.

PPĐT tích cực hướng tới cái đích là phát triển năng lực, phẩm chất ở cả người học, người dạy và các bộ phận có liên quan. Với học viên phương pháp mới nhằm nâng cao ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, nâng cao kỹ năng làm việc với người khác, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng trình bày và thảo luận.v.v. Với giảng viên, phương pháp mới đòi hỏi vai trò cao hơn của họ đó là vai trò tổ chức, hướng dẫn, định hướng, điều khiển quá trình nhận thức, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng của học viên, sinh viên. Như vậy, vai trò của giảng viên không đơn thuần là truyền thụ kiến thức và vai trò của họ không những không giảm đi mà còn tăng lên.

Thứ ba, việc triển khai thực hiện PPĐT tích cực cần tiến hành với những bước đi phù hợp phù hợp với đặc điểm nhà trường và đối tượng đào tạo.

Các Khoa, bộ môn cần nghiên cứu cụ thể tiến hành PPĐT tích cực ở đối tượng nào hoặc môn học nào trong hệ thống các môn học. Việc tiến hành PPĐT tích cực nên được tiến hành từ đối tượng học viên đào tạo dài hạn, ở một số phần cơ bản trước. Vì đổi tượng này có có thuận lợi là tuổi đời trẻ, nhanh nhạy với cái mới. Sau đó, trên cơ sở đánh giá, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện để triển khai thực hiện rộng khắp trong tất cả các môn học của nhà trường. Đối với môn học được xác định tiến hành PPĐT, cần tiến hành xây dựng đề cương học phần và công bố đề cương chi tiết môn học cho học viên nắm bắt trước khi vào môn học. Đây là vấn đề rất quan trọng để học viên hiểu được logic tiến trình và chủ động trong tham khảo tài liệu trước khi bước vào môn học. Đồng thời, ngay từ đầu môn học, giảng viên phải giới thiệu các tài liệu học tập đã chọn lọc theo từng vấn đề trong nội dung giảng dạy. Các tài liệu liên quan được xác định thành tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo và có nguồn tham khảo rõ ràng, tin cậy.

Quảng cáo

Giảng viên cần tiến hành xây dựng kịch bản giờ giảng tích cực phù hợp, chi tiết cho từng chương. Trong đó dự kiến thời gian cụ thể phần giảng viên trình bày; phần học viên trình bày và thời gian cho hoạt động định hướng, điều chỉnh quá trình nhận thức của giảng viên đối với học viên. Mỗi chương, tiết cần chú trọng ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa vận dụng vào hoạt động thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn quân sự. Vấn đề này đòi hỏi giảng viên KHXH&NV trong các nhà trường quân đội vừa phải hiểu biết sâu sắc về môn học vừa phải có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, đặc biệt là thực tiễn hoạt động quân sự. Khi tiến hành xây dựng kịch bản, phù hợp với đặc thù là tính trừu tượng hóa rất cao của các môn KHXH&NV giảng viên phải nghiên cứu kỹ và lựa chọn những nội dung cốt lõi, khó khăn để trình bày. Phần còn lại của bài giảng thì giao cho học viên nghiên cứu trước để trình bày trên lớp bằng trình chiếu hoặc thuyết trình. Phương pháp này thực sự đặt người học vào vị trí trung tâm, đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo rất cao của học viên. Đó là cơ sở thuận lợi giúp người học tiếp nhận và phát triển kiến thức trong sự so sánh đối chiếu, hình thành vốn kiến thức đa dạng đồng thời rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo. Đối với phần tự nghiên cứu để trình bày của học viên, giảng viên cần phân công cụ thể các nhóm học tập, chỉ rõ quyền và trách nhiệm cho các nhóm học tập. Các nhóm tự lựa chọn cá nhân trình bày kết quả nghiên cứu và cho các nhóm khác thảo luận về nội dung đó. Việc trao đổi giữa các nhóm được tiến hành dân chủ, khoa học dưới sự định hướng, điều hành của giảng viên. Cuối mỗi phần giảng viên đều có sự đánh giá về công tác chuẩn bị, về tinh thần, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm để rút kinh nghiệm chung cho các bài học sau. Kết cấu của kịch bản đảm bảo phần trình bày của giảng viên khoảng 50% tiết học, còn lại là phần học viên trình bày và kết luận của giảng viên.

