XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Đại tá, PGS, TS, NGƯT, Nguyễn Xuân Tú –
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự,
TS Võ Thị Dương –
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Bộ Công thương
1. Mở đầu
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh của bạo lực cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền bao gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cách mạng. Trong đó lực lượng chính trị quần chúng giữ vai trò chủ yếu quyết định, lực lượng vũ trang giữ vai trò quan trọng, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Vì thế, trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng đã lãnh đạo tập trung xây dựng và phát triển lực lượng chính trị quần chúng rộng rãi. Đây là nhân tố quyết định đưa cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi to lớn, nhanh chóng và triệt để.
2. Nội dung nghiên cứu
Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một, hai người. Người chỉ rõ: “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được”[3, tr.299]. Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định: “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”[3, tr.297]. Đồng thời, Người còn chỉ rõ: Công, nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn của cách mạng.
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là dấu mốc có tính bước ngoặt và đột phá trong phong trào yêu nước Việt Nam. Vừa được thành lập, dù còn non trẻ, Đảng đã nhận thấy việc xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng một đội ngũ quần chúng nhân dân hùng hậu, mạnh mẽ, giác ngộ mục tiêu lý tưởng cách mạng là hết sức cần thiết lúc này. Nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp, trên cơ sở phân tích đặc điểm xã hội Việt Nam, nhất là sự phân hoá về giai cấp trong xã hội, đánh giá đúng thái độ của từng giai cấp, tầng lớp, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định mục tiêu tập hợp lực lượng cách mạng, đưa ra nguyên tắc tập hợp và sắp xếp lực lượng cách mạng. Trên tinh thần giải quyết hài hoà từng bước quyền lợi của các giai cấp cách mạng, Đảng chủ trương “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng...”[1, tr.4]; đồng thời, “phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa c.m đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”[1, tr.4], ra sức liên minh với các giai cấp cách mạng, các tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng xã hội không có người bóc lột người. Tiếp đó, trong Chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, ngày 18/11/1930, Thường vụ Trung ương Đảng cũng khẳng định: Nếu không tổ chức được lực lượng thật rộng, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân và khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp công nhân trong cách mạng vô sản, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã không ngừng xây dựng, củng cố khối liên minh công nông và dựa trên nền tảng đó, ngày càng mở rộng xây dựng lực lượng chính trị đông đảo trong toàn dân tộc để huy động sức mạnh quần chúng đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ đến. Nhờ đó, ngay từ phong trào cách mạng đầu tiên trong những năm 1930-1931, ở Việt Nam đã xác lập được khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Đây là lực lượng cách mạng đóng vai trò động lực chính của cách mạng, là nòng cốt để xây dựng, mở rộng lực lượng toàn dân tộc. Tiếp đó, trong phong trào cách mạng dân chủ những năm 1936-1939, lần đầu tiên trên thực tế ta đã xây dựng được Mặt trận rộng rãi tập hợp được lực lượng chính trị to lớn. Thời kỳ này, một mặt ta tiếp tục củng cố toàn diện khối liên minh công nông, mặt khác, chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng thông qua nhiều hình thức tổ chức. Qua đó vận động, tổ chức và tập dượt lực lượng chính trị quần chúng rộng lớn gồm cả tư sản dân tộc, tiểu tư sản, các đảng phái cải lương ít, nhiều có tiến bộ để tập trung chống bọn phản động thuộc địa, chống chiến tranh, đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình, hướng tới mục tiêu chiến lược là giành chính quyền.
Trong cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945), khi xuất hiện tình thế cách mạng, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng nhận định tình hình thế giới và trong nước đã có thay đổi lớn, tinh thần cách mạng của nhân dân cũng như thái độ của các giai cấp, tầng lớp đã có sự thay đổi, cho nên Hội nghị nhận định: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng””[2, tr.119], cũng như tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa, đặt Tổ quốc lên trên hết, đoàn kết toàn dân đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc. Chính vì vậy, để tập hợp, xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời. Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định: Việt Minh chủ trương liên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn. Việt Minh chủ trương học tập hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi kết thành một khối vô địch đặng đập tan xiềng xích của Nhật Pháp, quét sạch mưu mô xảo trá của bọn Việt gian phản quốc, chúng đã gạch tên trong quốc tịch của người Việt Nam.
Ngay sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã kêu gọi các tầng lớp nhân dân theo thành phần, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và hoàn cảnh xã hội hãy tham gia vào các tổ chức đoàn thể cứu quốc do Việt Minh lãnh đạo: “Nông dân phải vào “Nông dân Cứu quốc hội”. Thanh niên phải vào “Thanh niên Cứu quốc hội”. Phụ nữ vào “Phụ nữ Cứu quốc hội”. Trẻ con vào “Nhi đồng Cứu quốc hội”. Công nhân vào “Công nhân Cứu quốc hội”. Binh lính vào “Binh lính Cứu quốc hội”. Các bậc phú hào văn sĩ vào “Việt Nam Cứu quốc hội”. Những hội ấy do Việt Nam độc lập đồng minh lãnh đạo. Người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức. Đồng tâm hợp lực. Muôn người một lòng. Nhân cơ hội này mà khôi phục lại Tổ quốc, mà làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”[4, tr.246]. Nhờ đó, Mặt trận Việt Minh nhanh chóng có được sự ủng hộ không chỉ của hai giai cấp công nhân, nông dân, mà còn của tầng lớp trí thức, địa chủ yêu nước tiến bộ, tư sản dân tộc, tăng ni, giáo sĩ, phật tử.... Các nhà hữu sản góp nhiều tiền của, thóc gạo, mua công phiếu Việt Minh, kín đáo ủng hộ tiền vàng và mua súng giúp Việt Minh. Tầng lớp trí thức tiến bộ ngả về phía Việt Minh, hoạt động trong các hội truyền bá chữ quốc ngữ. Theo tiếng gọi của Việt Minh, nhiều trí thức nổi tiếng “xếp bút nghiên” lên vùng chiến khu tham gia cách mạng. Các vị giáo sĩ, tăng lữ, đồng bào theo đạo Thiên chúa và các tôn giáo khác... giúp Việt Minh in tài liệu, giao thông liên lạc, đưa đón cán cán bộ.... Từ miền núi đến miền xuôi, từ ngoài Bắc vào trong Nam, một cao trào cứu nước phát triển mạnh mẽ, khối đoàn kết dân tộc lớn mạnh chưa từng có. Chính vì thế, trong xây dựng lực lượng chính trị lúc này chẳng những có công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản mà còn có cả tư sản dân tộc, địa chủ… Các tầng lớp quần chúng đông đảo được tổ chức trong những hội cứu quốc là thành viên của Mặt trận Việt Minh như Nông dân cứu quốc; Công nhân cứu quốc; Phụ nữ cứu quốc; Văn hóa cứu quốc… đã làm cho Mặt trận càng mở rộng, phát triển rộng rãi. Đây là lực lượng quyết định tới thắng lợi trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Trong thời gian này, trên cơ sở xác định hình thái khởi nghĩa đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, nên việc xây dựng lực lượng chính trị được tiến hành tích cực ở cả nông thôn và thành thị chứ không bó hẹp ở miền núi nông thôn. Cách mạng muốn giành thắng lợi nhanh chóng và triệt để phải đập tan những cơ quan đầu não bộ máy thống trị của địch ở ngay trung tâm thành thị, đặc biệt là ở thủ đô nên tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941), Đảng đã khẳng định: “Ta phải làm sao cho cách mạng ở đô thị phong trào thợ thuyền cho có thể lên cao và tiền phong cho các phong trào khác. Những nơi xưa nay chưa có ta phải đưa vận động chắp nối các mối manh làm cho phong trào khỏi cô độc”[2, tr.135]. Xuất phát từ nhận thức của Đảng về vai trò của nông thôn và thành thị, nhờ đó có sự chuẩn bị lực lượng gồm cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh trên cả hai địa bàn chiến lược này. Nông thôn nhất là nông thôn miền núi là nơi tập trung lực lượng chính trị của quần chúng nông dân đông đảo, được tổ chức và rèn luyện qua đấu tranh cách mạng, nơi có địa hình thuận lợi cho việc tổ chức và che giấu lực lượng và cũng là nơi kẻ địch có nhiều sơ hở hơn so với thành thị. Còn thành thị là nơi tập trung công nhân và nhiều tầng lớp lao động đã được giác ngộ lý tưởng cách mạng, là nơi trọng yếu do tập trung các cơ quan đầu não của kẻ thù. Chính thắng lợi cuộc nổi dậy đồng loạt cả ở thành thị và nông thôn khắp Bắc, Trung, Nam mà đòn quyết định là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các thành phố quan trọng khác đã minh chứng cho sự sáng tạo đúng đắn của Đảng ta trong việc xây dựng lực lượng chính trị và kết hợp khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), thời cơ cho khởi nghĩa từng phần xuất hiện, trên cơ sở xây dựng lực lượng toàn dân với nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, Đảng đã động viên, tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt khi thời cơ xuất hiện vào giữa tháng 8/1945, Đảng nhấn mạnh khởi nghĩa là công việc của toàn dân không chỉ riêng Việt Minh. Vào thời điểm cần tập trung lực lượng đông đảo, to lớn nhất cho khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng và Hồ Chí Minh vừa tiếp tục củng cố khối liên minh công, nông cả về chính trị, quân sự và kinh tế vừa tổ chức Mặt trân dân tộc thống nhất rộng rãi (Mặt trận Việt Minh). Thực hiện chủ trương kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến nhưng hướng chỉ đạo chiến lược tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu, hàng đầu lúc này là chống đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc nên đã tạo ra khả năng: vừa tập hợp được đông đảo nông dân, củng cố lòng tin của giai cấp nông dân đối với giai cấp công nhân, vừa lôi kéo được mọi lực lượng của dân tộc bao gồm tất cả những người có tinh thần chống đế quốc trong các giai cấp tư sản, địa chủ...mở rộng Mặt trận tập hợp những lực lượng yêu nước thông qua các tổ chức Công hội cứu quốc, Nông hội cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc...Nhờ đó, ta động viên được đông đảo quần chúng tham gia Tổng khởi nghĩa một cách sôi nổi, mạnh mẽ; lực lượng chính trị được phát triển sâu, rộng đã tạo cơ sở để lực lượng vũ trang từng bước phát triển cả ở nông thôn, thành thị cũng như trung du và rừng núi. Khi thời cơ “có một không hai” xuất hiện, ngay sau khi có Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của Ủy ban khởi nghĩa các cấp, lực lượng chính trị quần chúng tiếp tục được mở rộng với quy mô lớn hơn, rộng khắp các địa phương trên phạm vi toàn quốc, tạo sức mạnh to lớn trong cuộc đấu tranh quyết liệt với quân thù. Theo đó, khi Tổng khởi nghĩa diễn ra, lực lượng chính trị tiến hành đấu tranh chính trị gồm lực lượng quần chúng đông đảo (có lực lượng vũ trang cách mạng địa phương hỗ trợ), chỉ với gậy gộc, giáo mác, thậm chí là tay không đã nhất tề theo Đảng và Hồ Chí Minh đứng lên đấu tranh dưới các hình thức: mít tinh có vũ trang, biểu tình - tuần hành thị uy, biểu tình vũ trang,… nhưng đã làm chủ hoàn toàn cả về thế và lực, xông lên như vũ bão, đánh chiếm các cơ quan đầu não cùng các cơ sở, đồn trại của địch, giành chính quyền về tay nhân dân.
Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945, là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân cả nước từ miền Bắc lan tới miền Trung và miền Nam; từ miền núi lan tới đồng bằng, từ khắp các vùng nông thôn và vùng đô thị với sức mạnh của hơn 20 triệu người Việt Nam trong đó lực lượng chính trị giữ vai trò quyết định. Đó là sức mạnh nổi dậy không chỉ của lớp người cách mạng tiên tiến, tích cực mà còn bao gồm cả các tầng lớp đồng minh tạm thời, của cả những người mà từ trước đến lúc này ít tham gia vào đời sống chính trị. Khởi nghĩa giành chính quyền đã lan rộng và nhanh chóng thành công ở các trung tâm lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn bởi Đảng và Hồ Chí Minh đã xây dựng, tập hợp và phát động được mọi tầng lớp, mọi lực lượng tán thành mục tiêu độc lập dân tộc. Khởi nghĩa giành chính quyền đã nhanh chóng giành thắng lợi tại Thủ đô Hà Nội vào ngày 19/8/1945, chính là nhờ sức mạnh áp đảo của lực lượng chính trị đông đảo với trên 60 vạn đồng bào ở cả nội và ngoại thành cùng một số huyện thuộc tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, bao gồm công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, học sinh, sinh viên, công chức trí thức... tham gia và được hỗ trợ của lực lượng vũ trang. Sức mạnh để giành chính quyền thắng lợi ở Huế, ngày 23/8/1945 là sức mạnh nổi dậy của hơn 15 vạn người gồm nhiều tầng lớp, bộ phận thuộc lực lượng chính trị tham gia. Ở Sài Gòn, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong ngày 25/8/1945, bởi sức mạnh nổi dậy giành chính quyền của lực lượng chính trị với hơn 1.000.000 đồng bào gồm công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, công chức và được lực lượng vũ trang hỗ trợ. Cách mạng tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của lực lượng chính trị được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng “long trời, lở đất”.
Bằng sức mạnh toàn dân nổi dậy “đem sức ta mà giải phóng cho ta” để giành chính quyền với sự kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, trong đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị giữ vai trò quyết định đã tạo ra sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của quân đội Nhật và buộc chính quyền phong kiến tay sai phải đầu hàng nhanh chóng trong vòng nửa tháng. Đánh giá về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí Trường Chinh viết: “Cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”[5, tr.374].
3. Kết luận
Kế thừa và vận dụng bài học về xây dựng lực lượng chính trị - nhân tố quyết định làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong tình hình hiện nay, Đảng chủ trương tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu, mà ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao./.
Tài liệu tham khảo
[1]. ĐCSVN, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG,HN, 1998, tr.4.
[2].ĐCSVN, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, HN, 2000, tr.119.
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG-ST, HN, 2011, tr.299.
[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, HN, 2011, tr.246.
[5].Trường Chinh, Cách mạng dận tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb ST,HN,1975, tr.374.