XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC HOÀN TOÀN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
- Đặt vấn đề
TCGCVN - Trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, sinh viên các nhà trường trong toàn quốc tự hào công bố: “từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” [4]. Lá thư của Hồ Chí Minh vào thời điểm lúc bấy giờ có giá trị như là lời tuyên ngôn cho sự ra đời của một nền giáo dục mới, “Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đồng thời, những nội dung trong lá thư còn chứa đựng một tư tưởng chiến lược định hướng cho sự phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.
Nhận thức về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào cho đúng? Trong bối cảnh hội nhập hợp tác quốc tế hiện nay, tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam có còn phù hợp hay không? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam như thế nào trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc? Đó là những vấn đề đặt ra mà bài viết này cần phải giải quyết.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là đòi hỏi tất yếu khách quan của lịch sử
Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, là nền giáo dục mà chúng ta đã thực hiện, đang thực hiện và sẽ còn phải tiếp tục thực hiện. Nhìn lại lịch sử phát triển giáo dục của dân tộc ta trong các triều đại Phong kiến, có nhiều điều để tự hào với thế giới, song dù sao nền giáo dục chính thống của dân tộc vẫn là nền giáo dục Nho học. Nền giáo dục đó được xây dựng dựa trên nền tảng triết lý Nho giáo, nội dung, phương pháp giáo dục tuy có được cải biên cho phù hợp với đặc điểm của con người và xã hội Việt Nam nhưng vẫn là “kinh”, “sử” giáo điều, học theo lời dạy của các hoàng đế Trung Hoa.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược, đất nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền giáo chính thống của nhà nước đã có nhiều biến đổi, nhưng đó vẫn là nền giáo dục ngoại lai, không phải nền giáo dục của dân tộc Việt Nam.
Từ khi giành được độc lập dân tộc, ngay trong năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, mặc dù đất nước còn muôn vàn khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tiến hành hàng loạt cải cách giáo dục mang lại những thành tựu to lớn và được xã hội đồng tình hưởng ứng, đồng thời đã bắt tay vào xây dựng một nền giáo dục mới mang tính dân tộc, đại chúng và khoa học. Đó là nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương xây dựng nền giáo dục kháng chiến, kiến quốc. Từ đó đến nay đất nước ta đã trải qua 3 cuộc cải cách giáo dục chính thức. Cuộc cải cách lần thứ nhất vào năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ 2 vào năm 1956 đã tạo cơ sở cho miền Bắc tiến lên xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang nét riêng của dân tộc Việt Nam. Bước vào những năm 1960, nhiều mô hình nhà trường mới được xuất hiện trở thành những điểm sáng trong nền giáo dục của nước nhà.
Tuy nhiên, từ khi chiến tranh leo thang ra miền Bắc, cả nước tập trung toàn lực cho cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, các nhà trường vẫn thi đua dạy tốt, học tốt, nền giáo dục mới vẫn tiếp tục vươn lên tự khẳng định mình, nhưng việc tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận giáo dục mới chưa có điều kiện để tiến hành một cách chính quy, căn bản, toàn diện. Lý luận về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.
Sau khi niềm Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cuộc cải cách lần thứ 3 được khởi xướng từ năm 1979, nhằm xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 đang tiến hành thì bắt gặp công cuộc đổi mới đất nước, một số mục tiêu, nhiệm vụ cải cách chưa thực hiện xong thì phải điều chỉnh theo hướng đổi mới. Cuộc cải cách giáo dục được hòa nhập vào công cuộc đổi mới, trở thành quá trình đổi mới giáo dục và được kéo dài đến tận ngày nay. Trong quá trình đổi mới đó, bối cảnh thế giới và trong nước liên tiếp có những biến động lớn. Trước tình hình gay cấn đó, Đảng, Chính phủ và ngành giáo dục đã cố gắng tìm mọi giải pháp để chấn hưng và giữ vững định hướng phát triển giáo dục. Trong số những giải pháp đó có cả những giải pháp mang tính tình huống, làm cho quá trình đổi mới giáo dục mang tính chắp vá, thiếu tính hệ thống, căn bản và toàn diện.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều vấn đề mới về giáo dục đã và đang đặt ra đòi hỏi phải có một chủ trương đường lối mang tính chiến lược định hướng cho sự đổi mới, phát triển giáo dục một cách bền vững. Nhiều nhà khoa học đã lên tiếng đề xuất các giải pháp khác nhau về cải cách giáo dục. Trong đó có những ý kiến đề nghị “dỡ ra làm lại từ đầu”, có ý kiến đề nghị “đổi mới tận gốc” nền giáo dục hiện nay. Lại có quan điểm cải cách giáo dục Việt Nam theo mô hình giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 4 năm 2009 Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 242-TB/T.Ư trong đó khẳng định: tiếp tục xây dựng “một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1]. Tiếp đó, Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” [2]. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, một lần nữa khẳng định: Xây dựng nền giáo dục Việt Nam “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [3, tr.121].