Để làm tốt PPĐT tích cực, về cơ bản các bài giảng của giáo viên cần được thiết kế trên phần mềm Powerpoint, đảm bảo tính định hướng, chọn lọc. Một số nội dung trọng tâm của môn học cần đầu tư công phu, phong phú cả về hình ảnh, phim minh họa sát vấn đề. Bên cạnh đó, các giảng viên phải vừa làm, vừa học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ tin học và kỹ năng sư phạm để kết hợp hài hòa giữa nhiều phương pháp. Khi đó, phương pháp đào tạo sẽ đảm bảo linh hoạt, đảm bảo hoàn thành tốt bài giảng trong mọi tình huống, kể cả khi xảy ra tình huống bất thường về kỹ thuật. Giảng viên khi sử dụng PPĐT tích cực cần đầu tư nghiên cứu, tăng cường các câu hỏi gợi mở nhằm trao đổi với người học, để học viên làm chủ quá trình nhận thức của mình. Sử dụng hợp lý phương tiện trình chiếu, không để xảy ra tình trạng chuyển từ "đọc-chép" sang "nhìn-chép".

Đối với các môn KHXH&NV, hình thức xemina, thảo luận là một hình thức rất quan trọng để phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học. Do đó, nội dung thảo luận cần được giảng viên chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng. Nội dung thảo luận được tính toán, cung cấp cho học viên với thời gian phù hợp tạo điều kiện cho họ có thời gian chuẩn bị chu đáo. Bên cạnh đó, các vấn đề thảo luận luôn được thiết kế với nội dung phong phú, đa dạng với sự chỉ dẫn về nguồn tài liệu của giảng viên. Điều đó giúp họ nhanh chóng hoàn thiện phần chuẩn bị thảo luận của mình. Khi tiến hành thảo luận, giảng viên đóng vai hướng dẫn, định hướng cho người học trình bày và chiếm lĩnh tri thức, tự bồi dưỡng niềm tin khoa học, nắm bắt nội dung sâu sắc và mở rộng trong phạm vi cho phép. Ngoài nội dung đã cung cấp cho người học nghiên cứu trước, giảng viên cần chủ động đưa thêm các tình huống ngẫu nhiên, khó khăn đòi hỏi người học phải phát huy tính sáng tạo, tránh ỷ lại vào phần chuẩn bị trước ở đơn vị. Trong điều kiện thời gian có hạn, việc tổ chức thảo luận nhóm và học đối thoại có thể làm “cháy” giáo án. Do đó giảng viên cần phải lựa chọn những vấn đề trọng tâm và xác định rõ thời lượng cho từng nội dung. Đhọc viên tự tin trong thảo luận, giảng viên phải tạo cho lớp học một không khí học tập thoải mái, thân thiện đồng thời đảm bảo tính nghiêm túc của môi trường quân sự trong suốt môn học. Bên cạnh đó, để tiến hành PPĐT tích cực thì không thể không đổi mới phương pháp đánh giá kết quả. Phương pháp đánh giá kết quả được tổ chức khách quan, phù hợp sẽ là động lực thúc đẩy học viên tích cực, sáng tạo trong học tập và ngược lại. Theo đó, điểm môn học cần được cấu thành bởi điểm chuyên cần, điểm thường xuyên và điểm thi kết thúc môn học với tỷ lệ thích hợp. Điểm chuyên cần và thường xuyên cần đảm bảo sự đánh giá toàn diện, đánh giá cả quá trình, có hình thức thưởng điểm cho những học viên tích cực và cá biệt hóa những cá nhân còn lười biếng trong học tập. Mặt khác, việc ra đề thi các môn KHXH&NV phải được tiến hành bằng ngân hàng đề thi thống nhất, tùy từng đối tượng để ra "đề mở" đòi hỏi sự sáng tạo và là cơ hội thể hiện sự hiểu biết khác nhau của học viên. Bên cạnh đó, công tác thi và chấm thi cần thực hiện nghiêm quy chế, đảm bảo chặt chẽ, nghiêm túc và tạo điều kiện cao nhất cho người học.

Những vấn đề trên là những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn tiến hành phương thức đào tạo tích cực tại Học viện Kỹ thuật Quân sự cho nhiều loại hình và đối tượng đào tạo khác nhau; là một trong những nguyên nhân cơ bản cho những kết quả tích cực Học viện Kỹ thuật Quân sự đạt được những năm gần đây.

Tin tưởng rằng với sự chỉ đạo sát sao thủ trưởng cấp trên mà trực tiếp là đảng ủy, chỉ huy các cấp, quá trình đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng tích cực nói chung và các môn KHXH&NV nói riêng sẽ đạt được nhiều thành công hơn nữa, góp phần quyết định việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các nhà trường quân đội./.


[1] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tr. 2.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.312.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Lan tỏa triết lý giáo dục, khẳng định bản sắc của một ngôi trường tiên phong đổi mới

TCGCVN - Chiều ngày 08/8/2026, tại Trường THPT Đông Đô (Hà Nội), Trường THPT Đông Đô phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Sư phạm tổ chức Hội thảo khoa học giới thiệu cuốn sách "Bản sắc Đông Đô trong tiến trình đổi mới giáo dục Việt Nam" của TS. Võ Thế Quân, Chủ tịch Hội đồng Trường THPT Đông Đô. Sự kiện là một trong những hoạt động trọng điểm chào mừng 35 năm thành lập Trường THPT Đông Đô (1991–2026), thu hút sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà giáo lão thành, đại d

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ PHẠM MINH HẠC – NHÀ KHOA HỌC XUẤT SẮC VỚI NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ GIÁ TRỊ KHAI SÁNG VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

TCGCVN - Ngày 31/7/2026, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông là mất mát lớn đối với nền giáo dục, khoa học tâm lý và khoa học giáo dục Việt Nam. Với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc, Tạp chí điện tử Giáo chức Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân cuộc đời và sự nghiệp của một nhà giáo dục lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.

Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai (nhiệm kỳ 2025-2030)

TCGCVN - Ngày 29/7/2026, tại Hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa (Cơ sở 2), Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa đã long trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai, nhiệm kỳ 2025-2030. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Thầy Trần Đạo Nghĩa (Chủ tịch Tỉnh hội), Cô Nguyễn Thị Thúy Hường và Thầy Nguyễn Cảnh Thái (Phó Chủ tịch Tỉnh hội).

GS.VS. NGND PHẠM MINH HẠC (1935–2026) – NHÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

TCGCVN- Trong những ngày đầu tháng Tám năm 2026, ngành Giáo dục Việt Nam và giới khoa học cả nước bàng hoàng đón nhận tin buồn: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần vào ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát to lớn đối với gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò, mà còn để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong toàn ngành giáo dục Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ cống hiến không mệt mỏi, Giáo sư Phạm Minh Hạc

GS.VS.NGND PHẠM MINH HẠC TỪ TRẦN Ở TUỔI 91

TCGCVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam, đã từ trần vào hồi 1 giờ 10 phút ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tómm tắt: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nói chung và giáo

CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG BỐI CẢNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Nguyễn Quốc Trung Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp Email: [email protected] ThS. Trần Lê Cẩm Tú, Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự ổn định và phát triển của tỉnh Đồng Tháp trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các văn bản và báo cáo liên quan, bài viết làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa