Vì một nền văn hĩa dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học

13:57 | 06/02/2023
Việc nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hĩa và chuẩn mực con người Việt Nam luơn được Đảng ta đặc biệt coi trọng, coi đĩ vừa như một mục tiêu chiến lược, vừa như một giải pháp chủ đạo, cốt yếu để thực hiện thành cơng chiến lược phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh tồn cầu hĩa và Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư

Việc nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam luôn được Đảng ta đặc biệt coi trọng, coi đó vừa như một mục tiêu chiến lược, vừa như một giải pháp chủ đạo, cốt yếu để thực hiện thành công chiến lược phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Vì một nền văn hóa dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn dân chủ và khoa học_Ảnh: Tư liệu

1. Ngay từ khi nước nhà chưa giành được độc lập, trong Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa và chỉ rõ văn hóa là một trong ba mặt trận: chính trị, kinh tế, văn hóa; đồng thời đưa ra đường lối phát triển văn hóa theo 3 nội dung: dân tộc, khoa học, đại chúng.

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở. Đó là một nền văn hóa mang tính đặc thù dân tộc cao. “Thật có tinh thần thuần túy Việt Nam”, trong đó biết thừa hưởng di sản với những “kinh nghiệm tốt của văn hóa Việt Nam xưa và văn hóa nay”, đồng thời biết “học lấy cái hay, cái tốt của thế giới của Tây phương hay Đông phương”(1). Người cũng chỉ ra rằng: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất là mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa thấm vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ…. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”. Trên tinh thần đó, Người khẳng định sứ mệnh cao cả: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”(2).

Qua mỗi chặng đường cách mạng, Đảng ta luônnhận thứcrõ vai trò to lớn của tầng lớp văn nghệ sĩ, trí thứccũng như yêu cầu cấp bách của việc vận động, tổ chức, định hướng và lãnh đạo để tầng lớp tinh hoa này đem tài năng, trí tuệ phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đảng đã giương cao ngọn cờ chỉ hướng, mở rộng con đường cho đội ngũvăn nghệ sĩ cống hiến tài năng và sức lực, tận hiến cho sự nghiệp cứu quốcvà xây dựng đất nước - với nhiều tác phẩm thực sự trở thành những “tượng đài nhân văn”được ghi nhận và đánh giá cao,là“biên niên sử bằng thơ, ca, nhạc, họa”, “giai điệu tự hào” vang vọng mãi trong tâm hồn các thế hệ.

Đường lối đổi mới của Đảng đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống dân tộc và khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho cho đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức. Ngay trong thời gian đầu thời kỳ đổi mới, giữa lúc còn muôn vàn khó khăn, hàng loạt tác phẩm văn học và nghệ thuật (VHNT) đặc biệt xuất sắc đã ra đời, vừa như tiếng kèn xung trận, vừa như ngọn đuốc sáng tạo, góp phần cổ vũ nhân dân ta đấu tranh không khoan nhượng với những mặt trái của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp với tư duy và quán tính văn hóa của một thời kỳ giáo điều, bảo thủ;cổ vũ những nỗ lực, tìm tòi đổi mới, đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội.

Vì một nền văn hóa dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học

Hội thảo Văn hóa 2022 với chủ đề “Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa’’, sáng 16/12/2022.

Trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nền văn hóa - văn nghệ của chúng ta vừa có thêm những cơ hội mới nhưng cũng phải đương đầu với nhiều thách thức mới, trong đó, gian nan nhất chính là cuộc “lột xác”, tự đổi mới để vươn lên xứng tầm với dân tộc và thời đại mà không bị lạc đường, chệch hướng trong diễn biến phức tạp khôn lường của cơ chế thị trường.

Sự nghiệp đổi mới của chúng tađã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(3), trong đó có đóng góp của giới văn nghệ sĩ, trí thức.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định “xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” là một trong những phương hướng chiến lược cơ bản của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, theo đó cần “tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đây là chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng. Trước đó, Nghị quyết số 33-NQ/TW (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước cũng xác định “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc …”(4). Theo đó, mục tiêu cụ thể số một của chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam gắn với phát triển con người Việt Nam là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam.

2. Một trong những chức năng quan trọng của VHNT là giáo dục. Thông qua giáo dục mà các giá trị cốt lõi của xã hội, của dân tộc, của nhân loại được nhận thức, thẩm thấu, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và lan tỏa trong xã hội; đồng thời, những giá trị tốt đẹp sẽ không ngừng bồi đắp, nuôi dưỡng và củng cố nhân cách của cá nhân và cộng đồng.

Dưới hình thức văn học dân gian, văn học đã tham gia giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa con người từ tuổi ấu thơ qua lời ru của mẹ, lời răn dạy của cha, chuyện kể của ông bà và những trò chơi dân gian phong phú. Đến khi tới trường, các tác phẩm VHNTtiếp tục đóng vai trò giáo dục rất quan trọng, không chỉ giới hạn trong các môn học ngữ văn, lịch sử, đạo dức, giáo dục công dân mà còn qua nhiều nội dung của các hoạt động giáo dục khác nhau. Bệ đỡ cho hai môi trường giáo dục nói trên chính là giáo dục xã hội, mà ở đó các tác phẩm VHNTchính là “món ăn tinh thần”, không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu giải trí mà còn nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, năng lực văn hóa, năng lực xã hội, chăm lo nền tảng đạo đức xã hội - tức là thông qua nhiều cách thức để can thiệp, định hướng hệ giá trị, sàng lọc giá trị, bồi đắp những giá trị truyền thống tốt đẹp, giảm thiểu và loại bỏ dần những giá trị không phù hợp, khuyến khích và nuôi dưỡng sự hình thành những giá trị mới, tiến bộ…

VHNT không chỉ phản ánh tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, thái độ của quần chúng, tức là không chỉ nói thay tiếng nói của nhân dân bằng ngôn ngữ VHNT. Cao hơn thế, “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” - VHNT hướng quần chúng, dẫn dắt nhân dân vươn tới những giá trị cao quý, tương lai tươi sáng và khát vọng chân chính.

3. Có thể nói, từ sau Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, giới văn nghệ sĩ nước nhà thoát ra khỏi tình trạng bế tắc; cùng dấn thân vào cuộc đấu tranh giải phóng vĩ đại của dân tộc. Ở đó, bằng tài năng văn chương, nghệ thuật xuất sắc, thế hệ văn nghệ sĩ hiện đại tiên phong đã có những cống hiến rất đặc biệt, tiêu biểu như những sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Văn Cao, Tố Hữu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu.v.v..

Trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc, giới văn nghệ sĩ nước nhà đã luôn đồng hành cùng toàn dân, dũng cảm, hy sinh, tạo ra một giá trị tinh thần to lớn với hàng ngàn tác phẩm VHNT, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH. Thành tựu to lớn, toàn diện và đóng góp có tầm vóc, có ý nghĩa lịch sử của văn nghệ sĩ vào sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chế độ mới trong suốt 30 năm (1945-1975) đã được Đảng và nhân dân trân trọng ghi nhận.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, nền văn hóa, VHNT Việt Nam đã có những bước chuyển mình sâu sắc, mạnh mẽ và khá toàn diện với những thăng trầm đáng ghi nhớ và những bài học đáng suy ngẫm.

Nhìn lại gần bốn thập niên đổi mới đất nước, chúng ta đều có thể thấy rằng đó là những chặng đường đầy chông gai, khó khăn phức tạp bộn bề và cả những thách thức sống còn đối với vận mệnh của quốc gia, của chế độ. Vượt qua tất cả những thách thức, hiểm nguy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm nên những kỳ tích mới.

Thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước chính là nguồn cảm hứng vô tận, đồng thời là “trận địa” không kém phần khốc liệt đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà.

Quảng cáo

Dưới tác động từ những mặt trái của cơ chế thị trường, nền VHNT nước nhà dường như đã bị biến dạng, tỏ ra rất bỡ ngỡ, lúng túng và bị động trong quá trình hội nhập; dường như chưa đủ bản lĩnh để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu có thêm đời sống văn hóa của nhân dân, tăng cường “kháng thể văn hóa” của dân tộc. Vì thế, việc tiếp thu ảnh hưởng văn hóa bên ngoài của một bộ phận không nhỏ nhân dân, đặc biệt là giới trẻ, bị sa vào xu hướng xô bồ, nhất là trong các lĩnh vực giải trí. Trong khi đó, chúng ta lại chưa có những giải pháp đủ mạnh và hiệu quả để quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam ra thế giới, để văn hóa góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nói như thế, hoàn toàn không có ý phủ nhận những nỗ lực, thành tựu và đóng góp của giới văn nghệ sĩ vào sự nghiệp đổi mới của dân tộc, mà chỉ muốn nhìn thẳng vào sự thật, chỉ ra những hạn chế, bất cập để cùng nhau tiến lên.

Thực tế là trong những thập kỷ vừa qua, đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà cũng đã không ngừng nỗ lực, tìm tòi, thử nghiệm, tìm ra hướng đi mới, cách tiếp cận mới, những ngôn ngữ nghệ thuật mới phù hợp hơn với yêu cầu mới của xã hội và thời đại. Đã có những thử nghiệm táo bạo, đưa đến thành công và cả chưa thành công trong các lĩnh vực sân khấu, ca nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, múa...

Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục dành cho sự nghiệp văn hóa-văn nghệ và giới văn nghệ sĩsự quan tâm đặc biệt. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có thể coi là cương lĩnh văn hóa mới của Đảng, mở đường cho sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Tiếp đó, Nghị quyết số 23-NQ/TW(2008) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới nêu rõ: “Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”. Nghị quyết số 33-NQ/TW (năm 2014) xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.”(5)… Gần đây nhất, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, ngày 24/11/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn…”.

Vì một nền văn hóa dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học

4. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan của hiện tượng “chững lại” và thực trạng VHNT Việt Nam những năm vừa qua. Quan sát rộng ra, có thể thấy những gì nền VHNT của chúng ta đã và đang trải qua cũng đã và đang diễn ra ở nhiều nước và khu vực trên thế giới. Tức là, có những vấn đề mang tính quy luật, khó tránh khỏi. Nguyên nhân sâu xa là những chuyển biến sâu sắc, rộng rãi và mau lẹ của thế giới trong kỷ nguyên “hậu hiện đại” và toàn cầu hóa. Ở đó các hệ giá trị truyền thống, bao gồm cả những giá trị phổ quát của nhân loại đã và đang bị thách thức nghiêm trọng, có những giá trị bị đảo lộn, xói mòn, thậm chí bị phủ nhận. Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin - truyền thông, quan niệm “sống gấp” và muôn vàn hình thức kết nối toàn cầu đã khiến cho những sự cọ xát về giá trị, những trào lưu văn hóa, văn chương, nghệ thuật “mới”, “độc”, “lạ”, “phi biên giới” nhanh chóng lan truyền khắp toàn cầu, mạnh mẽ và áp đảo hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây.

Về chủ quan, cần nêu ra một số nguyên nhân quan trọng như sau:

Một là, về nhận thức. Không chỉ các cấp quản lý, ngành, địa phương, mà ngay cả cộng đồng và thậm chí trong gia đình còn chưa thực sự quan tâm, chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của văn hóa nói chung, VHNT nói riêng. Trong chặng đầu của thời kỳ đổi mới, điều này có thể cảm thông được khi chúng ta phải dồn góp toàn lực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ổn định chính trị và giữ vững quốc phòng, an ninh nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Nhưng sau đó, cả một thời gian dài, dưới áp lực tăng trưởng và tác động của kinh tế thị trường, toànxã hội vẫn đặt ưu tiên tuyệt đối cho các mục tiêu kinh tế mà “bỏ quên” văn hóa.

Hai là, về cơ chế lãnh đạo, quản lý. Chúng ta chưa có cơ chế phù hợp và hữu hiệu để đưa các chủ trương của Đảng, chiến lược và chính sách của Nhà nước vào cuộc sống. Nói cho chính xác, điều chúng ta đang thiếu là cơ chế hiệu quả, đủ mạnh, có năng lực thích ứng cao với sự biến đổi toàn cầu và với cơ chế thị trường, phù hợp với yêu cầu của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương. Thay vào đó là cơ chế chi phối sự vận hành của nền VHNT vừa vẫn mang nặng dấu ấn tập trung, quan liêu, bao cấp, vừa lai tạp những yếu tố tự phát kiểu “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường, khiến cho các nỗ lực đổi mới trở nên nửa vời, kém hiệu quả, thậm chí lệch chuẩn, lạc hướng.

Ba là, nguồn lực đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa, VHNT còn rất thấp. Điều này thực chất bắt nguồn từ hai nguyên nhân nêu trên, khiến cho nguồn lực đầu tư vừa rất nhỏ, chưa đa dạng hóa; thiếu trọng tâm trọng điểm, manh mún, cào bằng. Nguồn lực tái sinh để tái đầu tư từ chính sự nghiệp phát triển văn hóa, do phát triển công nghiệp văn hóa đưa lại cũng còn rất hạn chế.

Vì một nền văn hóa dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học

Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Trong ảnh: Đua thuyền trong lễ hội truyền thống chùa Bạch Hào, tỉnh Hải Dương)_Ảnh: Tư liệu

Bốn là, thiếu sự chủ động, năng động, sáng tạo của các tổ chức và cá nhân văn nghệ sĩ. Phần đông văn nghệ sĩ còn thụ động, chưa dấn thân và chưa theo kịp sự biến đổi của thực tiễn ở trong nước và thế giới; một số thích nghi tương đối tốt với cơ chế thị trường nhưng lại sớm bộc lộ những khuynh hướng chạy Theo các thị hiếu tầm thường, theo lợi ích cá nhân, trước mắt...

Trên cơ sở nêu trên, xin đề xuất một số giải pháp để VHNTcó những đóng góp tương xứng hơn với kỳ vọng của Đảng và nhân dân trong nỗ lực chung xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thấm nhuần tinh thần dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học:

Thứ nhất, cần đặt toàn bộ sự nghiệp phát triển VHNT vào trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia.

Dẫu còn có những ý kiến khác nhau về “tính hai mặt” của công nghiệp văn hóa thì phát triển công nghiệp văn hóa vẫn là lựa chọn tất yếu, không thể từ nan của các quốc gia - dân tộc. Chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn.Vấn đề là phát triển công nghiệp văn hóa như thế nào?

Đương nhiên, công nghiệp văn hóa là một phần của kinh tế thị trường và nguyên tắc số một là phải tuân thủ quy luật của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, không được quên rằng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền văn hóa Việt Nam phải đảm bảo tính tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Có nghĩa là chúng ta không được phép thả nổi toàn bộ lĩnh vực công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo cho sự điều tiết tự phát của kinh tế thị trường theo nguyên tắc “bàn tay vô hình”. Cần phải nghiên cứu và khu biệt những phân khúc của từng loại hình VHNT; từng nhóm, loại chủ đề, vấn đề và từng nhóm văn nghệ sĩ để có phương án tổ chức, lãnh đạo, quản lý, hỗ trợ đầu tưđúng tầm đúng hướng. Đây là nguyên tắc mà nhiều nước, kể cả những nước không theo chế độ XHCN đã và đang thực hiện.

Mặt khác, cần có những giải pháp mangtính nguyên tắc để bảo vệ người đọc, người nghe, người xem, người hưởng thụ trước những sản phẩm không phù hợp, độc hại, nhất là những sản phẩm nhập ngoại.

Quan trọng nhất là phải tăng cường năng lực hưởng thụ tác phẩmVHNTcủa các tầng lớp nhân dân. Đây là giải pháp hướng tới mục tiêu “kép”, vừa đảm bảo phúc lợi văn hóa của nhân dân, thu hẹp dần khoảng cách thụ hưởng văn hóa của người dân thuộc các vùng miền, các nhóm xã hội khác nhau; đồng thời mở rộng và phát triển thị trường bền vững cho công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Thứ hai, chú trọng đến giải pháp giáo dục.

Đây là biện pháp hữu hiệu nhất, bền vững nhất để gây ảnh hưởng, tác động tích cực lên hệ giá trị, nền tảng đạo đức, lối sống cũng như thái độ và ứng xử văn hóa của con người. Toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân. Trong quá trình đó, những môn học liên quan đến VHNTđã được quan tâm, đổi mới hơn so với trước đây. Tuy nhiên, giáo dục VHNTở môi trường gia đình và xã hội lại đang có những bất cập, phức tạp. Nhiều thế hệ cha mẹ trẻ hiện nay không còn biết hát ru, không thuộc ca dao, cổ tích… Bởi họ vốn lớn lên bằng truyện tranh, nhạc và phim nhập khẩu từ nước ngoài, hoặc đơn giản là họ không có thời gian cho giáo dục con trẻ. Trong xã hội thì game online, mạng xã hội và nhiều tác nhân khác, vì mục đích kiếm tiền, đã không ngừng nhả ra các “nọc độc” phản văn hóa, phi văn hóa. Vì vậy, cấp bách nhất vẫn phải là hoàn thiện thể chế để đảm bảo kỷ cương, tạo môi trường cho VHNT có thể “khuyến thiện, trừng ác” theo chức năng, nhiệm vụ cao cả của mình.

Thứ ba, chăm lo hơn nữa cho đội ngũ văn nghệ sĩ trong điều kiện mới.

Yếu tố căn cốt nhất làm nên con người văn nghệ sĩ là tài năng và năng khiếu. Thiếu yếu tố này thì dứt khoát không thể trở thành văn nghệ sĩ đích thực. Vì thế, tài năng và năng khiếu của văn nghệ sĩ cần phải được phát hiện sớm, được chăm lo đào tạo, bồi dưỡng bài bản và chu đáo; được bảo vệ, tôi luyện và trọng dụng trong môi trường thuận lợi. Đây chính là nhóm giải pháp cốt lõi nhất để đội ngũ văn nghệ sĩ - những “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” phát huy tài năng, tâm huyết; dấn thân và cống hiến hết mình cho Tổ quốc và nhân dân; mang lại lợi ích cùng những giá trị chân - thiện - mỹ cho xã hội./.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Hà Nội: Trường Mầm non Lĩnh Nam – Phường Vĩnh Hưng: Kiến tạo mơi trường giáo dục hiện đại, lấy trẻ làm trung tâm

Hà Nội: Trường Mầm non Lĩnh Nam – Phường Vĩnh Hưng: Kiến tạo mơi trường giáo dục hiện đại, lấy trẻ làm trung tâm

TCGCVN - Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục và đào tạo, những năm qua, Trường Mầm non Lĩnh Nam (phường Vĩnh Hưng, Hà Nội) khơng ngừng nâng cao chất lượng chăm sĩc, nuơi dưỡng và giáo dục trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm. Với đội ngũ cán bộ, giáo viên tâm huyết, cơ sở vật chất được đầu tư đồng bộ cùng những bước đi mạnh mẽ trong chuyển đổi số, nhà trường từng bước xây dựng mơi trường giáo dục hiện đại, an tồn, thân thiện, gĩp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm no

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.