1. Giáo dục & Đào tạo

XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC HOÀN TOÀN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

08:51 | 05/05/2025
aA

 

  1. Đặt vấn đề

 

TCGCVN - Trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, sinh viên các nhà trường trong toàn quốc tự hào công bố: “từ giờ phút này trở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” [4]. Lá thư của Hồ Chí Minh vào thời điểm lúc bấy giờ có giá trị như là lời tuyên ngôn cho sự ra đời của một nền giáo dục mới, “Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Đồng thời, những nội dung trong lá thư còn chứa đựng một tư tưởng chiến lược định hướng cho sự phát triển của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.

Nhận thức về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào cho đúng? Trong bối cảnh hội nhập hợp tác quốc tế hiện nay, tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam có còn phù hợp hay không? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam như thế nào trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc? Đó là những vấn đề đặt ra mà bài viết này cần phải giải quyết.

 

15-9-1945: Bác Hồ gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên

 

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là đòi hỏi tất yếu khách quan của lịch sử

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, là nền giáo dục mà chúng ta đã thực hiện, đang thực hiện và sẽ còn phải tiếp tục thực hiện. Nhìn lại lịch sử phát triển giáo dục của dân tộc ta trong các triều đại Phong kiến, có nhiều điều để tự hào với thế giới, song dù sao nền giáo dục chính thống của dân tộc vẫn là nền giáo dục Nho học. Nền giáo dục đó được xây dựng dựa trên nền tảng triết lý Nho giáo, nội dung, phương pháp giáo dục tuy có được cải biên cho phù hợp với đặc điểm của con người và xã hội Việt Nam nhưng vẫn là “kinh”, “sử” giáo điều, học theo lời dạy của các hoàng đế Trung Hoa.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược, đất nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, nền giáo chính thống của nhà nước đã có nhiều biến đổi, nhưng đó vẫn là nền giáo dục ngoại lai, không phải nền giáo dục của dân tộc Việt Nam.

Từ khi giành được độc lập dân tộc, ngay trong năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, mặc dù đất nước còn muôn vàn khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta đã tiến hành hàng loạt cải cách giáo dục mang lại những thành tựu to lớn và được xã hội đồng tình hưởng ứng, đồng thời đã bắt tay vào xây dựng một nền giáo dục mới mang tính dân tộc, đại chúng và khoa học. Đó là nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương xây dựng nền giáo dục kháng chiến, kiến quốc. Từ đó đến nay đất nước ta đã trải qua 3 cuộc cải cách giáo dục chính thức. Cuộc cải cách lần thứ nhất vào năm 1950 và cuộc cải cách lần thứ 2 vào năm 1956 đã tạo cơ sở cho miền Bắc tiến lên xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang nét riêng của dân tộc Việt Nam. Bước vào những năm 1960, nhiều mô hình nhà trường mới được xuất hiện trở thành những điểm sáng trong nền giáo dục của nước nhà.

Tuy nhiên, từ khi chiến tranh leo thang ra miền Bắc, cả nước tập trung toàn lực cho cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, các nhà trường vẫn thi đua dạy tốt, học tốt, nền giáo dục mới vẫn tiếp tục vươn lên tự khẳng định mình, nhưng việc tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận giáo dục mới chưa có điều kiện để tiến hành một cách chính quy, căn bản, toàn diện. Lý luận về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Sau khi niềm Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cuộc cải cách lần thứ 3 được khởi xướng từ năm 1979, nhằm xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 đang tiến hành thì bắt gặp công cuộc đổi mới đất nước, một số mục tiêu, nhiệm vụ cải cách chưa thực hiện xong thì phải điều chỉnh theo hướng đổi mới. Cuộc cải cách giáo dục được hòa nhập vào công cuộc đổi mới, trở thành quá trình đổi mới giáo dục và được kéo dài đến tận ngày nay. Trong quá trình đổi mới đó, bối cảnh thế giới và trong nước liên tiếp có những biến động lớn. Trước tình hình gay cấn đó, Đảng, Chính phủ và ngành giáo dục đã cố gắng tìm mọi giải pháp để chấn hưng và giữ vững định hướng phát triển giáo dục. Trong số những giải pháp đó có cả những giải pháp mang tính tình huống, làm cho quá trình đổi mới giáo dục mang tính chắp vá, thiếu tính hệ thống, căn bản và toàn diện.

Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều vấn đề mới về giáo dục đã và đang đặt ra đòi hỏi phải có một chủ trương đường lối mang tính chiến lược định hướng cho sự đổi mới, phát triển giáo dục một cách bền vững. Nhiều nhà khoa học đã lên tiếng đề xuất các giải pháp khác nhau về cải cách giáo dục. Trong đó có những ý kiến đề nghị “dỡ ra làm lại từ đầu”, có ý kiến đề nghị “đổi mới tận gốc” nền giáo dục hiện nay. Lại có quan điểm cải cách giáo dục Việt Nam theo mô hình giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 4 năm 2009 Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 242-TB/T.Ư trong đó khẳng định: tiếp tục xây dựng “một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1]. Tiếp đó, Đại hội XI của Đảng đã đề ra chủ trương “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” [2]. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, một lần nữa khẳng định: Xây dựng nền giáo dục Việt Nam “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [3, tr.121].

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam được thực hiện xuyên suốt trong lịch sử và gắn liền với từng giai đoạn phát triển của cách mạng. Đó là định hướng chiến lược cho quá trình đổi mới, phát triển giáo dục hiện nay.

2.2. Đặc trưng bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một mục tiêu của tư tưởng độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu của giáo dục phải thống nhất với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội. Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam chỉ có thể thực hiện được đồng thời với mục tiêu độc lập dân tộc. Vì vậy, bản chất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục độc lập dân tộc.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Việt Nam. Triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng giáo dục của dân tộc Việt Nam được đúc kết từ thực tiễn lịch sử, được tồn tại trong dòng chảy của nền văn hóa dân gian Việt Nam. Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, triết lý giáo dục Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng của Đảng về giáo dục. Đó là cơ sở phương pháp luận để xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục được xây dựng dựa trên cơ sở nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh, hội nhập, hợp tác quốc tế, các nền văn hóa đang có xu hướng thâm nhập vào nhau làm đảo lộn các giá trị truyền thống. Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đứng vững trên những giá trị mang bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập quốc tế. Chỉ có thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng khi đứng vững trên nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là nền giáo dục hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Trong thế giới hội nhập hiện nay có nhiều mô hình giáo dục rất đa dạng, nhiều nội dung giáo dục hấp dẫn, nhưng mọi mô hình và nội dung giáo dục chỉ có giá trị khi nó phù hợp tương thích với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, hướng vào thực hiện các mục tiêu của cách mạng Niệt Nam.

2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, tiếp tục đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Một là, đổi mới giáo dục dựa trên triết lý giáo dục Hồ Chí Minh

Không có một môn khoa học nào có thể phát triển được mà lại không dựa trên một nền tảng triết học nhất định. Muốn đưa nền giáo dục Việt Nam vươn tới đỉnh cao của khoa học giáo dục không thể không dựa trên những triết lý giáo dục của dân tộc, mà đỉnh cao là triết lý giáo dục Hồ Chí Minh. Thực chất triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là những luận điểm triết học về con người, về mối quan hệ của con người với vũ trụ, với thế giới tự nhiên và xã hội. Bằng những kinh nghiệm thực tiễn, tổ tiên ta đã đúc kết nên những triết lý giáo dục rất dễ hiểu nhưng rất thâm thuý và rất sát thực, hiệu quả đối với con người Việt Nam. Những triết lý đó đã trở thành cơ sở lý luận định hướng cho mọi hoạt động của dòng giáo dục dân gian âm thầm và mạnh mẽ của dân tộc dưới các triều đại phong kiến.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến, nền giáo dục mới của nước ta từng bước được hình thành. Đó là nền giáo dục cách mạng nhưng mang đậm những đặc điểm rất riêng của dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh kháng chiến, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những triết lý giáo dục của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin để xây dựng và chỉ đạo nền giáo dục mới. Nếu không dựa trên những tư tưởng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh thì không thể xây dựng được nền giáo dục kháng chiến, không thể đào tạo được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu vừa kháng chiến vừa kiến quốc lúc bấy giờ.  

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là triết lý về con người, lấy con người làm trung tâm. Đổi mới giáo dựa trên nền tảng triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là quá trình đổi mới được xuất phát từ con người, vì con người.

Hai là, đổi mới giáo dục phải tuân thủ theo quy luật phát triển của nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử

Văn hóa là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, văn hóa phát triển đến chừng mực nào thì giáo dục cũng phát triển tương đương ở chừng mực ấy. Nhìn lại lịch sử, Việt Nam đã từng có nền văn hóa giáo dục phát triển khá cao so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, thời nhà Hồ đã đề ra chủ trương cải cách giáo dục với những giải pháp rất tiến bộ. Mặc dù cuộc cải cách không thành công, nhưng tư tưởng giáo dục tiến bộ đi trước thời đại của nhà Hồ đã đặt ra những vấn đề cho các cuộc cải cách giáo dục cần phải suy nghĩ. Một nền văn hóa giáo dục đã từng phát triển rực rỡ như vậy trong lịch sử thì nhất định bản thân nó phải chứa đựng những yếu tố tích cực cho sự phát triển mới trong tương lai. Dù có đổi mới giáo dục theo hướng nào nhưng nếu không tôn trọng quá khứ lịch sử, không dựa trên nền tảng lịch sử văn hóa giáo dục của dân tộc mình thì trước sau cũng thất bại.

