ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC MƠN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HỌC VIỆN PHỊNG KHƠNG - KHƠNG QUÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ HIỆN

07:44 | 05/06/2026
Phạm Bá Sỹ Khoa Giáo dục Quốc phịng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected] Tĩm tắt: Đổi mới phương pháp giảng dạy và học các mơn khoa học xã hội và nhân văn là quá trình phát triển và cải tiến cách thức dạy và học giữa giảng viên và học viên nhằm tạo ra mơi trường thuận lợi giúp người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực theo mục tiêu giáo dục và đào tạo. Quá trình này khơng phải là thay đổi hồn tồn các phương pháp giản

Phạm Bá Sỹ

Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội

[email protected]

Tóm tắt: Đổi mới phương pháp giảng dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn là quá trình phát triển và cải tiến cách thức dạy và học giữa giảng viên và học viên nhằm tạo ra môi trường thuận lợi giúp người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực theo mục tiêu giáo dục và đào tạo. Quá trình này không phải là thay đổi hoàn toàn các phương pháp giảng dạy hiện có, mà là dựa trên những ưu điểm của phương pháp giảng dạy truyền thống, từng bước áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến và công cụ hiện đại để chuyển đổi việc dạy và học từ thụ động sang chủ động, tích cực và sáng tạo; từng bước chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và quá trình dạy học thành quá trình tự học.

Từ khóa: Đổi mới; phương pháp giảng dạy; khoa học xã hội và nhân văn; Học viện Phòng không - Không quân; chuyển đổi số.

Nhận bài: 26/5/2026; Biên tập: 26/5/2026; Phản biện: 27/5/2026; Duyệt đăng: 31/5/2026.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu khóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công tác giáo dục, đạo tạo của Học viện Phòng không - Không quân (PK-KQ) đang đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các môn khoa học xã hội và nhân văn là những môn học bắt buộc trong các học viện, trường đại học, cao đẳng nói chung và Học viện PK - KQ nói riêng. Mục tiêu của việc giảng dạy các môn học này là nhằm trang bị hệ thống kiến thức về con người, xã hội, văn hóa, lịch sử; hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, củng cố niềm tin, nâng cao trình độ tư duy lý luận, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống,…cho học viên. Những năm qua Đảng ủy, Ban Giám đốc, các cơ quan, khoa giảng viên đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị; trong đó, tập trung thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên nói chung, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn nói riêng. Tuy nhiên, quá trình đổi mới vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế dẫn đến việc học tập lý luận chính trị chưa đáp ứng yêu cầu của thời đại số. Trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy của một số giảng viên có mặt còn hạn chế; đổi mới phương pháp chưa đồng bộ với đổi mới nội dung, hình thức giảng dạy; ứng dụng những thành tựu chuyển đổi số vào giảng dạy chưa thực sự hiệu quả, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật bảo đảm vẫn còn một số bất cập so với yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy.

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; giáo dục, đào tạo đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện và đặt ra thời cơ, thách thức mới đối với việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của mỗi giảng viên của Học viện. Đây không chỉ là sự thay đổi về phương tiện, mà còn là bước chuyển căn bản về tư duy, phương pháp và văn hóa sư phạm trong nhà trường hiện đại. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh: “Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá; thúc đẩy ứng dụng các mô hình giáo dục số, giáo dục trí tuệ nhân tạo, quản trị giáo dục thông minh, trường học số, lớp học thông minh”. Đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền thống sang giảng dạy số ở Học viện hiện nay là yêu cầu tất yếu, có vai trò rất quan trọng.

2. Thực trạng đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn Học viện Phòng không - Không quân đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số hiện nay

Trong những năm qua, phương pháp dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện PK-KQ đã có nhiều đổi mới tích cực, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho học viên.

Thứ nhất, phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động của người học được triển khai ngày càng rộng rãi. Thay cho lối truyền thụ một chiều, nhiều giảng viên đã áp dụng các hình thức như thảo luận nhóm, nêu vấn đề và seminar chuyên đề. Qua đó, học viên không chỉ tiếp thu kiến thức một cách hệ thống mà còn được rèn luyện kỹ năng tư duy, phân tích và phản biện. Việc tăng cường tương tác trong giờ học giúp các môn khoa học xã hội và nhân văn trở nên sinh động, giảm tính khô cứng, tạo hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả tiếp nhận kiến thức.

