CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TỒN DIỆN GIÁO DỤC

14:00 | 28/04/2024
Giáo dục ngày nay vơ luận hồn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế cĩ sự tăng trưởng GDP. Nhà trường ở mỗi Cộng đồng (đặc biệt Nhà trường Đại học) phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hịa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đơi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới. Người Thày trong mỗi Nhà trường Đại học phấn đấu hồn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp

1. Đặt vấn đề

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế có sự tăng trưởng GDP. Nhà trường ở mỗi Cộng đồng (đặc biệt Nhà trường Đại học) phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hòa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đôi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới. Người Thày trong mỗi Nhà trường Đại học phấn đấu hoàn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp, và thực hiện được 5 nhiệm vụ:

–Dạy kiến thức

– Dạy phương pháp

– Khơi gợi Động cơ

– Truyền thụ cảm hứng

– Có hoài bão xây dựng cuộc sống mới cho xã hội

CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC

Trong bối cảnh có “VUCA”: V(volatility): Biến đổi ; U(Uncertainty): Bất định; C(Complexity): Phức tạp ; A(Ambiguity): Mơ hồ, Người Thày của bất cứ Nhà trường nào truyền cho Người học có tinh thần 6 mọi: Học mọi nơi, Học mọi lúc, Học mọi vấn đề, Học mọi người, Học bằng mọi cách, Học trong mọi hoàn cảnh, Phấn đấu xây dựng Trường Đại học theo tinh thần Power: P (Planning): Kế hoạch, O (Organizing): Tổ chức, W (Working): Làm việc, E (Evaluating): Đánh giá, R (Recognizing): Nhận diện.

Người Thày hình thành cho sinh viên có 4 năng lực: C1(Critical thinking: Năng lực phản biện, C2(Collaboration): Năng lực hợp tác, C3(Communication): Năng lực giao tiếp, C4 (Creativity): Năng lực sáng tạo

Xin thu hoạch một số ý tưởng về Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Năm thời kỳ của Giáo dục Việt và Đặc trưng Quốc học đương đại

Giáo dục ngày nay được hiểu không chỉ có giáo dục nhà trường mà còn có giáo dục gia đình, giáo dục Xã hội. Theo nghĩa này Giáo dục Việt đã trải qua năm thời kỳ: 1) Giáo dục thời Văn Lang – Âu Lạc; 2) Giáo dục thời tiếp biến Văn hóa Hán; 3) Giáo dục thời Việt – Nho; 4) Giáo dục thời tiếp biến Văn hóa Pháp; 5) Giáo dục thời hiện đại.

Có hai thời kỳ tạo nên “Quốc học”: (i) Thời Việt Nho (năm 939- năm 1864) với các khai minh của Trần Nhân Tông – Chu Văn An – Nguyễn Trãi – Lê Thánh Tông – Quang Trung… đã góp phần làm nên sức mạnh Văn hóa Việt khẳng định quyết liệt “Sơn hà cương vực đã chia – Phong tục Bắc Nam cũng khác”. (ii) Thời Quốc học đương đại (từ 02/09/1945)… với sự tiếp thu lý tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, và nhận thức Minh triết “Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh” của Phan Chu Trinh các nhà khai phóng: Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã kiến tạo Quốc học toàn diện có cả Quốc Văn, Quốc Ngữ, làm nên Quốc Sử hiển hách đánh bại mọi âm mưu của kẻ thù hung bạo

2.2. Ba lần Đổi mới/ Cải cách Giáo dục Việt từ 02/09/1945

2.2.1. Đổi mới Giáo dục 1.0: Chuyển Giáo dục thực dân phong kiến sang Giáo dục “Dân tộc – Dân chủ”

Sau khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ trình bày Đường lối nội chính. Về Giáo dục ông khẳng định: “Nền giáo dục đang ở thời kỳ tổ chức, chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng. Việc giảng dạy hết sức thiết thực, sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực kỹ thuật cần lao của con người”.

Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước VNDCCH (03/09/1945), Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề nghị : “Mở chiến dịch chống giặc dốt”. Ngày 08/09/1945 (chưa đầy một tuần sau Tuyên ngôn Độc lập), Chính phủ ký 4 Sắc lệnh về Giáo dục:

- Sắc lệnh số 16/SL đặt ra Ngành Thanh tra giáo dục, cử ông Đặng Thai Mai làm Thanh tra Giáo dục Trung học, ông Nguyễn Hữu Tảo làm Thanh Tra Giáo dục Tiểu học.

- Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ.

- Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào thị trấn nào cũng phải có lớp Bình Dân Học Vụ.

- Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bức học chữ Quốc ngữ, với thời hạn một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ.

Khai trường Năm học 1945/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi học sinh Việt nam khẳng định quyết tâm của Chính quyền mới, xây dựng Nền giáo dục để đào tạo Học sinh Việt nam thành những người công dân hữu ích, Nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của Học sinh Việt nam.

Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 43 thành lập Quỹ tự trị đại học. Sắc lệnh này nêu rõ “Việc quản trị quỹ đó do một Hội đồng quản trị gồm có ông Giám đốc Đại học vụ làm Chủ tịch, Ông Đổng lý văn phòng Bộ Quốc gia giáo dục làm Phó Chủ tịch”.

- Ngày 10/08/1946, Chính phủ ký sắc lệnh số 146/SL quy định Nền giáo dục bao gồm: Bậc học cơ bản 4 năm, Bậc học tổng quát và chuyên nghiệp, Bậc Đại học. Cùng ngày ban hành sắc lệnh 147/SL quy định bậc học cơ bản không phải trả tiền, các môn học dạy học bằng tiếng Việt…

- Kháng chiến toàn quốc (19/12/1946) có làm gián đoạn một số mục tiêu chung, nhưng ở Vùng tự do do Chính quyền Cách mạng điều hành nền giáo dục mới, tiếp tục phát triển 3 ngành: Bình dân học vụ, Phổ thông, Đại học. Từng có những cảnh tượng hào hùng:

“Có những mái trường xưa

Vừa chống càn vừa học

Giặc lui trong phút chốc

Thầy trò lại ngâm thơ”.

Năm 1950, ở Vùng tự do, tiến hành Cải cách giáo dục lần thứ nhất xác định mục tiêu đào tạo con người lấy hệ giá trị “Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng – Liêm” là các giá trị cốt lõi của nhân cách.

Thành quả của cuộc Cải cách giáo dục lần thứ nhất đã thúc đẩy giáo dục góp phần xứng đáng vào Chiến thắng Điện Biên Phủ (tháng 5/1954), chấm dứt sự cai trị của Thực dân Pháp.

Năm 1956, Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Chính phủ VNDCCH, tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, có mục tiêu xây dựng Nhà trường lao động với Nguyên lý giáo dục:

“Học đi với lao động

Lý luận đi với thực hành

Cần cù đi với tiết kiệm”

Thành quả của Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai là đào tạo lớp người góp phần xứng đáng vào chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh chống sự xâm lược của Mỹ, tái thống nhất đất nước (30/04/1975).

Ba tượng đài Anh hùng giáo dục mà các Cuộc cải cách giáo dục đã kiến tạo được:

• Trường cấp 2 Bắc Lý với Minh triết giáo dục “Tất cả vì học sinh thân yêu”.

• Trường Thanh niên Lao động XHCN Hòa Bình với sự tổ chức có hiệu quả “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.

• Trường học xã Cẩm Bình đề ra phương thức Giáo dục cho mọi người và Huy động sức mạnh của Xã hội cho phát triển giáo dục. (Education for All / EFA ~ All for Education / AFE)

Cải cách giáo dục lần thứ ba tiến hành vào năm 1979.

Ngày 30/04/1975, Sài Gòn giải phóng. Tuy nhiên, qua 4 năm mới thực hiện sự hợp nhất Hệ thống Giáo dục VNDCCH và Hệ thống Gd ở miền Nam có từ trước 30/04/1975 thành Hệ thống Giáo dục quốc dân thống nhất, bao quát 5 ngành học:

- Giáo dục nhà trẻ mẫu giáo, ngày nay là Giáo dục mầm non

- Giáo dục phổ thông

- Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp

- Giáo dục đại học

- Giáo dục bổ túc – tại chức; ngày nay là Giáo dục thường xuyên

2.2.2. Đổi mới Giáo dục 2.0: Chuyển giáo dục bị chi phối bởi Kinh tế tập trung bao cấp sang Kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa

Từ tháng 12/1986: Chuyển Động thái Giáo dục từ sự chi phối bởi Kinh tế tập trung bao cấp sang Kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa để phát triển Giáo dục rộng khắp tiến đến Xã hội Học tập.

Tháng 12/1986, Đất nước có sự điều chỉnh chiến lược đặt ra mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường với định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Ngày 21/8/1987, Ngành giáo dục có sự chuyển hướng theo tổng lộ tuyến này. Nhà nước có chủ trương tái lập Trường ngoài công lập (1989).

Quảng cáo

Tháng 04/1990 Chính phủ thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở hợp nhất: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ giáo dục.

Ngành giáo dục đào tạo từ 1990 có các giải pháp thúc đẩy Sự nghiệp giáo dục quốc dân thích ứng Đường lối Đổi mới, định hướng XHCN.

Sau thời điểm này trên đất nước tiến hành các Kế hoạch và Chiến lược theo tinh thần PPP (Public – Private Partnership): Công tư cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp phát triển Giáo dục.

Từ năm 1990, đặc biệt từ sau khi Việt Nam tham gia WTO Hệ thống Tư thục được phát triển mạnh mẽ tại các Thành phố lớn. Hiện nay đã hình thành một số Nhân tố có tính “Tập Đoàn Giáo dục” phát triển Nhà trường liên cấp từ Mầm non đến Đại học. Nhiều Doanh nghiệp lớn có đầu tư đáng kể: Xây dựng các trường chất lượng cao, các trường theo tiêu chí: “Trường học Hạnh phúc”.

2.2.3. Đổi mới giáo dục 3.0: Từ bỏ Giáo dục “Quyền uy – ban ơn” tiến đến Giáo dục “Hợp tác – Sáng tạo”

Hai lần Đổi mới Giáo dục trên dù mang lại nhiều thành tựu song ở một số nơi, một số Nhà trường tư tưởng Sư phạm quyền uy ban ơn vẫn còn nặng nề. Minh triết giáo dục “Tất cả vì Học sinh thân yêu” chưa thấm sâu vào Quá trình dạy học.

Ngày 04/11/2013, Ban Chấp hành TƯ ĐCSVN ban hành NQ Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục đào tạo… thường gọi là NQ-29/TƯ khóa XI. Nghị quyết này xác định Đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết từ tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách … Một số Nhà nghiên cứu coi đây là “Đổi mới trạng thái văn hóa của giáo dục”, kiến tạo được Nền giáo dục tiến tới tính toàn vẹn theo mục tiêu: “Giáo dục của Dân – do Dân – vì Dân”.

Bác Hồ từng đề cập trong Di chúc (1969) “Đầu tiên là công việc với con người”. Giáo dục phải hướng vào hạnh phúc của con người.

Sự phát triển giáo dục phải đặt trên phương châm: “Phát triển nhân văn” (Human Development), Đó là sự phát triển không ngừng đáp ứng nhu cầu của con người, nâng cao năng lực lựa chọn của con người và mở rộng cơ hội lựa chọn cho con người.

CÁC CUỘC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM VÀ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC

2.3. Con đường phía trước

2.3.1. Vô luận hoàn cảnh nào Giáo dục (Đặc biệt là Giáo dục Đại học) phải thúc đẩy tăng trưởng Kinh tế song là sự tăng trưởng quán triệt 5 yêu cầu cốt lõi

Giáo dục ngày nay vô luận hoàn cảnh nào cũng phải vừa là mục tiêu vừa là động lực của Kinh tế, tác động vào quá trình Kinh tế giúp cho Kinh tế có sự tăng trưởng GDP song đó là sự tăng trưởng quán triệt 5 yêu cầu sau:

- Tăng trưởng không mất việc làm

- Tăng trưởng không mất tiếng nói

- Tăng trưởng không mất lương tâm

- Tăng trưởng không mất gốc rễ

- Tăng trưởng không mất tương lai.

Nhà trường ở mỗi Cộng đồng phấn đấu là Vầng trán khai minh Trí tuệ Nhân dân Cộng đồng, là Trái tim hòa hợp nhân tâm Cộng Đồng, là Đôi tay dẫn dắt Cộng Đồng đi tới các tiến bộ mới.

Người Thày trong mỗi Nhà trường phấn đấu hoàn thành 3 sứ mệnh: Người truyền đạo – Người giải hoặc – Người thụ nghiệp, thực hiện được 5 nhiệm vụ: Dạy kiến thức – Phương pháp – Động cơ – Truyền cảm hứng – Khơi dậy hoài bão cho Trò.

2.3.2. Quốc Học Việt đương đại phấn đấu “giúp cho Dân giàu”, làm cho “Dân vui”, khích lệ cho “Dân tin” hăng hái thực hiện “lẽ sống mới”

Gần 80 năm phát triển Giáo dục của kỷ nguyên mới cho thấy:

Ở Việt Nam ngày nay dù gặp hoàn cảnh nào, nan đề gì, nút thắt gì, điểm nghẽn gì thì Giáo dục đều hướng đến mục tiêu: Phục vụ cho sự nghiệp “Dân giàu/ Dân vui/ Dân tin” hăng hái theo Lẽ sống mới làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù muốn phá hoại hòa bình, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.

Kinh tế Đất nước ngày nay dù còn nhiều khó khăn song cố gắng cung ứng các điều kiện để mọi Công dân được đi học, học hết bậc phổ cập có cơ hội phát triển tài năng.

Hiện nay dân số Việt Nam là trên 90 triệu thì số người đi học từ Giáo dục Mầm non đến Giáo dục Đại học là trên 23 triệu (trên 1/4 Dân số).

Phường xã nào cũng có Trường Mầm non, Trường Tiểu học, Trường THCS, Quận huyện nào cũng có Trường THPT. Tỉnh thành nào cũng có Trường Cao đẳng. Một số Tỉnh thành có Trường Đại học Địa phương.

Hệ thống trường chuyên ở bậc THPT có mặt tại nhiều Tỉnh thành trên toàn quốc và gắn vào nhiều Trường ĐH.

Sự kiện tự hào là năm 2010, Ngô Bảo Châu đã làm rạng danh Trí Tuệ Việt Nam khi nhận giải thưởng Fields (Về Toán học) tương đương như giải Nobel. Ngô Bảo Châu từng là Học sinh Khối chuyên Toán trường ĐH Tổng hợp Hà Nội.

Chi cho Giáo dục từ Ngân sách Nhà nước chiếm tới 20% (Khoảng 5% GDP) tuy nhiên Gia đình Việt Nam nào cũng có tâm niệm: “Con hơn cha là nhà có phúc” nên không tiếc công, tiếc của cho sự tiến bộ của con em. Nếu tính cả chi phí của Nhà nước và các Gia đình cho việc Học tập thì con số không dừng lại ở 5% GDP mà có thể gấp tới hơn 2 lần mức đã công bố.

“Lẽ sống mới” của người Việt trong cuộc sống hôm nay là lẽ sống thực hiện được “Cần – Kiệm – Liêm – Chính” chống được lười biếng, tham nhũng, phù hoa, xa xỉ, lấy hệ giá trị “Nhân – Nghĩa – Trí – Dũng – Liêm” trong tư duy và hành động, biết Tự trọng, tự tin có hoài bão làm được việc tốt cho Đất nước. Lẽ sống này phải là nền tảng để mỗi Nhà trường, Gia đình, Cộng đồng bồi dưỡng cho con em Tu thân tích cực, Xử thế sáng khôn, Dưỡng sinh hiệu quả.

2.3.3. Các Nhà trường thấm nhuần “Tâm nguyện/ Huấn đức” của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

Chủ Tịch Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng, toàn Xã hội quan tâm đến Giáo dục: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ Dân chủ Xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa Thầy và Thầy, giữa Thầy và Trò, giữa Học trò với nhau, giữa Cán bộ các cấp, giữa Nhà trường và Nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó.

Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp Cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân ta, do đó các ngành, các cấp Đảng và Chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc Nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp Giáo dục của ta lên những bước phát triển mới” (Thư gửi Ngành Giáo dục năm 1968).

Nhà Văn hóa Phạm Văn Đồng huấn thị cho các Địa phương thực hiện:

“Trường ra Trường, Lớp ra Lớp,

Thày ra Thày, Trò ra Trò,

Dạy ra Dạy, Học ra Học”

(Ông nêu năm 1980 khi đang giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Cải cách Giáo dục TW)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xác định sứ mệnh của Giáo dục:

“Giáo dục là mục đích cuộc sống, vì con người không chỉ có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mà còn có sứ mệnh tạo ra những giá trị văn hóa, đạo đức, thể mỹ và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” (Tâm thư gửi Bộ chính trị năm 2009)

Tham khảo Chỉ số phát triển con người của Việt Nam theo công bố của UNDP năm 2020:

Ngày nay, Thế giới đang dùng chỉ số HDI (Human Development Index) để xác định trạng thái phát triển của mỗi đất nước. Trong HDI có 3 chỉ số thành phần:
Chỉ số Kinh tế, Chỉ số Giáo dục, Chỉ số Tuổi thọ. HDI của Việt Nam đang được đánh giá thuộc loại có mức cao (0,704), xếp thứ 117/189 Quốc gia, trong đó có sự đóng góp lớn của phát triển giáo dục.

Tư liệu

Xin dẫn ra tư liệu sau về HDI (chỉ số phát triển con người )
của các nước trong khối ASEAN:

Chỉ số phát triển con người (HDI)/Human development Index (HDI)

Xếp hạng HDI/Quốc gia Rangking HDI/Country

Chỉ số bất bình đẳng giới (GII)/Gender Inequality Index (GII)

Xếp hạng GII/Quốc gia Rangking GII/Country

Đông Nam Á – Southeast Asia

Brunei

Căm-pu-chia

In-đô-nê-xia

CHDCND Lào

Ma-lay-sia

Mi-an-ma

Phi-líp-pin

Sin-ga-po

Thái lan

Timor-Leste

Việt Nam


0,838

0,594

0,718

0,613

0,810

0,583

0,718

0,938

0,777

0,606

0,704

47/189

144/189

107/189

137/189

62/189

147/189

107/189

11/189

79/189

141/189

117/189

0,255

0,474

0,480

0,459

0,253

0,478

0,430

0,065

0,359

-

0,296

60/162

117/162

121/162

113/162

59/162

118/162

104/162

12/162

80/162

-

65/162

Trong bài "Một số Ví dụ lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", GS.TS Nguyễn Phú Trọng (Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam) đã trang trọng nhắc tới sự kiện này. Ông viết:

"Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704 thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển."

3. Kết luận

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Giáo dục và đào tạo luôn vận động, phát triển gắn liền với sự vận động phát triển của thực tiễn, của điều kiện xã hội lịch trong từng giai đoạn cụ thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Mười năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI, Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mặc dù còn nhiều khó khăn, bất cập và hạn chế, nhưng nhìn chung ngành giáo dục đã bám sát thực tiễn, đào tạo được nguồn nhân lực về cơ bản đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chỉ số phát triển người HDI của Việt Nam đã có bước phát triển mạnh, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới.

PGS.TS. Đặng Quốc Bảo - Chủ tịch Viện Trí Việt

(thuộc Liên Hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam/ VUSTA)

Từ khóa:

Ý kiến bạn đọc

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CƠNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

Tiếp bài: DẠY THÊM – HỌC THÊM Ở TRƯỜNG THCS BA ĐÌNH (HÀ NỘI): CẦN NHÌN NHẬN LẠI ĐỂ BẢO VỆ CƠNG LÝ VÀ NHÂN VĂN TRONG GIÁO DỤC

TCGCVN - Trong mắt đồng nghiệp và học sinh, Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình là một giáo viên mẫu mực: tận tụy với học trị, hết lịng với nghề, quản lý nhà trường minh bạch, được đánh giá hội tụ đầy đủ cả tài và đức. Nhiều năm liền chất lượng dạy và học đi lên, tuyển sinh tăng lên hằng năm rõ rệt, phong trào giáo dục được địa phương ghi nhận.

HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀO THỰC HÀNH GIẢNG BÀI CHÍNH TRỊ - NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIẢNG VIÊN VÀ HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ

Nguyễn Hồng Quân Tiểu đồn 9, Trường Sĩ quan Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, đào tạo nĩi chung và giáo

NĂNG LỰC KẾ TỐN BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC VÀ HÀM Ý ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

ThS. Phạm Thị Thùy Thanh Khoa Tài chính - Kế tốn, Trường Cao Đẳng Kinh tế TP. HCM Email: [email protected] Tĩm tắt Kế tốn phát triển bền vững đang trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi xanh và thực hành ESG, song cơng tác đào tạo nguồn nhân lực vẫn cịn nhiều hạn chế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích trắc lượng thư mục 30 cơng bố trên Scopus giai đoạn 1994 - 2026 bằng Bibliometrix (R) với phân tích nội dung 24 nghiên cứu tiêu biểu. Kết quả cho thấy xu

LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA: TẦM VĨC TƯ DUY, SOI ĐƯỜNG TƯƠNG LAI

Thượng uý Vy Long Nhật Phịng Chính trị, Lữ đồn 380, Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa Email: [email protected] Bốn thập kỷ đổi mới minh chứng cho bản lĩnh lý luận của Đảng ta, đây là cuộc cách mạng về tư duy, dùng “chìa khĩa” thực tiễn mở toang cánh cửa định kiến, tạo bước ngoặt xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Từ một quốc gia nghèo nàn, kiệt quệ sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích phát triển chưa từng cĩ. Hành trình 40 năm đổi mới là quá trình hiện thực hĩa

HỘI CỰU GIÁO CHỨC VIỆT NAM – NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

PGS.TS Trần Đình Tuấn Hội Cựu Giáo chức Việt Nam Email: [email protected] Tĩm tắt: Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời là một trong những động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đĩ, đội ngũ trí thức thuộc Hội Cựu Giáo chức Việt Nam là lực lượng cĩ nhiều kinh nghiệm, tri thức, uy tín xã hội và tâm huyết với

PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM, TINH THẦN TỰ HỌC VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC - CƠNG NGHỆ TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

PGS.TS. Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng của phát triển quốc gia, đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ giữ vai trị tiên phong trong sáng tạo tri thức, phát triển cơng nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước. Bài viết phân tích những yêu cầu mới đặt ra đối với đội ngũ trí thức khoa học - cơng nghệ trong kỷ nguyên số, tập trun

Việt Nam giành 4 Huy chương Bạc tại Olympic Sinh học quốc tế 2026, tiếp tục giữ vững vị thế trong top 8 thế giới

TCGCVN - Theo thơng tin từ Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Đội tuyển quốc gia Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế (IBO) năm 2026 đã đạt thành tích xuất sắc khi cả 4/4 học sinh đều đoạt Huy chương Bạc, qua đĩ tiếp tục duy trì vị trí trong top 8 đồn cĩ thành tích cao nhất tại kỳ thi.

Thơng tư mới về nhà giáo sau nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng: Hồn thiện hành lang pháp lý, nâng cao chất lượng giáo dục

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thơng tư số 59/2026/TT-BGDĐT ngày 15/7/2026 quy định về nhà giáo hợp đồng tồn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng. Thơng tư cĩ hiệu lực từ ngày 01/9/2026, thay thế Thơng tư số 44/2011/TT-BGDĐT và Thơng tư số 11/2013/TT-BGDĐT.

VAI TRỊ CỦA NHÂN VIÊN CƠNG TÁC XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG MƠ HÌNH HỖ TRỢ GIA ĐÌNH CĨ TRẺ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN THEO TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI: TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG THÁP

Huỳnh Thị Liên, Trần Thị Ngọc Y, Nguyễn Hiếu Thuận, Phạm Thiệt Khá Học viên cao học, Học viện Chính trị, Khu vực4 Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của nhân viên cơng tác xã hội (CTXH) cấp cơ sở trong hỗ trợ gia đình cĩ trẻ rối loạn phát triển (RLPT) tại tỉnh Đồng Tháp theo tiếp cận hệ sinh thái. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu về CTXH, kế hoạch của Tỉnh và các nghiên cứu về hỗ trợ gia đình cĩ trẻ RLPT. Kết quả cho thấy chính sách hiện hành đã

Chung sức vì học sinh vùng biên: Cao Bằng biểu dương mơ hình huy động tồn xã hội xây dựng trường học

TCGCVN - Ngày 17/7/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành Văn bản số 2497/UBND - KT biểu dương và đề nghị nhân rộng mơ hình huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong hỗ trợ thi cơng các cơng trình Trường Phổ thơng Nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN NGHĨA, PHƯỜNG YÊN NGHĨA THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Thạc sĩ Vũ Hiền Phương Trường THCS Yên Nghĩa, Hà Nội Email:[email protected] Tĩm tắt: Năng lực số là nền tảng của năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo, quyết định khả năng tiếp cận, khai thác, sử dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, an tồn và cĩ trách nhiệm trong dạy học của giáo viên. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, năng lực số cịn là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới giáo dục và chuyển đổi số trong nhà trường, gĩp phần đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục. Trên cơ sở khái quát một số

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HUẤN LUYỆN NỘI DUNG PHỊNG THỦ DÂN SỰ CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO HẠ SĨ QUAN CHỈ HUY VÀ NHÂN VIÊN CHUYÊN MƠN KỸ THUẬT Ở TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU 5

Hồng Xuân Lĩnh Khoa Binh chủng, Trường Quân sự Quân khu 5 Email:[email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh, sự cố mơi trường và các tình huống khẩn cấp ngày càng diễn biến phức tạp, huấn luyện phịng thủ dân sự trở thành nội dung quan trọng trong đào tạo quân nhân ở các nhà trường quân đội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng huấn luyện nội dung phịng thủ dân sự đối với học viên đào tạo Hạ sĩ quan chỉ huy và

Nữ sinh bản nghèo người Thái và ước mơ gieo chữ vùng cao

Sinh ra và lớn lên tại xã Mường Quàng (trước đây là bản Cắm Nọc, xã Cắm Muộn) - một trong những xã vùng cao khĩ khăn bậc nhất xứ Nghệ, cơ học trị người Thái Lữ Thị Minh Anh đã viết nên một câu chuyện đầy nghị lực về hành trình vượt khĩ, học giỏi và nuơi dưỡng ước mơ trở thành cơ giáo.

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP LIÊN VĂN HĨA CHO SINH VIÊN NGÀNH TIẾNG ANH DU LỊCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH PHỤC VỤ KHÁCH QUỐC TẾ

ThS. Hồng Thị Thủy – ThS. Phan Vũ Hồng Trang Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tĩm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam, năng lực giao tiếp liên văn hĩa ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với nguồn nhân lực du lịch. Đặc biệt, đối với sinh viên ngành Tiếng Anh Du lịch, khả năng giao tiếp hiệu quả với du khách đến từ các nền văn hĩa khác nhau khơng chỉ địi hỏi trình độ ngoại ngữ mà

THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TIÊN PHONG THỰC HIỆN “HAI KIÊN ĐỊNH”, GIỮ VỮNG BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thiếu tá Lê Minh Tân Đại úy Nguyễn Văn Huy Học viện Chính trị - Bộ Quốc phịng Tĩm tắt: Bài viết phân tích vai trị của thanh niên Quân đội trong thực hiện nội dung

TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ - ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KỲ PHÁT TRIỂN MỚI

TS. Bùi Xuân Việt Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Email:[email protected] Tĩm tắt: Bài viết phân tích tái cấu trúc hệ thống chính trị đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tiễn cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và đặc biệt là kết quả nổi bật qua một năm tổng kết thực hiện mơ hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, nhận diện, đấu tran

VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Trung tá, Ths Đỗ Văn Quân Khoa Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Email: [email protected] Tĩm tắt: Sơ đồ tư duy là một cơng cụ dạy và học trực quan, giúp hệ thống hĩa kiến thức một cách sinh động và dễ nhớ. Đặc biệt trong mơn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, vốn địi hỏi người học phải ghi nhớ sự kiện, thời gian và mối liên hệ giữa các yếu tố, sơ đồ tư duy trở thành phương pháp hỗ trợ hiệu quả. Bài viết trên cơ sở phân tích đặc điểm mơn học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

KHỞI NGHIỆP XÃ HỘI: DƯỚI GĨC ĐỘ KHOA HỌC GIÁO DỤC

GS.TS Phạm Tất Dong Tĩm tắt: Bài báo phân tích quá trình hình thành và phát triển của khởi nghiệp xã hội dưới gĩc nhìn khoa học giáo dục, làm rõ cơ sở tư tưởng của mơ hình này từ lý thuyết vốn xã hội và triết lý

TRI THỨC VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ SƯ MỆNH

Tơ Bá Trượng Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected] Tĩm tắt: Bài báo phân tích vai trị của đội ngũ trí thức Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, từ đĩ làm rõ những cơ hội, thách thức và sứ mệnh của trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trên cơ sở tổng quan các quan điểm lý luận về trí thức, phân tích các chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài báo chỉ

Bộ GD&ĐT cơng bố ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và pháp luật năm 2026

TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) vừa ban hành ba quyết định quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào (điểm sàn) tuyển sinh năm 2026 đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực giáo viên, sức khỏe và pháp luật trình độ đại học, cao đẳng.