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam được thực hiện xuyên suốt trong lịch sử và gắn liền với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Đó là định hướng chiến lược cho quá trình đổi mới, phát triển giáo dục hiện nay.
2.2. Đặc trưng bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam
Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một mục tiêu của tư tưởng độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của giáo dục phải thống nhất với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội. Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chỉ có thể thực hiện được đồng thời với mục tiêu độc lập dân tộc. Vì vậy, bản chất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục độc lập dân tộc.
Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Việt Nam. Triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng giáo dục của dân tộc Việt Nam được đúc kết từ thực tiễn lịch sử, được tồn tại trong dòng chảy của nền văn hóa dân gian Việt Nam. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng của Đảng về giáo dục. Đó là cơ sở phương pháp luận để xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.
Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục được xây dựng dựa trên cơ sở nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh, hội nhập, hợp tác quốc tế, các nền văn hóa đang có xu hướng thâm nhập vào nhau làm đảo lộn các giá trị truyền thống. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đứng vững trên những giá trị mang bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập quốc tế. Chỉ có thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng khi đứng vững trên nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.
Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Trong thế giới hội nhập hiện nay có nhiều mô hình giáo dục rất đa dạng, nhiều nội dung giáo dục hấp dẫn, nhưng mọi mô hình và nội dung giáo dục chỉ có giá trị khi nó phù hợp tương thích với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Niệt Nam.
2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, tiếp tục đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Một là, đổi mới giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Hồ Chí Minh
Không có một môn khoa học nào có thể phát triển được mà lại không dựa trên một nền tảng triết học nhất định. Muốn đưa nền giáo dục Việt Nam vươn tới đỉnh cao của khoa học giáo dục không thể không dựa trên những triết lý giáo dục của dân tộc, mà đỉnh cao là triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Thực chất triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là những luận điểm triết học về con người, về mối quan hệ của con người với vũ trụ, với thế giới tự nhiên và xã hội. Bằng những kinh nghiệm thực tiễn, tổ tiên ta đã đúc kết nên những triết lý giáo dục rất dễ hiểu nhưng rất thâm thuý và rất sát thực, hiệu quả đối với con người Việt Nam. Những triết lý đó đã trở thành cơ sở lý luận định hướng cho mọi hoạt động của dòng giáo dục dân gian âm thầm và mạnh mẽ của dân tộc dưới các triều đại phong kiến.
Trong suốt thời kỳ kháng chiến, nền giáo dục mới của nước ta từng bước được hình thành. Đó là nền giáo dục cách mạng nhưng mang đậm những đặc điểm rất riêng của dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh kháng chiến, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những triết lý giáo dục của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin để xây dựng và chỉ đạo nền giáo dục mới. Nếu không dựa trên những tư tưởng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh thì không thể xây dựng được nền giáo dục kháng chiến, không thể đào tạo được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu vừa kháng chiến vừa kiến quốc lúc bấy giờ.
Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là triết lý về con người, lấy con người làm trung tâm. Đổi mới giáo dựa trên nền tảng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là quá trình đổi mới được xuất phát từ con người, vì con người.
Hai là, đổi mới giáo dục phải tuân thủ theo quy luật phát triển của nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử
Văn hóa là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, văn hóa phát triển đến chừng mực nào thì giáo dục cũng phát triển tương đương ở chừng mực ấy. Nhìn lại lịch sử, Việt Nam đã từng có nền văn hóa giáo dục phát triển khá cao so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, thời nhà Hồ đã đề ra chủ trương cải cách giáo dục với những giải pháp rất tiến bộ. Mặc dù cuộc cải cách không thành công, nhưng tư tưởng giáo dục tiến bộ đi trước thời đại của nhà Hồ đã đặt ra những vấn đề cho các cuộc cải cách giáo dục cần phải suy nghĩ. Một nền văn hóa giáo dục đã từng phát triển rực rỡ như vậy trong lịch sử thì nhất định bản thân nó phải chứa đựng những yếu tố tích cực cho sự phát triển mới trong tương lai. Dù có đổi mới giáo dục theo hướng nào nhưng nếu không tôn trọng quá khứ lịch sử, không dựa trên nền tảng lịch sử văn hóa giáo dục của dân tộc mình thì trước sau cũng thất bại.
Để xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang bản sắc dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải nghiên cứu, tổng kết, phát hiện ra những quy luật vận động phát triển của nền văn hóa giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Tìm ra đặc điểm riêng chi phối sự vận động phát triển đó, những nguyên nhân thành công và thất bại của các cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử dân tộc từ xưa tới nay.
Ba là, đổi mới giáo dục phải phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục luôn có tính lịch sử cụ thể, phát triển giáo dục phải phù hợp với trình độ phát triển chung của xã hội. Đổi mới giáo dục phải căn cứ vào điều kiện thực tại và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam. Giáo dục vừa phải đi trước sự phát triển, định hướng cho sự phát triển vừa phải tương thích với sự phát triển của xã hội. Không thể nôn nóng xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại vượt ra ngoài khuôn khổ phát triển của xã hội hiện tại.
Trong khi xã hội đang vận động, phát triển, nhiều vấn đề lý luận chính trị còn phải tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm, chưa thể kết luận ngay được, cơ chế quản lý mới đang hình thành, kỷ cương xã hội đang từng bước ổn định, thì sự biến động thiếu ổn định của nền giáo dục cũng là lẽ đương nhiên. Dù cho giáo dục có cố gắng đến mấy đi nữa thì sự đổi mới, phát triển của nó vẫn bị chế ước bởi trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng và các hình thái ý thức xã hội của chế độ xã hội hiện hành. Mọi sự định hướng phát triển giáo dục, đào tạo phải dựa trên sự định hướng phát triển xã hội, phải tương thích với quá trình phát triển xã hội. Nghĩa là, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì giáo dục phải trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình thực hiện các mục tiêu cách mạng đã đặt ra.
Bốn là, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay không phải là “Bế quan tỏa cảng” khép kín theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, cũng không phải là tự đánh mất mình, đổi mới chạy theo đuôi của các nền giáo dục khác trên thế giới. Ngược lại, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đủ sức đứng vững trước mọi thử thách của thời đại, chủ động trong việc lựa chọn những giá trị quốc tế và chủ động trong việc lan tỏa những giá trị Việt Nam ra quốc tế.
Trong xu thế hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có nhiều yếu tố thời đại nảy sinh và biến động rất nhanh. Tất cả những yếu tố đó cùng với sự vận động của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những mâu thuẫn mới trong lĩnh vực giáo dục. Đó là mâu thuẫn giữa tính ổn định tương đối của sự phát triển giáo dục với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường; giữa tính lâu dài của quá trình giáo dục với tính ngắn hạn của điều tiết thị trường; giữa tính hiệu quả chậm của tác động giáo dục với tính hiệu quả nhanh của tác dụng thị trường; giữa tính nhân văn của giáo dục với tính khắc nghiệt của cạnh tranh thị trường. Quá trình đổi mới, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam phải kịp thời phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn đó, mặt khác phải tăng cường khả năng dự báo, bám sát sự biến đổi trong cung cầu của thị trường nhân lực xã hội để điều chỉnh cơ cấu chuyên ngành và phương thức đào tạo nhân lực. Phải thường xuyên bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo, chủ động thích ứng và ứng biến theo sự thay đổi của thời cuộc.
3. Kết Luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong thư gửi học sinh, sinh viên nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tháng 9 năm 1945 có giá trị như một bản tuyên ngôn của một nền giáo dục mới. Tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một nội dung nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Cơ sở của sự đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong tình hình hiện nay là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Đó là “Một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1].
Tài liệu tham khảo
[1]. Ban chấp hành Trung ương Đảng, Kết luận số 242-TB/T.Ư ngày 15-4-2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TƯ 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật Hà Nội-2011, trang 130-131
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội
[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr.32
PGS.TS Trần Đình Tuấn Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục