1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

08:34 | 04/01/2026
aA

 

PGS.TS Trần Đình Tuấn -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện của xã hội, việc xây dựng và phát triển văn hóa học đường trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần hình thành và bồi dưỡng đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ. Bài viết phân tích vai trò của giáo dục văn hóa học đường trong việc hình thành các giá trị đạo đức, nhân văn, lối sống tích cực cho học sinh, sinh viên; đồng thời chỉ ra những thách thức của kỷ nguyên số đối với quá trình này. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường, góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên trong bối cảnh mới.

Từ khóa: văn hóa học đường, đạo đức, nhân cách, học sinh, sinh viên, kỷ nguyên số, chuyển đổi số trong giáo dục.

 

1. Đặt vấn đề

Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho đổi mới giáo dục, song cũng đặt ra những thách thức chưa từng có đối với việc hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức của học sinh, sinh viên. Internet và mạng xã hội mang lại tri thức mở và môi trường kết nối toàn cầu, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ lệch chuẩn giá trị, suy giảm tương tác trực tiếp, và khủng hoảng niềm tin. Trong bối cảnh đó, giáo dục văn hóa học đường không chỉ dừng lại ở việc xây dựng nề nếp, kỷ cương, mà còn là nền tảng để hình thành nhân cách, đạo đức, bản lĩnh và trách nhiệm công dân số cho người học.

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục văn hóa học đường và phát triển đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên trong kỷ nguyên số có ý nghĩa quan trọng, góp phần định hướng giá trị và hành vi chuẩn mực cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa và công nghệ 4.0.

Từ trái qua phải: PGS.TS Trần Đình Tuấn; PGS.TS Phạm Viết Vượng; GS.TS Đinh Quang Báo; PGS.TS Hồ Văn Thống 

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Khái niệm văn hóa học đường và phát triển đạo đức, nhân cách trong kỷ nguyên số

2.1.1. Khái niệm văn hóa học đường

Văn hóa học đường là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, hành vi, mối quan hệ và môi trường sư phạm được hình thành trong quá trình hoạt động giáo dục. Đó là sự kết tinh giữa văn hóa dân tộc, văn hóa nhà trường và văn hóa cá nhân, thể hiện ở cách ứng xử, thái độ học tập, lao động, tinh thần tôn sư trọng đạo và ý thức cộng đồng.

Trong kỷ nguyên số, văn hóa học đường không chỉ hiện diện trong không gian vật lý (trường lớp, sân trường), mà còn mở rộng sang không gian số – nơi học sinh, sinh viên giao tiếp, học tập, chia sẻ và thể hiện bản thân qua các nền tảng trực tuyến.

Văn hóa học đường và văn hóa nhà trường là hai khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất. Văn hóa nhà trường là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình xây dựng, phát triển và hoạt động của một tổ chức giáo dục cụ thể (trường học). Nó thể hiện qua cơ cấu tổ chức, mối quan hệ, chuẩn mực ứng xử, truyền thống, môi trường sư phạm, cách thức lãnh đạo – quản lý, và bản sắc riêng của mỗi trường.

Văn hóa học đường là một phạm trù rộng hơn, chỉ toàn bộ những giá trị, chuẩn mực, hành vi, lối sống, mối quan hệ, và môi trường văn hóa trong toàn bộ hệ thống giáo dục học đường (từ tiểu học đến đại học). Nó phản ánh đời sống văn hóa của cộng đồng học đường – gồm nhà trường, học sinh, giáo viên, phụ huynh và xã hội – trong quá trình dạy và học.

Điểm giống và khác nhau giữa văn hóa học đường và văn hóa nhà trường được khái quát trên những tiêu chí như sau:

Bảng 1: Điểm giống nhau:

Tiêu chí

Giống nhau

Bản chất

Đều là một dạng văn hóa tổ chức, hình thành trong môi trường giáo dục.

Chức năng

Đều hướng tới xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách, giá trị, và hành vi tích cực cho học sinh – sinh viên.

Chủ thể

Đều có sự tham gia của các lực lượng trong nhà trường: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, nhân viên, phụ huynh.

Giá trị cốt lõi

Đều đề cao tính nhân văn, tôn trọng, trách nhiệm, hợp tác, sáng tạo và kỷ luật.

Vai trò

Là nền tảng tinh thần giúp nhà trường phát triển bền vững, định hướng hành vi, tạo bản sắc và động lực cho các thành viên.

Bảng 2: Điểm khác nhau:

Tiêu chí

Văn hóa học đường

Văn hóa nhà trường

Phạm vi

Rộng, bao trùm toàn hệ thống GD (từ mầm non đến đại học, cả cộng đồng xã hội tham gia vào GD).

Hẹp hơn, chỉ trong phạm vi một cơ sở giáo dục cụ thể.

Tính chất

Mang tính hệ thống, phổ quát, phản ánh đặc trưng của nền GD quốc gia.

Mang tính đặc thù, bản sắc riêng, phản ánh truyền thống, phong cách của từng trường.

Nội dung biểu hiện

Bao gồm các giá trị chung của học đường: văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa dạy – học, văn hóa học tập, văn hóa số trong trường học...

Bao gồm các yếu tố cụ thể của từng trường: tầm nhìn – sứ mạng, triết lý giáo dục, truyền thống, biểu tượng, quy tắc ứng xử nội bộ, nghi lễ, khẩu hiệu, thương hiệu GD

Chủ thể tác động

Cả xã hội: nhà nước, ngành GD, cộng đồng, phụ huynh, học sinh, giáo viên.

Chủ yếu là tập thể sư phạm và học sinh của một trường.

Mức độ kháiquát

Mang tính lý luận – khái niệm, có thể dùng để nghiên cứu, định hướng chung.

Mang tính thực tiễn – tổ chức, được cụ thể hóa trong hoạt động của trường.

Mối quan hệ giữa hai khái niệm: Văn hóa nhà trường là “tế bào” cấu thành văn hóa học đường. Mỗi trường học có một đặc điểm văn hóa riêng, và tổng thể văn hóa riêng đó của các nhà trường hình thành nên văn hóa học đường quốc gia.

Văn hóa học đường cung cấp chuẩn mực, giá trị định hướng cho việc xây dựng văn hóa ở từng nhà trường. Ngược lại, văn hóa nhà trường là hiện thân cụ thể, sinh động của văn hóa học đường trong thực tiễn.

Tóm lại: Văn hóa học đường là cái chung của toàn hệ thống giáo dục, còn văn hóa nhà trường là cái riêng của từng cơ sở giáo dục. Hai khái niệm này vừa thống nhất, vừa khác biệt; trong đó, văn hóa nhà trường là biểu hiện cụ thể và là nền tảng để hình thành, phát triển văn hóa học đường Việt Nam hiện đại, nhân văn và sáng tạo.

2.1.2. Phát triển đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên

Đạo đức và nhân cách là kết quả của quá trình giáo dục, tự giáo dục và rèn luyện liên tục. Nhân cách bao gồm hệ thống phẩm chất đạo đức, tri thức, năng lực, thái độ và giá trị sống. Ở học sinh, sinh viên – lứa tuổi đang định hình thế giới quan và giá trị cá nhân – vai trò của giáo dục nhà trường có tính quyết định.

Bản chất đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên là tổng hòa các mối quan hệ của mỗi cá nhân. Đó là tổng hòa các mối quan hệ trong nhà trường, các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, các mối quan hệ xã hội. Trong kỷ nguyên số, các mối quan hệ cá nhân bao gồm cả mối quan hệ thực và mối quan hệ ảo. Đạo đức, nhân cách của học sinh, sinh viên được hình thành thông qua giáo dục và hoạt động trải nghiệm thực tiễn. Đó là hoạt động trong môi trường có giáo dục, có định hướng có tổ chức, từ môi trường hẹp đến môi trường rộng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc phát triển nhân cách không thể tách rời năng lực số, đạo đức số và văn hóa ứng xử trên không gian mạng, gắn với các giá trị cốt lõi như trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, nhân ái, tôn trọng và hợp tác.

2.2. Các thành tố cấu trúc Văn hóa học đường

Các thành tố cấu trúc của văn hóa học đường là những yếu tố cơ bản hình thành nên bản chất, diện mạo và sức sống của môi trường văn hóa trong nhà trường. Mỗi thành tố vừa có vai trò riêng, vừa có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa học đường. Có thể khái quát các thành tố cấu trúc chính như sau:

- Hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin và lý tưởng giáo dục

Đây là trung tâm cốt lõi của văn hóa học đường, chi phối mọi hoạt động và hành vi trong nhà trường. Giá trị cốt lõi như tôn sư trọng đạo, học đi đôi với hành, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, hợp tác, nhân ái, tôn trọng lẽ phải… Chuẩn mực hành vi, quy định cách ứng xử giữa thầy – trò, trò – trò, cán bộ – giáo viên – học sinh… Niềm tin và lý tưởng, niềm tin vào tri thức, vào giáo dục, vào con đường phát triển nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.

- Chủ thể văn hóa học đường

Bao gồm tất cả những người tham gia và tạo nên đời sống văn hóa trong nhà trường. Giáo viên, cán bộ, nhân viên là người truyền bá và nêu gương văn hóa. Học sinh, sinh viên là người tiếp nhận, sáng tạo và lan tỏa văn hóa học đường. Phụ huynh và cộng đồng xã hội là lực lượng đồng hành, hỗ trợ xây dựng văn hóa học đường.

Đây là thành tố mang tính động, vừa chịu sự tác động của các thành tố, vừa tác động vào các thành tố khác, liên kết các thành tố, thúc đẩy các thành tố đó vận động. Văn hóa học đường chỉ tồn tại khi các chủ thể có sự tương tác tích cực và cùng hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện.

- Môi trường vật chất – không gian văn hóa

Bao gồm hạ tầng, cảnh quan, cơ sở vật chất và cách tổ chức không gian giáo dục. Khuôn viên sư phạm xanh – sạch – đẹp, thân thiện. Phòng học, thư viện, khu sinh hoạt văn nghệ – thể thao, khu trải nghiệm, hệ thống công nghệ thông tin. Biểu tượng, khẩu hiệu, trang phục, bài hát truyền thống, logo, đồng phục, cách bài trí lớp học… Tất cả tạo nên “bộ mặt văn hóa” và giúp hình thành cảm xúc, thái độ, niềm tự hào của học sinh – sinh viên.

- Các mối quan hệ và hành vi ứng xử

Văn hóa học đường thể hiện rõ trong cách ứng xử, giao tiếp giữa các thành viên trong nhà trường. Quan hệ thầy – thầy: Đặc trưng là mô phạm, đoàn kết, hợp tác, chia sẻ, tôn trọng lẫn nhau, cùng hướng tới chất lượng giáo dục.

Quan hệ thầy – trò: tôn trọng, thân thiện, dân chủ nhưng kỷ cương.

Quan hệ học sinh – học sinh: đoàn kết, giúp đỡ, tôn trọng sự khác biệt.

Quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội: hợp tác, chia sẻ trách nhiệm giáo dục.

Đây là thành tố phản ánh trình độ phát triển đạo đức, nhân cách và năng lực văn hóa của mỗi chủ thể.

Trong thời đại số, ngoài những mối quan hệ chính thống, mối quan hệ thực còn có mối quan hệ không chính thống, mối quan hệ ảo trên mạng xã hội. Mối quan hệ này có tác động rất mạnh đến sự hình thành, phát triển đạo đức, nhân cách của từng thành viên trong nhà trường.

- Hoạt động văn hóa – giáo dục – xã hội

Bao gồm toàn bộ các hoạt động giáo dục, rèn luyện, phong trào thi đua, sự kiện tập thể diễn ra trong nhà trường. Dạy học, sinh hoạt chuyên môn, trải nghiệm sáng tạo, hoạt động ngoại khóa. Phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Các hoạt động văn nghệ, thể thao, thiện nguyện, ngày lễ truyền thống, hoạt động hướng nghiệp, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số trong giáo dục… Đây là thành tố thực hành văn hóa học đường, giúp học sinh hình thành và củng cố giá trị, kỹ năng sống.

- Thiết chế và cơ chế quản lý văn hóa học đường

Bao gồm hệ thống quy định, nội quy, quy chế, kế hoạch, chính sách của nhà trường. Quy tắc ứng xử, bộ quy chuẩn đạo đức nhà giáo – học sinh. Quy định về nếp sống, đồng phục, giờ giấc, kỷ luật, hoạt động mạng xã hội. Cơ chế phát hiện, khen thưởng – xử lý vi phạm; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Đây là thành tố bảo đảm tính ổn định và bền vững của văn hóa học đường.

Tóm lại, văn hóa học đường là một hệ thống cấu trúc đa tầng, trong đó
Giá trị – Chủ thể – Môi trường – Ứng xử – Hoạt động – Thiết chế là sáu thành tố cơ bản, đan xen và hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên bản sắc riêng của mỗi nhà trường và góp phần hình thành nhân cách, đạo đức, tri thức và kỹ năng cho người học trong thời đại mới.

2.3. Vai trò của văn hóa học đường trong giáo dục phát triển đạo đức, nhân cách

2.3.1. Tạo môi trường văn hóa tích cực hình thành phẩm chất đạo đức

Một môi trường học đường lành mạnh, dân chủ, nhân văn giúp học sinh, sinh viên được sống, học tập và phát triển trong bầu không khí tôn trọng, đoàn kết, yêu thương. Các giá trị văn hóa như tôn sư trọng đạo, trung thực trong học tập, tinh thần hợp tác và trách nhiệm cộng đồng được chuyển hóa thành hành vi đạo đức cụ thể.

2.3.2. Gắn kết giữa học tập tri thức và rèn luyện nhân cách

Văn hóa học đường giúp kết nối giáo dục tri thức với giáo dục giá trị sống, biến quá trình học tập trở thành quá trình rèn luyện nhân cách. Các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm, tình nguyện, sinh hoạt câu lạc bộ... là môi trường để học sinh, sinh viên thực hành đạo đức, củng cố các phẩm chất như trung thực, sáng tạo, kiên trì và nhân ái.

2.3.3. Hình thành năng lực đạo đức số

Trong thời đại công nghệ số, giáo dục văn hóa học đường còn phải hướng tới xây dựng đạo đức và văn hóa ứng xử trên môi trường mạng: tôn trọng quyền riêng tư, sử dụng ngôn ngữ văn minh, không tung tin giả, không bắt nạt mạng, và biết tự chịu trách nhiệm về hành vi trực tuyến của mình.

2.4. Những thách thức của giáo dục văn hóa học đường trong kỷ nguyên số

-Ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội: Sự lan truyền thông tin xấu, độc, bạo lực ngôn từ và lối sống thực dụng có thể tác động mạnh tới học sinh, sinh viên, đặc biệt khi thiếu khả năng chọn lọc và phản biện.

-Suy giảm giao tiếp trực tiếp: Học tập trực tuyến, làm việc qua nền tảng số khiến sự gắn kết giữa thầy và trò, giữa người học với tập thể bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình hình thành cảm xúc đạo đức.

-Khoảng cách kỹ năng số và nhận thức giá trị: Nhiều học sinh, sinh viên thành thạo công nghệ nhưng chưa có đạo đức số tương xứng; còn hiện tượng học lệch, thiếu tôn trọng bản quyền, gian lận học thuật trực tuyến.

-Sự thiếu đồng bộ trong xây dựng văn hóa số nhà trường: Một số trường chưa có quy tắc ứng xử trên mạng, chưa tích hợp giáo dục văn hóa số vào chương trình chính khóa.

2.5. Giải pháp phát huy vai trò của văn hóa học đường trong giáo dục phát triển đạo đức, nhân cách cho học sinh, sinh viên

2.5.1. Xây dựng môi trường học đường lành mạnh, dân chủ và nhân văn

Môi trường học đường là cái nôi của sự hình thành, phát triển đạo đức, nhân cách. Môi trường học đường lành mạnh, dân chủ, nhân văn sẽ tác động tích cực đến sự hình thành, phát triển đạo đức, nhân cách của mỗi thành viên.

Các nhà trường cần xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa phù hợp với đặc thù kỷ nguyên số, trong đó đề cao tinh thần tôn trọng, hợp tác và trách nhiệm. Các quy tắc đó phải được vận dụng trong thực tiễn, trở thành thói quen hành vi ứng xử của mọi thành viên trong tập thể. Mỗi cán bộ, giảng viên, giáo viên phải là tấm gương mẫu mực trong hành vi, lời nói, cách ứng xử – để “mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.

2.5.2. Tích hợp giáo dục đạo đức, nhân cách trong mọi hoạt động dạy học

Dạy học và giáo dục là hai phạm trù khoa học luôn gắn kết với nhau, lồng ghép vào nhau. Đây là hai hoạt động chủ yếu của mọi nhà trường. Nhà trường dù có hiện đại đến đâu cũng không thể chỉ dạy học mà không giáo dục.

Cần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm, lồng ghép giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, đạo đức số vào từng môn học, đặc biệt trong các môn khoa học xã hội, tin học, giáo dục công dân, kỹ năng mềm. Một quá trình dạy học thực sự khoa học sẽ đưa người học tới sự phát triển phẩm chất nhân cách và đạo đức tốt đẹp. Bởi vì trong khi tìm hiểu phép biện chứng của nội dung môn học thì người học đồng thời đi tới phép biện chứng trong tư tưởng, đạo đức, lối sống.

Tuy nhiên, giáo dục đạo đức nhân cách có con đường riêng, có phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện riêng. Đồng thời với quá trình giáo dục thông qua hoạt động dạy học cần phải đẩy mạnh các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Phải xác định chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức, nhân cách cho từng loại đối tượng học sinh cụ thể.

2.5.3. Phát triển văn hóa số trong nhà trường

Văn hóa số là một khái niệm hiện đại chỉ tổng thể các giá trị, chuẩn mực, hành vi, lối sống và cách giao tiếp của con người trong môi trường số, tức là trong không gian có sự hiện diện và tác động của công nghệ số, Internet, trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội, dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng kỹ thuật số khác.

Văn hóa số (Digital Culture) là hệ thống các giá trị tinh thần, biểu tượng, cách ứng xử và phương thức sáng tạo được hình thành, phát triển và lan tỏa trong môi trường số hóa. Nói cách khác, đó là văn hóa của con người khi sống, làm việc, học tập và giao tiếp thông qua công nghệ số.

Đặc trưng của văn hóa số là có tính kết nối toàn cầu. Con người, tổ chức, và thông tin có thể kết nối, chia sẻ và tương tác vượt qua không gian, thời gian. Có tính tương tác cao. Người dùng không chỉ tiếp nhận mà còn tham gia sáng tạo, chia sẻ, phản hồi ngay lập tức. Có tính mở và linh hoạt. Thông tin và tri thức dễ dàng được truy cập, chia sẻ và tái tạo. Có tính cá nhân hóa. Dữ liệu số cho phép cá nhân hóa trải nghiệm học tập, tiêu dùng, giải trí và giao tiếp. Có tính phi vật chất. Các giá trị văn hóa được biểu đạt qua hình ảnh, âm thanh, dữ liệu và ký hiệu điện tử.

Cấu trúc của văn hóa số bao gồm các thành tố cơ bản như sau: 1) Kỹ năng số. Biết sử dụng công nghệ, ứng dụng, mạng xã hội một cách an toàn, hiệu quả. 2) Đạo đức số. Có ý thức, trách nhiệm, tôn trọng quyền riêng tư, bản quyền, và tránh hành vi sai lệch trên mạng. 3) Công dân số. Hành xử văn minh, tham gia tích cực vào cộng đồng trực tuyến, đóng góp cho phát triển xã hội. 4) Sáng tạo số. Ứng dụng công nghệ để tạo ra sản phẩm, nội dung văn hóa, nghệ thuật, giáo dục mới.

Văn hóa số có cai trò định hướng hành vi con người trong không gian mạng. Thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, kinh tế, quản lý nhà nước, đời sống xã hội. Gìn giữ và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống bằng phương tiện hiện đại. Tạo động lực đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Ví dụ: Ứng xử văn minh trên mạng xã hội, tôn trọng bản quyền khi chia sẻ nội dung. Sử dụng chữ ký số, học trực tuyến, làm việc qua Zoom, Google Meet. Quảng bá di sản văn hóa Việt Nam qua nền tảng số như YouTube, Metaverse, hoặc bảo tàng ảo.

Tóm lại, văn hóa số là nền văn hóa mới của thời đại chuyển đổi số – nơi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người tiêu dùng và lan tỏa các giá trị văn hóa thông qua công nghệ kỹ thuật số.

Các nhà trường cần phải xây dựng “bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng” cho học sinh, sinh viên; tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm, diễn đàn “Công dân số có trách nhiệm”, “Văn minh mạng – nhân cách thật”. Đồng thời, sử dụng nền tảng số để lan tỏa các giá trị tích cực, tạo dựng hình ảnh văn hóa học đường hiện đại và nhân văn.

2.5.4. Xây dựng và quản lý, định hướng các mối quan hệ của học sinh, sinh viên

Văn hóa được thể hiện ra bằng các mối quan hệ ứng xử giữa người với người. Nhà trường chủ động xây dựng và có biện pháp quản lý, định hướng các mối quan hệ chính thức và mối quan hệ không chính thức, mối quan hệ thực và mối quan hệ ảo của học sinh, sinh viên trong nhà trường. Trong từng mối quan hệ đó mỗi cá nhân phải biết ứng xử chính danh của mình. Nghĩa là phải biết mình là ai để có cách ứng xử phù hợp. Đồng thời phải phát huy được trách nhiệm lương tâm, biết hy sinh quyền lợi cá nhân để quan tâm giúp đỡ những người khác.

Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Gia đình giữ vai trò nền tảng trong giáo dục nhân cách, còn nhà trường là nơi tổ chức, định hướng. Sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội sẽ tạo nên tam giác giáo dục vững chắc, giúp hình thành môi trường văn hóa toàn diện cho người học.

2.5.5. