Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động, hình thành Phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo

11:51 | 27/10/2022
Nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới PPDH đối với GV nói riêng và với những người làm giáo dục nói chung không phải là vấn đề khó, mọi người đều tương đối thông suốt, quán triệt, nhưng thực hiện đổi mới PPDH một cách tự giác, bài bản, khoa học, thực chất, thực sự không dễ dàng.

Trong thực tiễn dạy học hiện nay, từ ở bậc phổ thông cho đến đại học, nhìn chung, người học vẫn học tập theo kiểu đọc chép, nghe ghi, học tập một cách thụ động, đối phó. Mặc dù đã có rất nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuộc họp của các nhà quản lí, chỉ đạo giáo dục ở cả cấp trung ương, ở địa phương và đặc biệt ở tất cả các nhà trường từ cấp học mầm non đến đại học phong trào đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) được quan tâm hàng đầu, nhưng giữa lời nói, sự hô hào (lí thuyết) và thực tiễn vẫn còn một khoảng cách lớn. Nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới PPDH đối với GV nói riêng và với những người làm giáo dục nói chung không phải là vấn đề khó, mọi người đều tương đối thông suốt, quán triệt, nhưng thực hiện đổi mới PPDH một cách tự giác, bài bản, khoa học, thực chất, thực sự không dễ dàng. Qua trao đổi với những người đứng lớp ở các cấp, chúng tôi nhận thấy phần đông GV đều cho rằng, phải đổi mới PPDH, chỉ có đổi mới PPDH mới nâng cao được chất lượng đào tạo. Nhưng, đổi mới như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Đánh giá một giáo án, một giờ dạy theo đổi mới PPDH dựa vào tiêu chí nào là chính? ... Còn rất nhiều điều phải bàn thảo. Câu chuyện về đổi mới PPDH thật sự nan giải, không thể là câu chuyện của ngày một, ngày hai là có thể giải quyết cho có kết quả tốt đẹp được. Đổi mới PPDH là một quá trình, một quá trình có sự nghiên cứu, chỉ đạo sâu sát, có diện, có điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, điều chỉnh, rồi tổng kết, đánh giá, và lại tiếp tục triển khai…Trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện đổi mới PPDH, theo chúng tôi, một nội dung / vấn đề cơ bản cần được chú ý chính là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học/ người học/ học sinh. Giúp HS khắc phục kiểu học tập thụ động, bồi dưỡng cho họ phương phá học tập tích cực, chủ động, sáng tạo vừa là con đường, cách thức, vừa là mục đích của đổi mới PPDH. Vấn đề người học luôn luôn là đề tài nghiên cứu không bao giờ cũ của quá trình dạy học, quá trình giáo dục bởi người học là sản phẩm cụ thể, một thế giới sinh động của một hoàn cảnh xã hội lích sử nhất định, không lặp lại. Trong lịch sử giáo dục, lịch sử dạy học đã có thời kì, có lúc chúng ta hiểu một cách đơn giản, máy móc người học, coi họ như cái bình chứa kiến thức cho nên khi dạy đã nhồi nhét, áp đặt kiến thức cho họ. Đương nhiên, dạy học như vậy sẽ không thể nâng cao được chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục.

Thế nào là học tập thụ động?

Học tập là một dạng hoạt động, một loại lao động đặc biệt của con người trong xã hội loài người. Học tập, học hành là một quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích của con người để từ đó hình thành và phát triển nhân cách của mình. Ngày xưa, “nhân vô học bất tri lí”. Ngày nay, học tập được coi là một gía trị sống quan trọng nhất của con người, là quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội tiến bộ. Con người sống phải học tập, học tập suốt đời. Mục đich của học là : học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống.

Học tập thụ động là kiểu học tập mà người học chủ yếu lấy sự ghi nhớ kiến thức, ghi nhớ lời giảng của GV, ghi nhớ sách một cách máy móc làm điêu cốt lõi. Lao động học trong học thụ động luôn luôn bị phụ thuộc, ràng buộc, chi phối bởi các yếu tố ở bên ngoài người học (người GV, tài liệu, thời gian,…). Cũng có người cho rằng học thụ động là kiểu học mà người học lệ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố người GV, tài liệu (đặc biệt là SGK), thời gian học và không gian của lớp học. Sự làm chủ của người học khó có thể được phát huy khi con người trong tâm thế học tập thụ động. Hệ quả của học thụ động là học để mà học (chứ không phải học để hành, học để làm, học để biến đổi bản than và hoàn cảnh). Có thể coi học vẹt là một biểu tượng điển hình của học thụ động. Người học thuộc lòng chữ nghĩa, nhớ lời giảng dạy của GV, nhớ bài trong SGK một cách máy móc, song sự hiểu, giảng giải, cắt nghĩa, liên hệ, vận dụng các kiến thức đó để giải bài toán thực tiễn trong học tập và trong cuộc sống thì người học khó mà thực hiện được.

Học tập chủ động là quá trình người học tìm tòi, khám phá, phát hiện, kiến tạo, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin. Trong quá trình đó người học tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất nhân cách của mình một cách đúng đắn, cao đẹp. Mục đich học tập của người học rất rõ ràng: học để có được các năng lực (năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực làm việc,…) và các kĩ năng trong cuộc sống, làm việc, ứng xử, giao tiếp, hòa nhập,… Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai, Kiến thức đã học thực sự là cần thiết bổ ích cho bản thân người học và cần thiết cho cộng đồng cũng như sự phát triển của xã hội. Học tập chủ động sẽ giúp người học có nhiều khả năng, nhiều phương án lựa chọn và giải quyết những nội dung học tập phù hợp, không viển vông xa thực tế, không thuộc lòng chữ nghĩa theo kiểu lí thuyết suông. Học tập chủ động là một dạng hoạt động nhận thức tích cực. Hoạt động nhận thức, tìm tòi, một dạng hoạt động tích cực của con người phản ánh và tái hiện sự vật, hiện thực khách quan vào trong tư duy, khám phá và nhận biết bản chất của sự vật khách quan, những mối quan hệ có tính biện chứng, tính quy luật của thực tiễn để thích ứng với hiện thực khách quan và cải tạo nó nhằm phục vụ lợi ích cao đẹp của con người, Ngày nay, trong bối cảnh sự phát triển của xã hội hiện đại, nền kinh tế tri thức phát triển thì học tập nói chung là một trong những dạng hoạt động nhân thức chủ yếu của con người trên con đường khám phá và chinh phục tự nhiên, đồng thời là tự phát triển và hoàn thiện bản thân mình.

Để hình thành PP học tập tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS cần:

  1. Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong quá trình dạy học: Ngày nay

với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của thông tin trên tất cả các lĩnh vực, sự hội nhập và toàn cầu hóa đang là xu hướng tất yếu của thời đại, cho nên giáo dục và đào tạo cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp. Người học trong thời đại ngày nay khác xa với người học cách nay vài thập kỉ. Vì vậy, ngày nay, quá trình daỵ học chủ yếu không phải là truyền thụ kiến thức và chứng minh chân lí có sẵn mà quá trình dạy học, về bản chất, là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Dạy học là dạy học sinh cách tìm ra chân lí, dạy họ phương pháp suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, dạy họ cách tự học, tự học suốt đời. Kiểu dạy học ở trên lớp GV chủ yếu thuyết giảng, thuyết giảng từ đầu giờ học cho đến khi hết giờ, GV thể hiện tất cả sự hiểu biết, sự uyên bác của mình trước tập thể HS, GV độc diễn ở trên lớp,…không còn phù hợp với dạy học ngày nay. Dù trong giờ học đó HS có bị cuốn hút nhưng sự hấp dẫn tức thời đó cũng sẽ qua ngay. HS ngày nay với thế giới nội tâm vô cùng đa dạng, phong phú, nhạy cảm, họ tiếp nhận thông tin bằng nhiều cách, nhiều con đường, cho nên trong lớp học mà thụ động, bị động ngồi nghe thầy thuyết giảng, họ sẽ bị ức chế, nghĩa là giờ học sẽ không đem lại cho họ những điều mới mẻ, không khơi gợi được trong tâm trí họ niềm tin và sự khát khao vươn tới những ước mơ cao đẹp. Dạy học là thắp sáng ở người học những chân trời mới mẻ chứ không phải là nhồi nhét kiến thức cho HS một cách nhàm chán.

  1. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhận thức của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

  1. Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp ( đàm thoại, hỏi đấp) là phương pháp không mới trong dạy học. Đó là PP mà giáo viên đặt ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận, bàn thảo, trao đổi với nhau và với cả GV. Nhờ tranh luận, trao đổi HS lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

  • Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi, yêu cầu HS nhớ lại (tái hiện) kiến thức

đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ là chính, ít suy luận. Vấn đáp tái hiện là phương pháp ít có giá trị sư phạm tích cực. Vấn đáp tái hiện được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

  • Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài, chủ

đề, nội dung nhất định, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ (luận chứng) để HS dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn.

  • Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được

sắp xếp hợp lý, khoa học để giúp HS từng bước phát hiện, tìm ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. GV tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa GV với cả lớp, có khi giữa HS với HS, nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, GV là người tổ chức, dẫn dắt sự tìm tòi, còn HS dưới sự hướng dẫn của GV tự lực phát hiện kiến thức mới. Nhờ vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui, sự hứng khởi của việc khám phá, trình độ tư duy của họ được phát triển them một bước.

b. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

Hiện nay, khi xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, có sự quản lí của nhà nước, yếu tố cạnh tranh ngày càng gay gắt thì biết phát hiện sớm và giải quyết hợp lý, kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, nhất là đối với lĩnh vực kinh doanh. Vì vậy, giúp cho HS sự trải nghiệm, biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở góc độ phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu quan trọng của giáo dục và đào tạo.

Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề thường như sau:

  • Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

aXây dựng tình huống có vấn đề;

aPhát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

aPhát hiện, nêu vấn đề cần giải quyết

  • Giải quyết vấn đề đặt ra

aĐề xuất cách giải quyết;

aXác đinh phương án, kế hoạch giải quyết;

aThực hiện kế hoạch giải quyết.

  • Kết luận:

aThảo luận kết quả và đánh giá;

aKhẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

aKết luận, nhận định;

aĐề xuất vấn đề mới.

Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Quảng cáo

Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS.

Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng đánh giá.

Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. HS thực hiện cách giải quyết vấn đề. GV và HS cùng đánh giá.

Mức 4 : HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.

Các mức

Đặt vấn đề

Nêu giả thuyết

Lập kế hoạch

Giải quyết vấn đề

Kết luận, đánh giá

1

GV

GV

GV

HS

GV

2

GV

GV

HS

HS

GV + HS

3

GV + HS

HS

HS

HS

GV + HS

4

HS

HS

HS

HS

GV + HS

Thực hiện dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được, hiểu được tri thức mới, vừa nắm được cách lĩnh hội tri thức đó, phát triển được tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.

  1. Phương pháp hoạt động nhóm

Theo PP này, lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, yêu cầu, nội dung của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :

· Làm việc chung cả lớp :

- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ

- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm

· Làm việc theo nhóm

- Phân công trong nhóm

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

· Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

-Thảo luận chung

-GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV.

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên GV phải biết tổ chức hợp lý và HS đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thưc và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.