Thứ hai, nội dung giảng dạy ngày càng được gắn kết chặt chẽ với thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội và sự nghiệp đổi mới đất nước. Các bài giảng đã cập nhật được những vấn đề thời sự, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua việc liên hệ thực tiễn học viên hiểu rõ hơn giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhờ đó, lý luận không còn trừu tượng mà trở nên gần gũi, góp phần củng cố niềm tin chính trị và định hướng nhận thức đúng đắn cho học viên.

Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn đạt được nhiều kết quả tích cực. Các khoa giảng viên đã xây dựng bài giảng điện tử, học liệu số, ngân hàng câu hỏi. Việc sử dụng hình ảnh, video và các nền tảng học tập số giúp bài giảng trực quan hơn, đồng thời tạo điều kiện để học viên học tập linh hoạt, chủ động, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế cho thấy, phương pháp dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn có những hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu và hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên.

Thứ nhất, phương pháp giảng dạy của một số giảng viên vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, thiếu tính tương tác. Không ít giảng viên chủ yếu sử dụng hình thức thuyết trình, đọc, chép, ít tổ chức thảo luận, tranh luận hay vận dụng các phương pháp dạy học tích cực; năng lực công nghệ và kỹ năng sư phạm số của đội ngũ giảng viên chưa đồng đều, một bộ phận giảng viên còn lúng túng trong việc vận dụng công cụ số vào thiết kế bài giảng; việc chuyển hóa nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ lớp học trực tiếp sang môi trường số còn mang tính hình thức, thiếu tính sư phạm và tính tương tác.

Thứ hai, phương pháp học tập của một số học viên đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn còn mang tính đối phó, thiếu chủ động và hứng thú. Do nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của các môn học này, nhiều học viên học chỉ để thi, chưa coi trọng việc nghiên cứu sâu nội dung lý luận. Thói quen học tập thụ động, phụ thuộc vào tài liệu, học thuộc lòng mà không gắn với thực tiễn xã hội khiến việc tiếp thu kiến thức trở nên khô khan, khó nhớ và nhanh quên. Điều này làm giảm hiệu quả của quá trình giáo dục thế giới quan, phương pháp luận và bản lĩnh chính trị cho học viên.

Thứ ba, sự gắn kết giữa phương pháp dạy, học với thực tiễn đời sống xã hội còn hạn chế. Nội dung bài giảng của một số giảng viên chưa được cập nhật kịp thời những vấn đề mới của đất nước, khu vực và thế giới, dẫn đến tình trạng lý luận xa rời thực tiễn. Việc tổ chức các hoạt động học tập gắn với thực tế như tham quan, tọa đàm, nghiên cứu tình huống cụ thể còn ít. Hệ quả là học viên khó thấy được giá trị ứng dụng các môn khoa học xã hội và nhân văn trong đời sống và công tác sau này.

3. Giải pháp chủ yếu đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn Học viện Phòng không - Không quân đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể đối với việc nâng cao hiệu đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số

Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số hiện nay. Do đó, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp cần nhận thức đầy đủ rằng chuyển đổi số và đổi mới phương pháp giảng dạy không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Vì vậy, cần đưa nội dung đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với chuyển đổi số vào nghị quyết, kế hoạch công tác hàng năm của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất và đồng bộ.

Quảng cáo

Đối với đội ngũ giảng viên, cần làm rõ vai trò chủ thể trực tiếp của họ trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Thông qua công tác tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn và sinh hoạt học thuật, giúp giảng viên chuyển từ tư duy dạy học truyền thống sang tư duy dạy học hiện đại, lấy người học làm trung tâm, chủ động ứng dụng công nghệ số trong thiết kế bài giảng, tổ chức hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của học viện.

Đối với sinh viên, cần nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu trong môi trường số; khuyến khích tinh thần chủ động, sáng tạo. Đồng thời Học viện cần xây dựng môi trường học tập số lành mạnh, tạo động lực để các chủ thể tích cực tham gia đổi mới phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện trong bối cảnh chuyển đổi số.

Hai là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại

Sự phát triển của công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật giảng dạy hiện đại là một xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, đòi hỏi các nhà trường quân đội nói chung và Học viện PK - KQ nói riêng, mỗi giảng viên phải tiếp nhận và ứng dụng sáng tạo trong công tác giảng dạy. Giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tích cực kết hợp, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại để bổ sung, tăng sức hấp dẫn, thuyết phục cho nội dung bài giảng, thay đổi cách dạy và cách học, tạo sự hứng thú, kích thích tìm tòi, nghiên cứu của người học, đồng thời tiếp cận công nghệ khoa học, kỹ thuật hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số. Giảng viên cần thiết kế bài giảng điện tử có tính khái quát cao, liện hệ nội dung lý thuyết với thực tiễn quân sự, linh hoạt sử dụng các công cụ trực quan hóa như: Phần mềm trực quan hóa dữ liệu, đồ họa và video để minh họa; quá trình giảng cần sử dụng các phần mềm học tập tương tác để khuyến khích người học tham gia tích cực vào quá trình học tập. Bên cạnh đó, giảng viên cần tăng cường sử dụng các phương tiện hiện đại vào giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn, khai thác thông tin, dữ liệu trên internet cập nhật vào bài giảng, ứng dụng các phần mềm tin học để tạo ra các mô hình, sơ đồ hóa kiến thức, sưu tầm phim, hình ảnh liên quan đến từng nội dung bài giảng. Tuy nhiên, khi sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, giảng viên cần tránh tình trạng lạm dụng thái quá, xem nó như toàn bộ sự đổi mới phương pháp dạy học dẫn đến người học thụ động như nhìn, chép hoặc ngược lại, coi nhẹ, ngại sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, dẫn đến thuyết trình độc thoại một chiều.

Ba là, đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giảng viên trong ứng dụng chuyển đổi số vào đổi mới phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn

Đặc thù các môn khoa học xã hội và nhân văn thường mang tính lý luận, trừu tường, nặng về lý thuyết hàn lâm, đòi hỏi người dạy và người học phải có tư duy khái quát cao. Vì vậy, việc nắm kiến thức của người học như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kiến thức, năng lực tư duy lý luận và thực tiễn; phẩm chất, nhân cách, đạo đức, đặc biệt tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phương pháp giảng dạy của giảng viên. Do đó, đội ngũ giảng viên cần nhận thức đầy đủ rằng chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, là yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Học viện trong bối cảnh hiện nay. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với giảng viên phải chủ động tự học, tự bồi dưỡng năng lực số, khai thác hiệu quả các nguồn dự liệu và học liệu mở.

Trong quá trình dạy học, giảng viên phải luân luôn tìm tòi, sáng tạo để có được những bài giảng hấp dẫn, sinh động. Mỗi bài giảng phải thay đổi căn bản phương pháp truyền thụ cho phù hợp với từng đối tượng học viên, trên cơ sở lấy người học làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số trong thiết kế, tổ chức và thực hành bài giảng. Cần thường xuyên cập nhật thông tin, các tiến bộ của khoa học và cộng nghệ; không ngừng nâng cao năng lực thu thập, xử lý thông tin phục vụ giảng dạy, phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, vượt qua những rào cản của tư duy ngụy biện, lối mòn, dập khuân, máy móc. Đặc biệt, cần tìm kiếm và giải quyết các vấn đề nghiên cứu dựa trên việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ chuyển đổi số một cách thực tế hơn. Thông qua các nguồn, kênh thông tin khác nhau như giao lưu, các tổ chức, cơ quan, đồng nghiệp, qua internet, công trình nghiên cứu khoa học đã công bố và các hoạt động khoa học để nắm bắt, cập nhật, bổ sung thông tin cần thiết. Bên cạnh đó, mỗi giảng viên phải ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao trình độ ngoại ngữ nhất là tiếng anh, để có thể tiếp cận, mở rộng, cập nhật và khai thác hiệu quả nguồn tri thức quốc tế phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Bốn là, quan tâm đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, các trang thiết bị công nghệ hiện đại trong quá trình giảng dạy

Hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn không chỉ quyết định bởi lực lượng giảng viên, học viên mà còn phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật, các trang thiết bị công nghệ, một yếu tố tiên quyết trong quá trình chuyển đổi số. Trước hết, Học viện cần đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại phục vụ tốt cho nhiệm vụ dạy và học. Đồng thời, xây dựng mô hình dạy học kết hợp và xây dựng thư viện điện tử, trong đó tập trung xây dựng các bài giảng số, số hóa tài liệu giảng dạy (giáo trình, sách tham khảo, bài giảng điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm…) để góp phần tạo ra môi trường sư phạm quân sự tích cực, thuận lợi cho quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn. Bên cạnh đó, Học viện cần tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng số, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng dạy và học, nghiên cứu khoa học đồng bộ, nhất là phòng học chuyên dung, lớp học thông minh, phòng họp, hội thảo trực tuyến,… Tất cả đều đồng bộ và hiệu quả với phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính ưu việt của trong quá trình đổi mới.

Trên cơ sở đó, mỗi giảng viên cần sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các trang thiết bị công nghệ số hiện đại trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn. Làm chủ và ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại, pháy huy hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ số trong giáo dục, đào tạo. Không ngừng học tập, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học viên và điều kiện dạy học mới.

4. Kết luận

Đổi mới phương pháp dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số hiện nay là điều kiện tiên quyết, góp phần chuyển mạnh quá trình dạy và học từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học đáp ứng chuẩn đầu ra, đào tạo nguồn chất lượng cao, có khả năng công tác trong mọi hoàn cảnh của thời đại cộng nghệ số. Các chủ thể cần nắm bắt, tận dụng cơ hội trong ứng dụng chuyển đổi số để nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Học viện PK-KQ trong thời đại công nghệ số hiện nay. Tuy nhiên, để đổi mới đạt hiệu quả bền vững, cần có sự đồng bộ từ chương trình, đội ngũ giảng viên, học viên, cơ sở vật chất đến cơ chế quản lý và đánh giá. Chỉ khi thực hiện thống nhất các giải pháp đó, các môn khoa học xã hội và nhân văn mới thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, góp phần đào tạo ra những cán bộ, sĩ quan vừa hồng, vừa chuyên góp phần xây dựng Quân chủng, Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, H, 2026, Tập 1.

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, H, 2011, Tập 1, 12.

[3]. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 131/QĐ - TTg, Đề ánTăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030, Hà Nội.

INNOVATING THE TEACHING METHODS OF SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES SUBJECTS AT THE AIR DEFENSE – AIR FORCE ACADEMY IN RESPONSE TO THE CURRENT REQUIREMENTS OF DIGITAL TRANSFORMATION

Pham Ba Sy

Faculty of National Defense and Security Education - Hanoi University of Science and Technology

Abstract: Innovating the teaching and learning methods of Social Sciences and Humanities courses is a process of developing and improving the approaches employed by lecturers and cadets to create a favorable learning environment that enables learners to acquire knowledge effectively while fostering and developing the qualities and competencies required by educational and training objectives. This process does not involve a complete replacement of existing teaching methods; rather, it builds upon the strengths of traditional approaches and gradually incorporates advanced teaching methods and modern technological tools. The aim is to transform teaching and learning from passive reception to active, proactive, and creative engagement, thereby progressively converting the training process into a process of self-development and the teaching process into a process of self-directed learning.

Keywords: Innovation; Teaching Methods; Social Sciences and Humanities; Air Defense – Air Force Academy; Digital Transformation.

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

Dự thảo Nghị định mới: Mở rộng trợ cấp cho người học trường tư, đẩy mạnh chi trả khơng dùng tiền mặt

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về chính sách trợ cấp và chính sách nội trú đối với người học trong các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, hiện đại hĩa chính sách hỗ trợ người học, bảo đảm cơng bằng trong tiếp cận giáo dục và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.