Để xây dựng nền giáo dục tiên tiến, mang bản sắc dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải nghiên cứu, tổng kết, phát hiện ra những quy luật vận động phát triển của nền văn hóa giáo dục Việt Nam trong lịch sử. Tìm ra đặc điểm riêng chi phối sự vận động phát triển đó, những nguyên nhân thành công và thất bại của các cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử dân tộc từ xưa tới nay. 

Ba là, đổi mới giáo dục phải phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục luôn có tính lịch sử cụ thể, phát triển giáo dục phải phù hợp với trình độ phát triển chung của xã hội. Đổi mới giáo dục phải căn cứ vào điều kiện thực tại và xu thế phát triển của xã hội Việt Nam. Giáo dục vừa phải đi trước sự phát triển, định hướng cho sự phát triển vừa phải tương thích với sự phát triển của xã hội. Không thể nôn nóng xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại vượt ra ngoài khuôn khổ phát triển của xã hội hiện tại.

Trong khi xã hội đang vận động, phát triển, nhiều vấn đề lý luận chính trị còn phải tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm, chưa thể kết luận ngay được, cơ chế quản lý mới đang hình thành, kỷ cương xã hội đang từng bước ổn định, thì sự biến động thiếu ổn định của nền giáo dục cũng là lẽ đương nhiên. Dù cho giáo dục có cố gắng đến mấy đi nữa thì sự đổi mới, phát triển của nó vẫn bị chế ước bởi trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng và các hình thái ý thức xã hội của chế độ xã hội hiện hành. Mọi sự định hướng phát triển giáo dục, đào tạo phải dựa trên sự định hướng phát triển xã hội, phải tương thích với quá trình phát triển xã hội. Nghĩa là, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc thì giáo dục phải trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình thực hiện các mục tiêu cách mạng đã đặt ra.

Bốn là, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại     

Xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay không phải là “Bế quan tỏa cảng” khép kín theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, cũng không phải là tự đánh mất mình, đổi mới chạy theo đuôi của các nền giáo dục khác trên thế giới. Ngược lại, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là phải đủ sức đứng vững trước mọi thử thách của thời đại, chủ động trong việc lựa chọn những giá trị quốc tế và chủ động trong việc lan tỏa những giá trị Việt Nam ra quốc tế.

Trong xu thế hội nhập quốc tế và sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có nhiều yếu tố thời đại nảy sinh và biến động rất nhanh. Tất cả những yếu tố đó cùng với sự vận động của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những mâu thuẫn mới trong lĩnh vực giáo dục. Đó là mâu thuẫn giữa tính ổn định tương đối của sự phát triển giáo dục với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường; giữa tính lâu dài của quá trình giáo dục với tính ngắn hạn của điều tiết thị trường; giữa tính hiệu quả chậm của tác động giáo dục với tính hiệu quả nhanh của tác dụng thị trường; giữa tính nhân văn của giáo dục với tính khắc nghiệt của cạnh tranh thị trường. Quá trình đổi mới, xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam phải kịp thời phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn đó, mặt khác phải tăng cường khả năng dự báo, bám sát sự biến đổi trong cung cầu của thị trường nhân lực xã hội để điều chỉnh cơ cấu chuyên ngành và phương thức đào tạo nhân lực. Phải thường xuyên bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo, chủ động thích ứng và ứng biến theo sự thay đổi của thời cuộc.

3. Kết Luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam trong thư gửi học sinh, sinh viên nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tháng 9 năm 1945 có giá trị như một bản tuyên ngôn của một nền giáo dục mới. Tư tưởng xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam là một nội dung nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Cơ sở của sự đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong tình hình hiện nay là tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam. Đó là “Một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [1].

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban chấp hành Trung ương Đảng, Kết luận số 242-TB/T.Ư ngày 15-4-2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TƯ 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật Hà Nội-2011, trang 130-131

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr.32

 

 

 

 

 

PGS.TS Trần Đình Tuấn Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Ý kiến bạn đọc
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).