Mối liên hệ giữa mức độ cô đơn và lòng tự trọng (self-esteem) của sinh viên một số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Từ khóa:
Mức độ cô đơn lòng tự trọng mối liên hệ sinh viên
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện trên 361 sinh viên đến từ một số trường Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh gồm: Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Hutech và Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự cô đơn của sinh viên ở mức độ trung bình và không có sự khác biệt về sự cô đơn giữa các nhóm sinh viên xét theo các biến nhân khẩu học
Tài liệu tham khảo
  1. [1]. Al Khatib, S. A. (2012). Exploring the Relationship among Loneliness, Self-esteem, Self-efcacy and Gender in United Arab Emirates College Students (Khám phá mối liên hệ giữa sự cô đơn, sự đánh giá tự thân, sự tin tưởng năng lực tự thân và giới ở sinh viên cao đẳng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất). Europe’s Journal of Psychology, 8(1), pp. 159-181
  2. [2]. Hurmat ALI Shah, Mowafa Househ (2023), Understanding Loneliness in Younger People: Review of the Opportunities and Challenges for Loneliness Interventions, Interact J Med Res 2023;vol 12:e45197
  3. Kim, M. Instagram selfie-posting and young women’s body dissatisfaction: Investigating the role of selfesteem and need for popularity. Cyberpsychology: Journal of Psychosocial Research on Cyberspace, 2020,14 (4).
  4. [3]. Leary, M. R., & Baumeister, R. F. (2000). The nature and function of self-esteem: Sociometer theory. In Advances in Experimental Social Psychology (Vol. 32, pp. 1–62). Elsevier.
  5. [4]. Mann F, Wang J, Pearce E, et al. Loneliness and the onset of new mental health problems in the general population. Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology. 2022, 57(11): 2161–2178. doi: 10.1007/s00127-022- 02261-7
  6. [5]. Peplau LA, Perlman D, editors. Loneliness: A Sourcebook of Current Theory, Research and Therapy. New York: Wiley; 1982.
  7. [6]. Rokach A, Patel K. The health consequences of loneliness. Environment and Social Psychology 2024; 9(6): 2150. doi: 10.54517/esp.v9i6.2150
  8. [7]. Rosenberg, M., Schooler, C., Schoenbach, C., & Rosenberg, F. (1995). Global self-esteem and specifc self-esteem: Different concepts, different outcomes (Đánh giá tự thân toàn thể và đánh giá tự thân đặc hiệu: Khác biệt về khái niệm và kết quả). American Sociological Review, 60(1), pp. 141-156
  9. [8].Tiwari S. (2013). Loneliness: A disease?. Indian Journal of Psychiatry. Vol. 55 (4). P. 320.
  10. [9].Vanhalst, J., Luyckx, K., Scholte, R. H., Engels, R. C., & Goossens, L. (2013). Low self-esteem as a risk factor for loneliness in adolescence: perceived - but not actual - social acceptance as an underlying mechanism (Lòng tự tôn thấp là một yếu tố nguy cơ dẫn đến cô đơn ở vị thành niên: có liên hệ nhưng không thể xem là quan hệ tất yếu chính là mức độ chấp nhận xã hội như một cơ chế đằng sau hiện tượng này). Journal of abnormal child psychology, 41(7), pp. 1067-1081.
  11. [10].Đặng Khánh An, Nguyễn Văn Tường (2023), Mối tương quan giữa trạng thái cô đơn và sự đánh giá tự thân ở cộng đồng LGBT+ tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số 148 (209), tr.75-80)
  12. [11].Trần Thị Minh Đức, Cao Quốc Thái (2018), Cảm nhận cô đơn của sinh viên và mối liên hệ giữa cảm nhận cô đơn với tự đánh giá bản thân, tiêu điểm kiểm soát bên ngoài, Tạp chí Tâm lý học, số 8 (233), tr. 16-30
  13. [12].Nguyễn Ngọc Thanh Huy (2023), Mức độ cô đơn của sinh viên các Trường Đại học tại khu đô thị Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế về tâm lý học trường học lần thứ 7 “Thúc đẩy sức khỏe tâm thần tại trường học”, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr.406 – 412