Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hĩa Giao tiếp, ứng xử của người Cơng an nhân dân

13:40 | 29/03/2023
“Văn hĩa giao tiếp, ứng xử của CAND Việt Nam là hệ thống thái độ và hành vi của cơng an các đơn vị địa phương và cá nhân cán bộ, chiến sĩ cơng an được xác định để xử lí tốt nhất các mối quan hệ với tổ chức, cá nhân trong và ngồi lực lượng CAND, với mơi trường tự nhiên và với chính bản thân mình trong thi hành cơng vụ, ...”

“Văn hóa giao tiếp, ứng xử của CAND Việt Nam là hệ thống thái độ và hành vi của công an các đơn vị địa phương và cá nhân cán bộ, chiến sĩ công an được xác định để xử lí tốt nhất các mối quan hệ với tổ chức, cá nhân trong và ngoài lực lượng CAND, với môi trường tự nhiên và với chính bản thân mình trong thi hành công vụ, ...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa Giao tiếp, ứng xử của người Công an nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và huấn thị cho cán bộ, chiến sĩ

Công an nhân dân vũ trang bảo vệ Thủ đô (14/2/1961)

Đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Theo Người, đạo đức là vấn đề quan trọng hàng đầu của mỗi con người, của mọi gia đình, mọi quốc gia. Đối với người cách mạng, đạo đức là cái gốc của mọi thành công. Người nói: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3,tr.252]. Chân lý đó gợi cho chúng ta nhớ lại một giá trị đạo đức dân tộc đã được dân gian hóa bằng cách nói bình dị: “Nước sạch tại nguồn” hoặc “Lá rụng về cội, nước trôi về nguồn”. Ở đây, “Nguồn”, “Cội” là cái gốc chứa đựng tiềm năng cho sự phát triển, mọi sự vật phải có cái gốc thì mới phát triển được, gốc càng vững, nguồn tiềm năng càng lớn thì sự phát triển càng mạnh. Người cán bộ cách mạng không có đạo đức, không giữ được những giá trị cội nguồn của dân tộc, của tổ tiên thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đối với con người có sức mới gánh được nặng và đi xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng với hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đối với Đảng thì Đảng phải là đạo đức và văn minh thì mới hoành thành được xứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Quan điểm lấy đạo đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tách bạch đạo đức với tài năng thành hai mặt đối lập và tuyệt đối hoá mặt đạo đức, không coi trọng mặt tài năng. Đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp, phải thâm nhập vào nhau, chuyển hóa cho nhau tạo thành giá trị của mỗi cá nhân trong xử lý các mối quan hệ và giải quyết công việc.

Từ quan niệm coi trọng đạo đức như vậy, Hồ Chí Minh đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức cho mọi người. Hồ Chí Minh đã khởi xướng và tiến hành một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức ở Việt Nam. Đạo đức của Hồ Chí Minh khởi xướng ngày càng phát triển cùng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó trở thành một bộ phận hết sức quan trọng khắc hoạ bộ mặt của nền văn hoá nước ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vì hoà bình hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc khác trên thế giới.

Hồ Chí Minh đề cập đến đạo đức của mọi đối tượng: công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ… từ các cụ phụ lão đến phụ nữ, thanh niên, nhi đồng. Hồ Chí Minh đề cập đến đạo đức trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người: trong học tập, lao động, chiến đấu, công tác, sinh hoạt, lãnh đạo, quản lý… Hồ Chí Minh đề cập đến đạo đức trên mọi phạm vi từ hẹp đến rộng: từ cá nhân đến gia đình, xã hội, từ tập thể nhỏ đến tập thể lớn, từ giai cấp đến dân tộc, quốc gia, quốc tế. Hồ Chí Minh đề cập đến đạo đức trên các mối quan hệ: đối với mình; đối với người, đồng chí đồng đội, cấp trên cấp dưới, đối với nhân dân, đối với kẽ thù, đối với công việc. Đó là hệ thống thái độ, bao gồm cả các phẩm chất cần phải xây và cần phải chống.

Đối với lực lượng Công an nhân dân, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục toàn diện, trong đó giáo dục đạo đức cách mạng có vị trí quan trọng hàng đầu. Người chỉ rõ: “Đảng, Chính phủ rất chú ý đến công tác của công an và đến việc giáo dục cán bộ công an”[4, tr.248]. Ngay từ khi chính quyền cách mạng mới ra đời, Hồ Chí Minh đã đặt ra yêu cầu: “Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng, Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân"; Người nhấn mạnh: "Mỗi người công an phải là một chiến sĩ... Tôi mong rằng toàn thể Công an sẽ cố gắng thi đua để lập công trong cuộc thắng lợi chung".

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho lực lượng Công an nhân dân nhiều di huấn quý báu, trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, góp phần quan trọng làm nên những chiến công to lớn, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Một trong những di sản đó là huấn thị về “Tư cách người công an cách mệnh”. Tháng 3 năm1948, trong bức thư gửi đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành

Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép

Đối với công việc, phải tận tụy

Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”[3, tr.406].

Đây không chỉ là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư cách của người công an nhân dân mà còn là một luận điểm khoa học khái quát về học thuyết đạo đức Hồ Chí Minh. Khó có thể tìm ra những ngôn từ nào hay hơn, khái quát cao hơn, đầy đủ hơn để diễn tả về đạo đức và văn hóa ứng xử của người công an nhân dân. Luận điểm này là sự hội tụ những giá trị văn hóa phương Đông và phương Tây, những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc và thời đại. Đây là các phẩm chất đạo đức và cũng là hệ thống thái độ đối nhân xử thế, thể hiện văn hóa ứng xử của người công an nhân dân. Phẩm chất đạo đức là cái bản chất bên trong của người công an cách mạng, văn hóa ứng xử là cái được biểu hiện ra bên ngoài bằng thái độ, hành vi đối với các mối quan hệ chung quanh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa Giao tiếp, ứng xử của người Công an nhân dân

Một hình ảnh đẹp của người Công an trong lòng Nhân dân

Thứ nhất, đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính

Ngay trong bài giảng đầu tiên:“Tư cách người cách mạng” khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam Thanh niên cách mạng (6-1925), Hồ Chí Minh đã đề cập đến “cần, kiệm, liêm, chính”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã nhiều lần nhắc lại cụm từ “cần, kiệm, liêm, chính” dưới những góc độ khác nhau. Đặc biệt, trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” tháng 6-1949, Người đã viết:

Trời có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có 4 đức tính: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu 1 mùa, thì không thành trời

Thiếu 1 phương, thì không thành đất

Thiếu 1 đức, thì không thành người”

Như vậy, học thuyết đạo đức của Hồ Chí Minh đã được xây dựng có sự tiếp thu những giá trị triết học phương Đông về Thiên – Địa – Nhân. Triết học phương Đông thường nghiên cứu về mối quan hệ trời – đất – người. Cần, kiệm, liêm, chính là 4 đức tính của con người đã được Hồ Chí Minh mượn cách nói của dân gian để mô tả các phẩm chất đạo đức của con người cách mạng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Thiếu một đức, thì không thành người”. Bởi vì “cần” là lao động cần cù siêng năng, không có lao động thì không thành người. Ở đây có sự bắt gặp học thuyết của C.Mác về vai trò của lao động đối với quá trình hình thành phát triển người. Theo đó, cần, kiệm, liêm, chính là những phẩm chất tất yếu cần phải có của người công an nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa Giao tiếp, ứng xử của người Công an nhân dân

Quảng cáo

Học viện Chính trị Công an nhân dân tổ chức gặp mặt các nhà khoa học

Hồ Chí Minh đặt vấn đề “đối với tự mình” lên hàng đầu. Điều đó có nghĩa đạo đức là gốc. Người công an nhân dân phải “tu thân” trước khi làm những công việc của nghề công an. Phải tự mình rèn luyện trở thành cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính là các phẩm chất bên trong của mỗi người công an nhân dân. Phẩm chất đó làm cốt lõi cho thái độ ứng xử của người công an nhân dân trong các mối quan hệ khác.

Thứ hai, đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đây là thái độ ứng xử của người công an nhân dân với đồng chí, đồng đội. Đối với đồng sự, được xếp thứ hai, ngay sau đối với tự mình. Một trong những đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của công an là đòi hỏi phải gắn bó với đồng sự. Đặc điểm đó làm cho đơn vị vừa là tổ chức của công việc vừa là tập thể có các mối quan hệ thân thiết, gần gủi hàng ngày của mỗi cá nhân.

“Thân ái, giúp đỡ” là thái độ ứng xử của người công an cách mạng với đồng chí, đồng đội. “Thân ái” có nguồn gốc từ truyền thống tình thương yêu con người của dân tộc Việt Nam. Một trong những phẩm chất đẹp nhất của con người Việt Nam được hình thành trong lịch sử và đã trở thành truyền thống của dân tộc là thương người hơn cả thương thân. “Giúp đỡ” là thái độ của người cách mạng. Tình thương yêu của người công an cách mạng mà Hồ Chí Minh nói đến ở đây không phải thuần tuý là sự đồng cảm tâm lý, không phải sự thương hại, sự xót xa của tình thương tôn giáo. Tình thương yêu ở đây là phải giúp đỡ đồng chí, đồng đội, tạo cơ hội cho đồng chí, đồng đội được phát triển hoàn toàn. Yêu thương, giúp đỡ đồng chí, đồng đội vừa là văn hóa ứng xử của người công an nhân dân vừa là truyền thống đoàn kết của lực lượng công an đã được hình thành phát triển trong thực tiễn.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng công an nhân dân cần phải giáo dục cho mỗi người cán bộ, chiến sĩ có tinh thần đoàn kết thương yêu đồng chí, đồng đội, thân ái giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện và công tác. Trong công tác phải biết đồng cam chịu khổ; phát huy dân chủ, thẳng thắn đấu tranh, phê bình và tự phê bình; tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Thân ái giúp đỡ đồng chí, đồng đội phải thể hiện thái độ chân thành, trung thực, cầu thị trong quá trình học tập, rèn luyện, công tác; mọi biểu hiện che giấu khuyết điểm, bao che những hành vi thiếu trung thực, thiếu lành mạnh là những biểu hiện thiếu thân ái, giúp đỡ với đồng chí, đồng đội.

Thứ ba, đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành

Trung thành với chính phủ là trung với nước. Trung là phạm trù đạo đức đã được đề cập đến trong lich sử. Dưới chế độ Phong kiến, “Trung” là chuẩn mực đạo đức cao nhất của người quân tử. Tuy nhiên, đó là thái độ “ngu trung” với vua. Đối với người công an cách mạng, trung với chính phủ là trung với nước, trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Nội dung chủ yếu trong trung với nước là sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân. Bởi vì dân là chủ của đất nước. Phải đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết. Quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng. Thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhà nước và với nhân dân. Lòng trung thành đó phải được thể hiện thành bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng của người cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân. Lòng trung thành được hình thành trên cơ sở giác ngộ cách mạng, lòng yêu mến đồng chí, đồng đội, lòng yêu nghề, được hình thành, trau dồi và tôi luyện qua thực tiễn công tác, chiến đấu của mỗi người.

Thứ tư, đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép

Trung với nước thì phải hiếu với dân. “Trung – Hiếu” là những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống đã được dân gian hóa như một nét văn hóa đương nhiên: “Trai thì trung, hiếu làm đầu; Gái thì trinh tiết làm câu dặn dò”. Người công an cách mạng không chỉ hiếu với cha mẹ mà phải hiếu với dân. Lực lượng Công an nhân dân từ dân mà ra, được nhân dân chăm sóc, nuôi dưỡng, dân là cha là mẹ của người công an. Vì vậy người công an cách mạng được mang danh là “Công an nhân dân”. Hiếu với dân là hiếu với người đã sinh ra mình, đã nuôi dưỡng mình. Đây là nét văn hóa ứng xử của người công an nhân dân trong mối quan hệ với người đã sinh ra mình, nuôi dưỡng mình.

Hiếu với dân là phải kính trọng, lễ phép với dân. Kính trọng, lễ phép với nhân dân không chỉ dừng lại ở lòng tôn trọng, gần gũi bảo vệ, chăm lo cho lợi ích của nhân dân mà phải hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, biết được những trăn trở, bức xúc trong nhân dân từ đó từng bước tháo gỡ. Đây là tiền đề để xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng Công an với nhân dân.

Thực hiện lời dạy của Bác, lực lượng công an nhân dân cần phải giáo dục cho mỗi cán bộ, chiến sĩ ý thức được đầy đủ mối quan hệ máu thịt với nhân dân, phải tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân vô điều kiện, phải biết lấy dân làm gốc trong xử lý mọi công việc. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh chống lại thái độ, hành vi hách dịch, dọa nạt dân và mọi biểu hiện thiếu kính trọng, thiếu lễ phép với dân.

Thứ năm, đối với công việc, phải tận tụy

Trung với nước, hiếu với dân phải được biểu hiện ra bằng thái độ, hành vi đối với công việc. Bác dạy, “Đối với công việc phải tận tụy”. Đây là phẩm chất chung của mỗi cán bộ, đảng viên và là phẩm chất đặc thù cần phải có của người công an nhân dân. Bởi vì công việc của người công an nhân dân là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình an của mọi người dân. Công việc đó thường xuyên xuất hiện những tình huống khó lường, với nhiều uẩn khúc đòi hỏi phải phát hiện, đấu tranh ngăn chặn những mặt trái trong xã hội.

Tận tụy với công việc được thể hiện ở sự đam mê, cần mẫn, chu đáo, làm việc bền bỉ, có tính chủ động, sáng tạo, xuất phát từ động cơ đúng đắn và trong sáng vì mục tiêu phục vụ nhân dân. Tận tụy với công việc là khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì cũng tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác.

Thực hiện lời dạy của Bác, lực lượng công an nhân dân cần phải giáo dục xây dựng cho mỗi người cán bộ, chiễn sĩ trong lực lượng có ý thức trách nhiệm và thái độ, hành vi tích cực trong công việc. Luôn xây dựng ý thức chăm lo đổi mới, cải tiến phương pháp làm việc, rèn luyện tác phong làm việc chu đáo, khoa học, nền nếp, có hiệu quả thiết thực, hình thành ý thức, thái độ khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, thắng không kiêu, bại không nản trong công việc.

Thứ sáu, đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo

Trong các mối quan hệ của người công an nhân dân có quan hệ đối lập với địch. Đây là loại hình quan hệ đặc biệt trong nhiệm vụ của người công an nhân dân. Tính đặc biệt của quan hệ này là ở chỗ phải thường xuyên đối phó với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của đối phương, đôi khi có thể dẫn đến sự nguy hiểm về tính mạng. Hồ Chí Minh căn dặn trong mối quan hệ này, người công an nhan dân vừa phải cương quyết, vừa phải khôn khéo. Nghĩa là phải anh dũng và mưu trí trong xử lý các tình huống.

Cương quyết, khôn khéo vừa là phẩm chất, vừa là thái độ và nghệ thuật ứng xử của người công an nhân dân đối với kẻ thù. Cương quyết đối với kẻ địch là một nguyên tắc bất di bất dịch, là phương châm hoạt động của người công an nhân dân. Đối với kẻ địch, người công an nhân dân phải thể hiện thái độ cứng rắn, phải giữ đúng nguyên tắc, không khoan nhượng. Trong mọi tình huống tác chiến, người công an nhân dân phải cương quyết tấn công, chủ động tấn công, anh dũng truy quét đến cùng, không nhụt ý chí, không dừng lại khi công việc chưa dứt điểm.

Khôn khéo là mưu trí, linh hoạt sáng tạo trong đấu tranh, trấn áp kẻ thù. Trong chiến đấu với kẻ thù không chỉ dũng cảm đấu sức mà phải kết hợp đấu trí. Trong nhiều trường hợp, người công an nhân dân phải có nghệ thuật đấu tranh, dùng mưu mẹo buộc kẻ địch phải khuất phục. Người công an cách mạng phải biết sử dụng phương pháp “Mưu phạt tâm công” trong tấn công địch. Nghĩa là phải biết tấn công vào lòng người, phải biết kết hợp giữa trấn áp với thuyết phục, kêu gọi, tấn công vào tinh thần, tâm lý của kẻ địch.

Quán triệt lời dạy của Bác, người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cần phải xây dựng cho mình bản lĩnh chiến đấu, lập trường kiên định, không hoang mang, dao động trước những khó khăn, thử thách để ngày càng trưởng thành trong công tác. Lực lượng công an nhân dân cần phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ về địch và các âm mưu, thủ đoạn chống phá của từng loại đối tượng kẻ thù trong từng giai đoạn cách mạng và từng địa bàn cụ thể. Phải xây dựng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân thái độ cứng rắn, rèn luyện tinh thần anh dũng và hình thành cho họ phương pháp linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tình huống thực tiễn. Luôn giữ vững sự thống nhất giữa tính nguyên tắc và mềm dẻo linh hoạt trong xử lý các tình huống thực tiễn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa ứng xử của người công an nhân dân đã trở thành mục tiêu phấn đấu, là phương châm hành động và cách ứng xử trong các mối quan hệ đối với mình, đối với người và đối Tổ quốc, đối với nhân dân, đối với công việc và đối với kẻ thù. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục ráo riết thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn, lật đổ ở nước ta với quy mô ngày càng mở rộng, cường độ ngày càng quyết liệt, tính chất ngày càng nguy hiểm, thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng hơn, gây bức xúc trong nhân dân. Trong bối cảnh đó, việc học tập, quán triệt, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa ứng xử của người công an nhân dân là một trong những giải pháp quan trong nhằm xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và văn hóa Giao tiếp, ứng xử của người Công an nhân dân

Báo cáo viên giới thiệu chuyên đề “Văn hóa giao tiếp và văn hóa ứng xử của người chiến sĩ Công an nhân dân”

Tài liệu tham khảo

1. Học viện Chính trị Công an nhân dân (2017),“Văn hóa ứng xử, giao tiếp của sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân – Thực trạng và giải pháp”, Đề tài khoa học, Mã số SX.T29.2017.182

2. Vũ Thị Hương Lý (2015), “Thực hiện chuẩn mực văn hóa ứng xử trong lực lượng Công an nhân dân Việt Nam theo 6 điều Bác Hồ dạy”, Tạp chí Giáo dục, số 371, tháng 12/2015.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 252

4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 248

5. Trần Đình Tuấn (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.