MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

10:02 | 04/08/2026
TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.
MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC  VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

1. Mở đầu

Nhân loại đang ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, đã chứng kiến những bước tiến mạnh mẽ như vũ bão của khoa học và công nghệ, đặc biệt là của trí tuệ nhân tạo (AI). Thực tế cho thấy, tài nguyên thiên nhiên dù vô cùng giàu có, phong phú nhưng cũng là cái hữu hạn chứ không phải vô hạn; chỉ có tri thức của nhân loại, của con người ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu sắc mới trở nên vô hạn. Hơn nữa, trong quá trình phát triển của xã hội, của loài người, có thể nhận thấy bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia các quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của con người, bằng thực tiễn lao động vĩ đại không ngừng nghỉ của con người, sức mạnh của trí tuệ kết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên tăng trưởng và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, làm cho xã hội ngày càng giàu có. Trong bối cảnh đó, để khai thác các nguồn vốn, các nguồn tài nguyên và cả nguồn nhân lực một cách hiệu quả tạo nên chất lượng của sự tăng trưởng thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng, là yếu tố quyết định nhất, yếu tố cốt lõi nhất. Nói điều này để khẳng định, muốn có được nguồn lực con người có chất lượng cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội thì phải đặc biệt chú trọng đến phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo với bất kì quốc gia nào cũng có ý nghĩa là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư để phát triển. Từ xưa cha ông ta đã căn dặn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (Thân Nhân Trung).

“Một số vấn đề Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 21”(595 trang) của GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc xuất bản tháng 12 năm 2010 là cuốn sách thể hiện một tầm nhìn chiến lược, toàn diện, khoa học và sâu sắc về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 21 và cả những năm tiếp theo.

2. Đôi nét về GS. VS. NGND Phạm Minh Hạc -Một nhà khoa học tài năng, một chuyên gia đầu ngành và nhà quản lý giáo dục tâm huyết

Mấy thập kỷ qua đã có rất nhiều bài viết về GS. VS Phạm Minh Hạc, về sách, về các công trình nghiên cứu của GS. VS Phạm Minh Hạc với tư cách Ông là nhà khoa học (khoa học giáo dục, tâm lý học, giáo dục học) và nhà quản lý giáo dục. Rất nhiều học viên Cao học, Nghiên cứu sinh về Khoa học giáo dục, về Tâm lý học, Giáo dục học đã đọc, nghiên cứu, trích dẫn sách của GS Phạm Minh Hạc. Tôi cũng như rất nhiều người làm giáo dục, nhất là những nhà giáo ở Hội Cựu Giáo chức Việt Nam rất thích cuốn sách “Phạm Minh Hạc với đồng nghiệp, những người bạn và học trò”. Ngoài lời giới thiệu, quyển sách tập hợp 41 bài viết về Ông. Quyển sách đó là “Món quà của những người bạn, những người đồng nghiệp có thời gian ngắn dài khác nhau được cùng chung sống, cùng làm việc với GS.TSKH.VS.NGND Phạm Minh Hạc thể hiện sự chia sẻ tình cảm, kí ức, sự tôn trọng một nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nhân dịp Ông tròn 85 tuổi”.

“GS Phạm Minh Hạc là nhà khoa học và cũng là nhà quản lý tận tụy với sự nghiệp giáo dục”; GS có “Hiểu biết sâu sắc về giá trị học, tâm lý học và thực tiễn giáo dục,…”(nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình”

Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc “là một nhà khoa học sư phạm uyên thâm, chuyên nghiệp, chuẩn mực, được đào tạo và tự đào tạo bài bản, không ngừng học hỏi, nghiên cứu và đóng góp cho lý luận dạy và học, chỉ đạo thực tiễn, luôn trăn trở, tận tụy vì sự phát triển của khoa học, giáo dục nước nhà để đóng góp xứng đáng cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và hội nhập quốc tế” (GS. TSKH Trần Văn Nhung, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

GS Phạm Minh Hạc là “Nhà khoa học đầu ngành Tâm lý học Việt Nam” (GS. TS Phạm Tất Dong, nguyên Phó Ban Khoa giáo Trung ương).

“GS. TSKH. VS. NGND Phạm Minh Hạc sinh ngày 7/5/1935 tại thôn Đông Phù, xã Đông Mĩ, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học…Ngay từ nhỏ, Ông đã bắt đầu đi học rất sớm từ năm 1940 ở trường Kiêm Bị, Thanh Trì…Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng Thủ đô, Ông vừa tròn 19 tuổi, học xong cấp III và trở về Hà Nội thi vào Đại học Văn khoa (nay là Đại học sư phạm Hà Nội). Học được một năm thì Ông được Nhà nước cử đi học nước ngoài lúc 20 tuổi. Ông sang Liên Xô (nay là Liên bang Nga) học tại Khoa Giáo dục học của Trường Đại học sư phạm mang tên Lê nin – Mat- xco-va, rồi sau đó chuyển sang chuyên ngành Tâm lý học tạ Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Lô mô nô xôp Ma xco va. Năm 1962, Ông trở về nước, công tác 6 năm tại Tổ Tâm lý Giáo dục, sau thành Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau đó, Ông tiếp tục đi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Theo tấm gương của những người thầy đi trước như: Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Mạnh Trường, Trần Đức Thảo,…Ông muốn đi vào những lĩnh vực khoa học mới và khó trong khoa học giáo dục, đó là Tâm lý học và đã chọn Tâm lý học thần kinh để làm khoa luận tốt nghiệp đại học và luận án phó tiến sĩ và sau đó đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ (tức là tiến sĩ hiện nay) ở độ tuổi 30 với đề tài “Sự phát huy trí nhớ khi não trái bị tổn thương, tính cơ động của trí nhớ”(1971). Năm 1977, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Liên Xô với đề tài “Hành vi và hoạt động”.

GS. VS Phạm Minh Hạc là một nhà khoa học viết khỏe, viết đều. Từ năm 1970 đến năm 2010: Ông là tác giả 20 sách và đồng tác giả, chủ biên, đồng chủ biên 40 sách về Tâm lý học, Giáo dục học, Nghiên cứu con người, Gía trị học. Trong đó có 1 sách xuất bản năm 2002 bằn tiếng Nga ở Mat- xcơ - va, 3 sách bằng tiếng Anh ở Hà Nội, 1 sách bằng tiếng Pháp, gần 200 bài báo khoa học, phổ biến khoa học đăng trên các tạp chí, báo trong nước, một số bài báo, bài giảng, nói chuyện, báo cáo khoa học ở Nga, Pháp, Mĩ, Anh, Hà Lan, Úc, Nhật, Cooloombia,…”Những công trình khoa học về chuyên ngành của GS là đóng góp lớn cho đất nước và cả phạm vi thế giới”(Đoàn Trọng Huy).

3. Mục tiêu của giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 21

Chúng ta đang sống ở những năm đầu của thế kỷ XXI. Nhìn lại thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, điều đáng mừng là chưa bao giờ chúng ta lại dành nhiều thời gian, tiền bạc, của cải, nỗ lực và tâm huyết cho Giáo dục & Phát triển con người đến thế. Rất nhiều ngôi trường lớn đã mọc lên, rất nhiều trường phái và phương pháp giáo dục mới ra đời hoặc được du nhập từ nước ngoài, để truyền dạy kiến thức, kỹ năng, huấn luyện và đào tạo. Nhưng thực tế là nhiều người làm giáo dục và cả người nhận sự giáo dục đều chưa chạm được đến bản chất cốt lõi của giáo dục, chủ thể của giáo dục, phương tiện thực sự của giáo dục và cái đích chân chính mà giáo dục hướng tới. Điều này dẫn đến sự manh mún, hình thức, chắp vá, giáo điều và không có một mục đích nhất quán, xuyên suốt trong giáo dục ở nhiều nơi.

Đã đến lúc chúng ta cần có một con đường Giáo dục mới với tinh thần mới – “Giáo Dục Đích Thực”: khai phóng những tiềm năng thực sự đẹp đẽ, kỳ diệu bên trong mỗi con người; đồng thời giúp họ gột rửa, chuyển hóa được những thứ xấu xí đang cản trở những tiềm năng ấy phát lộ, nảy nở và bung tỏa. Từ sự khai mở ấy, con người có đủ sức mạnh để giải quyết những vấn đề mâu thuẫn nội tại và dựng xây một cuộc sống viên mãn, hạnh phúc đích thực.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định Mục tiêu tổng quát của giáo dục và đào tạo Việt Nam:

“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.

Chúng tôi đọc và suy ngẫm về “Một số vấn đề về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 21” của GS. VS. NGND Phạm Minh Hạc theo tư tưởng như nêu trên.

4. Giới thiệu chung về cuốn sách:

Nhìn một cách khái quát, nội dung của cuốn sách có tính “biên niên” (ghi theo ngày tháng, theo thời gian), tính khoa học và tính thực tiễn cao.

Phần thứ nhất: 20 vấn đề chung của giáo dục (cả đào tạo)

Phần thú 2 của cuốn sách: 20 báo cáo khoa học đều theo chủ đề về Tâm lý học và Giáo dục học (có 2 báo cáo số 15: 15a và 15b)

Phần thứ 3: Trả lời phỏng vấn (63 phỏng vấn) các báo viết.

Sách ra đời vào năm 2010, là năm có nhiều sự kiện lịch sử trọng đai, sự kiện lớn của dân tộc: Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội; kỷ niệm 65 năm (1945 – 2010) thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 120 năm (1890 – 2010) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; kỷ niệm 35 năm (1975- 2010) giải phóng miền Nam thống nhất đất đất nước,.…

Sách ra mắt bạn đọc để kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam (1999 – 2010). Cũng trong thời gian từ 2007 – 2010 GS. VS có may mắn được hợp tác với một số cơ sở nghiên cứu khoa học, như Hội đồng lý luận Trung ương, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, cơ sở đào tạo – nghiên cứu, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia, một số tạp chí,… GS đã viết một số bài, công trình tham gia vào một số đề tài nghiên cứu quan trọng. Đặc biệt, để chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc trong năm 2010, GS. VS có vinh hạnh được đồng tác giả của tập sách “Nhân cách Hồ Chí Minh” do GS. TS Mách Quang Thắng chủ biên, được điểm lại thành tựu 65 năm nền giáo dục nhân dân. Tập hợp lại được 20 bài, trong tập sách gọi là vấn đề về giáo dục (gồm cả đào tạo). Đó cũng là phần thứ nhất của cuốn sách, từ trang 21 đến trang 236 (216 trang), với tên gọi 20 vấn đề chung.

Phần thứ hai của cuốn sách là tập hợp các báo cáo, với tên gọi 19 báo cáo khoa học (báo cáo số 15 có 15a và 15b) của GS, Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam đã trình bày trong các dịp lễ lớn của Hội cũng như các Hội thảo khoa học do Trung ương Hội tổ chức. 20 báo cáo của Chủ tịch Hội, đều theo chủ đề về Tâm lý học và Giáo dục học, từ trang 237 đến trang 395 (159 trang). Tất cả các báo cáo này có biên tập đôi chỗ, còn để nguyên như một “biên niên”, có tính “biên niên” 20 năm một mặt hoạt động của Hội, của Chủ tịch Hội, của GS. VS Phạm Minh Hạc.

Phần thứ ba của cuốn sách với tên gọi: Trả lời phỏng vấn (gồm 63 trả lời phỏng vấn). Các trả lời phỏng vấn này là sự hợp tác rất quý báu của GS với nhiều tờ báo và nhiều phóng viên. Các nội dung trả lời thu thập được trình bày trong cuốn sách cũng chỉ là trả lời với các báo viết, còn báo hình (truyền hình) và báo nói (đài phát thanh) chưa được trình bày trong cuốn sách này. Tất cả các phỏng vấn đều tập trung vào nội dung giaó dục và chủ yếu từ năm 2007 đến năm 2010. Nội dung trả lời các phỏng vấn ngắn gọn, dễ hiểu, đi vào bản chất của vấn đề đã cho thấy phần nào quan điểm, cách lý giải, cắt nghĩa vấn đề và hướng giải quyết vấn đề về giáo dục của GS. VS Phạm Minh Hạc.

Dưới đây chúng tôi xin được nêu một cách đại cương (như một sự nhận diện) nội dung chính của từng phần và đôi điều nhận xét của cá nhân

Phần thứ nhất: 20 vấn đề chung.

Vấn đề thứ nhất: Sáu mươi năm nền giáo dục nhân dân (1945 – 2010)

Vấn đề thứ hai: Giáo dục và phát triển

Vấn đề thứ ba: Nhân cách – Đối tượng trung tâm giáo dục

Vấn đề thứ tư: Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực: quan niệm và chính sách

Vấn đề thứ năm: Giáo dục và dòng chảy văn hóa- con người và nguồn nhân lực

Vấn đề thứ sáu: Xã hội hóa giáo dục

Vấn đề thứ bảy: Tiếp tục đường lối không thương mại hóa giáo dục – đào tạo

Vấn đề thứ tám: Tâm lý học đường

Vấn đề thứ chin: Vài suy nghĩ về đội ngũ trí thức nước nhà

Vấn đề thứ mười: Mấy ý kiến về giáo dục đại học

Vấn đề thứ mười một: Tiếp tục đổi mới hệ các trường chuyên theo quỹ đạo khoa học

Vấn đề thứ mười hai: 10 vấn đề chiến lược giáo dục

Vấn đề thứ mười ba: Giáo dục nhân bản: phát triển con người bền vững

Vấn đề thứ mười bốn: Giáo dục nhân văn: Nhân cách người dạy – nhân cách người học

Vấn đề thứ mười lăm: Bài học một mô hình

Vấn đề thứ mười sáu: Báo cáo với Thủ tướng về giáo dục

Vấn đề thứ mười bảy: Góp ý kiến gửi Tiểu ban tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh (1991)

Vấn đề thứ mười tám: Phát biểu tại Hội thảo về sửa chữa và bổ sung Luật Giáo dục 2005 do Ủy ban văn hóa thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội tổ chức từ ngày 26 đến 27-8-2009

Vấn đề thứ mười chín: Học tập được rất nhiều ở UNESCO

Vấn đề thứ hai mươi: Giáo dục niềm tin cách mạng

Phần thứ hai: 19 báo cáo khoa học

Báo cáo số 1: Tình hình, phương hướng, nhiệm vụ hoạt động của Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam.

Báo cáo số 2: Báo cáo đề dẫn Hội thảo quốc gia “Tâm lý học với quản lý sản xuất kinh doanh”

Báo cáo số 3: I. Phương pháp tiếp cận hoạt động giá trị

II. Tiến tới nền tâm lý học thế kỷ XXI

Báo cáo số 4: J.Piajet – Nhà tâm lý giáo dục học kiệt xuất của thế kỷ XX

Báo cáo số 5: L.X. Vugôtxki – Nhà tâm lý học kiệt xuất của thế kỷ XX

Báo cáo số 6: Tâm lý học phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Báo cáo số 7: Bài phát biểu của Chủ tịch Hội Tâm lý – Giáo dục Việt Nam tại Lễ đón nhận Huân chương và khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III

Báo cáo số 8: A.R Luria (16.7.1902 – 14.8.1977)- Nhà tâm lý học lỗi lạc thế kỷ XX

Báo cáo số 9: Tìm hiểu quan niệm về xã hội học tập

Báo cáo số 10: Về chất lượng giáo dục

Báo cáo số 11: Giáo dục đối thoại liên văn hóa

Báo cáo số 12: Vài suy nghĩ về đổi mới tư duy giáo dục (Đề cương phát biểu)

Báo cáo số 13: Các khoa học tâm lý – giáo dục Việt Nam triển khai Nghị quyết Đại hội X và sự phát triển Tâm lý học và Giáo dục học nước nhà

Báo cáo số 14: Về triết lý giáo dục

Báo cáo số 15a: Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa

Báo cáo số 15b: Sáu nguyên tắc hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam

Báo cáo số 16: Giáo dục đạo đức học sinh sinh viên

Báo cáo số 17: Sức khỏe tinh thần

Báo cáo số 18: Văn hóa học đường

Báo cáo số 19: Nhà trường Việt Nam trong một nền giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc

Phần thứ ba: Trả lời phỏng vấn

Phỏng vấn 1: Trường không phải là chợ, giáo dục không phải là hàng hóa

Phỏng vấn 2: Xây dựng tính người, tình người trong xã hội văn minh

Phỏng vấn 3: Trí thức Việt Nam mong đợi gì ở tân Bộ trưởng Bộ GD & ĐT

Phỏng vấn 4: Trước những bạo hành trong nhà trường: cần xây dựng “sư đức” như y đức

Phỏng vấn 5: Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam: thay đổi để hội nhập

Phỏng vấn 6: Bình Định nên chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển

Phỏng vấn 7: Tăng học phí

Quảng cáo

Phỏng vấn 8: Tài chính trong giáo dục – bí mật của các bí mật

Phỏng vấn 9: Cải tiến thi đại học theo hướng “hai trong một”: thất bại được báo trước?

Phỏng vấn 10: Tăng học phí: Thế giới không hiểu nổi!

Phỏng vấn 11: Các chuyên gia giáo dục nói gì?

Phỏng vấn 12: Học sinh bỏ học hàng loạt: chuẩn đặt ra đang làm học sinh sợ học.

Phỏng vấn 13: Phanh “hai không” quá gấp!

Phỏng vấn 14: Đào tạo Tiến sĩ: quá dễ dàng

Phỏng vấn 15: Học sinh bỏ học tác động xấu đến mục tiêu phổ cập: vấn đề nhức nhối

Phỏng vấn 16: Tốt nhất là không tăng giá sách giáo khoa

Phỏng vấn 17: Chương trình và sách giáo khoa đè nặng vai trẻ: có dỡ ra làm lại?

Phỏng vấn 18: Đại học trình độ quố tế: phải giữ vững chủ quyền giáo dục

Phỏng vấn 19: Thi vào đại học: Bộ Giáo dục và Đào tạo nên để các trường tự chủ.

Phỏng vấn 20: Về đề án kì thi phổ thông trung học quốc gia: tìm một phương án thích hợp cho hoàn cảnh nước ta.

Phỏng vấn 21: Giới trẻ và nghề “Hot”

Phỏng vấn 22: Nếu mình trong sáng thì họ sẽ ủng hộ

Phỏng vấn 23: Chúng tôi đang lắng nghe

Phỏng vấn 24: Phải quyện giữa dạy nghề và dạy người

Phỏng vấn 25: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam quá…lãng mạn

Phỏng vấn 26: Cần lấy lại niềm tin của người dân

Phỏng vấn 27: Những mong ước đầu năm

Phỏng vấn 28: Chất lượng giáo dục yên tâm về “mũi nhọn”!

Phỏng vấn 29: Ngân sách giáo dục phải minh bạch

Phỏng vấn 30: Góp ý Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục: Hình thành và nâng cao chất lượng giá trị con người

Phỏng vấn 31: Vấn đề chính là con người

Phỏng vấn 32: Cổ phần hóa là phá nát hệ thống giáo dục

Phỏng vấn 33: Có sự nhầm lẫn giũa xã hội hóa và cổ phần hóa

Phỏng vấn 34: Trường đắt nhất không phải là tốt nhất

Phỏng vấn 35: 15 năm trước đã có 75% sinh viên sống thực dụng

Phỏng vấn 36: Trường chứ không phải chợ

Phỏng vấn 37: Phải xem lại đường lối quản lý giáo dục

Phỏng vấn 38: Hãy ghi tên trường vào bằng tốt nghiệp

Phỏng vấn 39: Xã hội hóa giáo dục: Vì sao còn lúng túng?

Phỏng vấn 40: Những xáo trộn gì không cần thiết thì ta chưa nên làm

Phỏng vấn 41: 20 trường đại học hàng đầu: đầu tư không đến chốn

Phỏng vấn 42: Chưa một trường đại học Việt Nam nào đạt chất lượng

Phỏng vấn 43: Chưa có trường đại học đạt chất lượng

Phỏng vấn 44: Máy móc không thể dạy làm người

Phỏng vấn: 45: Diễn đàn “Ơn thầy cô trả bằng gì?”

Phỏng vấn 46: “Ba đổi” để nâng chất lượng giáo dục

Phỏng vấn 47: Ngày xuân nói chuyện “Nguyên khí quốc gia”

Phỏng vấn 48: Con người – nội lực quốc gia

Phỏng vấn 49: Kỷ niệm 50 năm Báo Khoa học và đời sống

Phỏng vấn 50: “Cài” người nhà, khó tuyển người xứng đáng

Phỏng vấn 51: Thầy trò Xô – Việt

Phỏng vấn 52: Đạo đức nhà giáo: Không thể vận động bằng mệnh lệnh hành chính!

Phỏng vấn 53: Không trung thực: Thầy còn mặt mũi nào dạy trò!

Phỏng vấn 54: Cần quan tâm hơn việc dạy làm người

Phỏng vấn 55: Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục đại học: khâu đột phá để nâng cao chất lượng?

Phỏng vấn 56: Nhân lực thời hội nhập: rẻ không phải là thế mạnh

Phỏng vấn 57: Việc dạy làm người đang rất yếu

Phỏng vấn 58: Đạo văn là ăn cắp

Phỏng vấn 59: Chất lượng đại học: kém vì dễ dãi

Phỏng vấn 60: Diễn đàn “Có nên diễu cợt bài thi của học sinh?”

Phỏng vấn 61: Thăng chức không chỉ dựa vào bằng cấp

Phỏng vấn 62: Bằng tiến sĩ thật, giả - bằng giả, mỗi nơi một kiểu

Phỏng vấn 63: Chúng ta quá lãng phí nhân tài

5. Định hướng phát triển giáo dục 2011 – 2020 (thay lời kết)

Giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của “Một số vấn đề về giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI”.

Nội dung của cuốn sách đã có đóng góp to lớn, nhiều mặt vào kho tàng lý luận của khoa học giáo dục, của Tâm lý học, Giáo dục học, Giá trị học,…như lý luận về xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực; lý luận về xã hội hóa giáo dục; về tư tưởng không thương mại hóa giáo dục, về giáo dục nhân cách, giáo dục nhân văn, về chiến lược giáo dục,…qua đó, có tác dụng định hướng quan trọng với sự nghiệp xây dựng, đổi mới, phát triển giáo dục theo Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh. Giá trị của cuốn sách là ở chỗ các bài viết (dù thuộc phần thứ nhất, phần thứ hai hay phần thứ ba) không những trang bị, cung cấp, khơi gợi cho bạn đọc những tầm nhìn bao quát, sâu rộng và giải pháp mới mang tính triệt để, rốt ráo để giải quyết những vấn đề đang tồn tại, bức xúc trong giáo dục mà còn mở ra một tầm nhìn và giải pháp đột phá có tính chiến lược, bền vững để kiến tạo một nền Giáo dục Đích thực cho nhiều con người. Cuốn sách thực sự một món quà quý giá, là món ăn tinh thần có ý nghĩa nhiều mặt đem lại các giá trị tốt đẹp trao gửi tới độc giả là những người thực sự tâm huyết với giáo dục, sự nghiệp giáo dục, với phát triển bản thân, con người và xã hội.

Các vấn đề trong nội dung cuốn sách đều rất quan trọng, thiết yếu liên quan và gắn bó chặt chẽ với quan điểm, đường lối xây dựng, phát triển giáo dục của nền giáo dục nhân dân, nền giáo dục cách mạng do Đảng và Bác Hồ sáng lập, vun đắp.. Tư tưởng, nội dung của 20 vấn đề trên (cũng như nội dung của cả cuốn sách) là một hệ thống quan điểm toàn diện, khoa học và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của giáo dục Việt Nam những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Đó là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và của cha ông. Có những bài (vấn đề), dù chỉ là là mấy ý kiến, vài suy nghĩ, hay báo cáo, góp ý (theo cách nói khiêm tốn của GS), hay phát biểu, đến việc trình bày các vấn đề có ý nghĩa trọng đại của giáo dục: Sáu mươi lăm năm nền giáo dục nhân dân, chiến lược giáo dục, giáo dục nhân bản, giáo dục nhân văn, giáo dục niềm tin cách mạng,…tất cả đều được GS luận giải một cách khoa học và có tính lý luận cao, sâu sắc. Các bài đó vừa có sự phân tích khoa học sâu sắc, thuyết phục lại chứa đựng rất nhiều thông tin, gợi ra những suy nghĩ rất có ích, có tính định hướng cao cho người đọc, cho nhà giáo. Thực sự, qua các bài viết đó, tác giả đã cung cấp cơ sở khoa học sâu săc, cơ sở lý luận vững chắc cho người đọc để hiểu về một nội dung nhất định, cụ thể và từ đó nâng lên một tầm nhìn sâu rộng, khái quát. Ở các bài viết đó chúng ta thấy được nội dung kiến thức hiện đại, phương pháp nghiên cứu đa dạng, phong phú trong lĩnh vức khoa học Tâm lý – Giáo dục của thế giới, kể cả những kinh nghiệm viết và trình bày báo cáo khoa học. Đọc các bài viết của GS người đọc đều có thể chiết xuất được những điều tốt đẹp, quý giá về kiến thức khoa học và kinh nghiệm quản lý giaó dục. Bài “Sáu mươi lăm năm nền giáo dục nhân dân”(1945 – 2010) là vấn đề thứ nhất, đăng ở những trang đầu của của cuốn sách, là bài viết theo yêu cầu của NXB Chính trị quốc gia. Đây là một bài viết có tính tổng kết sáu mươi lăm năm nền giáo dục mới, nền giáo dục được xây dựng và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nền giáo dục mới này là một trong những thành tựu vĩ đại mà nhân dân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đạt được trong thế kỷ XX. Để đánh giá được thành tựu giáo dục mà nhân dân đạt được trong 65 năm qua, GS,VS chỉ rõ cần tìm hiểu đôi nét khái quát về giáo dục ở Việt Nam trước năm 1945 qua ba thời kì: Thời kì Bắc thuộc (từ năm 111 TCN đến năm 938 SCN); thời kì độc lập dân tộc (từ năm 938 đến giữa thế kỷ XX); thời kì Pháp đô hộ (từ những năm 1860 đến 1945). Trong công trình này, ở phần cuối, GS.VS đã khái quát một số thành tựu nổi bật của giáo dục Việt Nam trong 65 năm qua (8 thành tựu nổi bật). Tất cả 8 vấn đề, nội dung được GS nêu, cho đến nay theo chúng tôi vẫn còn có giá trị khoa học và ý nghĩa thời sự cao, gợi mở nhiều khía cạnh, đường hướng mới cho những người làm giáo dục trong bối cảnh giáo dục đang đổi mới mạnh mẽ và chịu nhiều thách thức.

Các vấn đề khác trong phần thứ nhất (Giáo dục và phát triển, Nhân cách – Đối tượng trung tâm của giáo dục, Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực: quan niệm và chính sách,…) cũng đều là những vấn đề trọng tâm, cốt lõi của phát triển giáo dục những năm cuối của thế kỷ XX cũng như những năm đầu của thế kỷ XXI. Giáo dục là chìa khóa của phát triển kinh tế và xã hội; Nhà trường đứng ngoài thương trường; Giáo dục nhân cách là tâm điểm của của các quá trình giáo dục và đào tạo; Con người phát triển qua các hoạt động của họ; Hiện đại hóa, xã hội hóa, chuẩn hóa là định hướng cơ bản cho sự phát triển của giáo dục. Các luận điểm quan trọng trên được rút ra từ quá trình nghiên cứu sâu sắc lý luận về phát triển tư tưởng giáo dục tiến bộ của loài người qua các thời đại cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, truyền thống văn hóa, hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân Việt Nam, của cha ông kết hợp với thành tựu nghiên cứu mới, hiện đại về nhiều lĩnh vực khoa học liên ngành (Tâm lý học, Giáo dục học, Giá trị học,…)

Nhiều vấn đề trong nội dung các công trình trên có giá trị rất cao về khoa học nhân văn, khoa học xã hội, khoa học giáo dục vì nó góp phần hình thành hướng nghiên cứu mới; tư tưởng, quan niệm mới; nhận thức mới; cách tiếp cận mới; lý thuyết mới; phương pháp mới; tri thức mới; phát hiện mới về khoa học giáo dục. Nhiều công trình được công bố, trích dẫn trên các tạp chí khoa học có uy tín quốc tế và trong nước.

“Một số vấn đề về Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI” là một công trình có tác dụng lớn phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống học đường, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển khoa học giáo dục.

Cuốn sách có đóng góp quan trọng cho việc dự báo xu hướng tương lai, hoạch định và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời giá trị của cuốn sách còn góp phần làm chuyển biến nhận thức của xã hội và tác động quan trọng đến đời sống xã hội; nâng cao dân trí; thay đổi tích cực hành vi ứng xử của nhóm, tầng lớp trong xã hội đối với các vấn đề về giáo dục.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo sau đại học ở nước ta (nhất là các cơ sở giáo dục đào tạo về giáo dục học, tâm lý học, khoa học giáo dục, văn học, ngôn ngữ,…) đã nghiên cứu sử dụng ở các mức độ khác nhau trong nội dung cuốn sách để phục vụ cho công tác nghiên cứu và đào tạo đại học, sau đại học của cơ sở mình.

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới nảy sinh, phát triển và tồn tại vĩnh hằng. Lúc đầu giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, diễn ra theo lối quan sát, bắt chước ngay trong qúa trình lao động (săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồng trọt…). Giáo dục là phạm trù xã hội chỉ có ở con người. Giáo dục đóng vai trò như một mặt không thể tách rời cuộc sống con người, xã hội. Giáo dục là một hiện tượng xã hội nảy sinh trong cuộc sống và do nhu cầu cuộc sống. Để tồn tại và phát triển, con người phải lao động tạo sản phẩm. Muốn vậy phải có kinh nghiệm. Do đó giáo dục là điều kiện không thể thiếu để duy trì và phát triển đời sống con người, là phương thức tái sản xuất lao động và nhân cách cho xã hội.

Cách nhìn toàn diện, nhiều chiều cạnh của GS về giáo dục (bao gồm cả đào tạo) là cách nhìn mang tính khoa học, hệ thống, có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu và giải quyết các vấn đề về giáo dục và liên quan đến giáo dục. Nó đề cập đến khả năng nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ và hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố trong vấn đề đó. Cũng qua cách nhìn toàn diện ấy giúp chúng ta, những người đọc, người làm giáo dục nhìn thấy tất cả các khía cạnh, yếu tố và sự tương tác trong vấn đề được đặt ra để suy ngẫm, giải quyết…Xin nêu ví dụ: Bàn về vai trò của người dạy (GV) người học (HS, SV, HV), trong bài “Giáo dục nhân văn: Nhân cách người dạy – nhân cách người học” (vấn đề thứ mười bốn của phần thứ nhất của cuốn sách), ở trang 206, GS viết “…đã nói đến “môi trường giảng dạy hướng vào người học” tức là có yêu cầu về nhiều mặt, trong đó có yêu cầu về phía người dạy, yêu cầu về phía người học, tức là hai nhân vật chính của hoạt động dạy và hoạt động học phải có sự hợp tác rất nhịp nhàng, rất tích cực thì mới đạt được kết quả và hiệu quả của việc dạy và học”. Nhận định của GS thật là sâu sắc, vừa có ý nghĩa khoa học sâu sắc, vừa có tính thực tiễn cao. Trong quá trình dạy học, vai trò, vị trí của người thầy, người GV (cùng với HS) là trung tâm, và “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học” (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Không bao giờ GV là cái bóng mờ của quá trình dạy học và giáo dục.

Trên đây chỉ là đôi nét về giá trị của nội dung cuốn sách. Còn nhiều điều, nhiều ý tưởng khoa học, nhiều gợi ý chỉ đạo giải bài toán của thực tiễn giáo dục, của nhà trường,…được đề cập trong cuốn sách mà chúng tôi chưa có điều kiện phân tích.

6. Kết luận

Từ 20 vấn đề được luận giải, từ 19 báo cáo khoa học được trình bày trong cuốn sách cùng với 63 trả lời phỏng vấn và phần cuối cùng của cuốn sách (Định hướng phát triển giáo dục 2011 – 2020, thay cho lời kết) có thể khẳng định: mọi vấn đề của giáo dục nước nhà từ vĩ mô đến vi mô, từ những vấn đề về chiến lược giáo dục, mục tiêu giáo dục cho đến giải pháp và điều kiện thực hiện,,,,đã được GS đề cập với nhiều chiều cạnh, góc nhìn toàn diện, cơ bản, khoa học mà sâu sắc, cụ thể, sinh động, thuyết phục.

Và theo tôi, một trong những nội dung cơ bản của cuốn sách được toát lên là tư tưởng, quan điểm , triết lý giáo dục “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” (chữ dùng trong Nghị Nghị quyết 29/NQTW, ngày 4 tháng 11 năm 2013). “Thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” là một bước phát triển mới của nhận thức lý luận và tư duy giáo dục, tư duy làm giáo dục. Xuyên suốt của quá trình giáo dục và dạy học phải lấy “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” làm cốt lõi, làm kim chỉ nam. Không theo phương châm đó hoặc thực hiện phương châm đó không toàn diện, không đúng bản chất thì mục tiêu giáo dục và dạy học sẽ hạn chế. Những năm vừa qua, trong xu thế đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục & đào tạo, việc dạy học & giáo dục với triết lý “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt”, với khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yếu” lấy “học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học và giáo dục” sự nghiệp giáo dục đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng mới chỉ là bước đầu. Còn nhiều việc phải làm để thực hiện tốt hơn nữa, sâu sắc hơn nữa triết lý giáo dục “Thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” như Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 đã đề ra.

Những thành tựu trong công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế hiện nay,... đang chứng minh sinh động cho giá trị tư tưởng, giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh, 1948) . Giá trị khoa học và thực tiễn, một tầm nhìn chiến lược, toàn diện và sâu sắc về giáo dục Việt Nam trong “Một số vấn đề về Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI” của GS. VS. NGND Phạm Minh Hạc đã không nằm ngoài quỹ đạo đó.

Tài liệu tham khảo chính

1. Phạm Minh Hạc: Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.

2. Phạm Minh Hạc: Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục, 2011

3. Phạm Minh Hạc với đồng nghiệp, những người bạn và học trò, NXB Giáo dục, Hà Nội 2019.

4. Đoàn Trọng Huy: Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc – Nhà khoa học và quản lý giáo dục tài năng, Tạp chí Giáo chức Việt Nam, số 161 (tháng 9/2020).

5. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục.

6. Ban chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

7. Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục, Bài nói chuyện với cán bộ học sinh trường ĐHSP Hà Nội, ngày 21/10/1964, NXB Giáo dục, trang 235.

Ý kiến bạn đọc

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC  VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.

MỘT TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC, TOÀN DIỆN, KHOA HỌC VÀ SÂU SẮC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 21

TCGCVN- GS.TSKH.VS. NGND Phạm Minh Hạc (07/5/1935 – 31/7/2026) – Nhà tâm lý học, nhà giáo dục học, nhà khoa học về phát triển con người; nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; người có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới giáo dục và phát triển khoa học giáo dục Việt Nam.

Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai (nhiệm kỳ 2025-2030)

TCGCVN - Ngày 29/7/2026, tại Hội trường Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa (Cơ sở 2), Hội Cựu giáo chức tỉnh Khánh Hòa đã long trọng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ hai, nhiệm kỳ 2025-2030. Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Thầy Trần Đạo Nghĩa (Chủ tịch Tỉnh hội), Cô Nguyễn Thị Thúy Hường và Thầy Nguyễn Cảnh Thái (Phó Chủ tịch Tỉnh hội).

GS.VS. NGND PHẠM MINH HẠC (1935–2026) – NHÀ GIÁO DỤC LỚN CỦA VIỆT NAM

TCGCVN- Trong những ngày đầu tháng Tám năm 2026, ngành Giáo dục Việt Nam và giới khoa học cả nước bàng hoàng đón nhận tin buồn: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ, Nhà giáo Nhân dân Phạm Minh Hạc đã từ trần vào ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát to lớn đối với gia đình, đồng nghiệp và các thế hệ học trò, mà còn để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong toàn ngành giáo dục Việt Nam. Hơn bảy thập kỷ cống hiến không mệt mỏi, Giáo sư Phạm Minh Hạc

GS.VS.NGND PHẠM MINH HẠC TỪ TRẦN Ở TUỔI 91

TCGCVN - GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc – nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa VI, VII, VIII, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam, đã từ trần vào hồi 1 giờ 10 phút ngày 31/7/2026, hưởng thọ 91 tuổi.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tómm tắt: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nói chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và