  1. Mở rộng hình thức học tập: Để buổi học không bị khô cứng, máy móc, để

tạo hứng thú học tập cho HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học, không gian và thời gian của lớp học có thể được thay đổi, tùy theo nội dung cụ thể của bài học. Theo đó, hình thức học tập có thể không phải trong khuôn viên của 4 bức tường lớp học với bảng đen, bàn ghế GV, với hai, ba dãy bàn ghế của HS ngồi học được sắp xếp tuần tự, hàng lối quy chuẩn mà hàng ngày và nhiều năm các em đã học trong không gian như vậy. Thời gian học tập của bài học, tiết học cũng có thể không cứng nhắc, bất biến theo trình tự được sắp xếp trong giáo án của GV. Giờ học có thể được tổ chức ở trong bảo tàng (bảo tàng lịch sử, bảo tàng quân đội, bảo tàng phụ nữ, bảo tàng mĩ thuật, bảo tàng dân tộc), trong thư viện, ở nhà lưu niệm danh nhân, đài tưởng niệm anh hùng, đền thờ các vị anh hùng, nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa, nơi đường phố, địa danh, nhà máy, công xưởng, hoặc gặp gỡ những nhân chứng sống của những sự kiện trọng đại, gặp gỡ người tốt, việc tốt, v.v..Giờ học như vậy sẽ rất thân thiện với HS, tạo cho HS sự thoải mái, không bị gò bó, nhờ vậy các em sẽ hứng thú hơn trong tiếp nhận, khám phá tri thức, sự kiện. Bên cạnh đó, việc tự học và học ở nhà của HS cũng phải được mở rộng và linh hoạt hơn. GV hướng dẫn HS ngoài giờ học chính khóa ở lớp, có thể tự học ở nhiều nơi, bằng nhiều cách miễn là việc học tập đó của HS phải trên tinh thần tự giác, có chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, cũng không được lạm dụng và thái quá việc mở rộng hình thức học tập, hoặc mở rộng hình thức học tập chỉ mang tính hình thức (có những nội dung buộc phải học ở lớp, ở trong phòng thí nghiệm).

Tóm lại, có nhiều cách để giúp HS khắc phục tiến tới xóa bỏ kiểu học tập thụ động, từ đó, bồi dưỡng hình thành cho họ phương pháp học tập tich cực, chủ động, sáng tạo. Một số nội dung chúng tôi trình bày ở trên chỉ mang tính chất gợi ý để cùng suy nghĩ, trao đổi.

Tài liệu tham khảo:

  1. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Sự thật, Hà Nội.

  1. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết 29 – NQ TW 8, khóa XI về

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đầp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

  1. Vương Bân Thái (chủ biên) (2014), Hiện đại hóa giáo dục, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Đôi bạn cùng tiến chưa vào lớp 12 đã đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 theo quy chế xét tuyển tài năng của Đại học Bách khoa Hà Nội

TCGCVN - Hai học sinh lớp 11G0 của Trường THCS - THPT Newton: Vương Hà Chi và Vũ Nhật Long đã vừa tiếp tục cùng nhau chinh phục 5 điểm tuyệt đối ở 5 môn AP và nếu chiếu theo quy chế Xét tuyển tài năng (phương thức 1.2) mà Trường Đại học Bách khoa Hà Nội công bố năm 2026 thì cả 2 em đều đã chắc chắn đạt điểm xét tuyển tuyệt đối 100/100 điểm. Đây là mức điểm tối đa theo quy chế tuyển sinh của nhà trường, được xác lập dựa trên sự kết hợp giữa các chứng chỉ quốc tế gồm SAT, IELTS và AP.

NĂNG LỰC KẾ TOÁN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt Kế toán phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song công tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 công bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VÓC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phòng Chính trị, Lữ đoàn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khóa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng có. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hóa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tóm tắt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng có nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ giữ vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thông tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đó tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đoàn có thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thông tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thông tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CÓ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình có trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình có trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mô hình huy động toàn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mô hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi công các công trình Trường Phổ thông Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tóm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số còn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHÒNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hoàng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phòng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phòng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khó khăn bậc nhất xứ Nghệ, cô học trò người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khó, học giỏi và nuôi dưỡng ước mơ trở thành cô giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hoàng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hóa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hóa khác nhau không chỉ đòi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tóm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tóm tắt: Sơ đồ tư duy là một công cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn đòi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm môn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GÓC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tóm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới góc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mô hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tô Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tóm tắt: Bài báo phân tích vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT công bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.

‘Người lái đò’ nơi rẻo cao và hành trình hồi sinh chữ Thái cổ

TCGCVN - Sau hơn nửa đời người miệt mài “gieo chữ” nơi rẻo cao xứ Nghệ, khi mái đầu đã bạc, người giáo viên già ấy lại tiếp tục hành trình ngược dòng thời gian, tìm lại và hồi sinh những giá trị văn hóa ngỡ như đã mai một của đồng bào mình. Bà là Sầm Thị Xanh – người phụ nữ nặng lòng với văn hóa Thái ở bản Hoa Tiến.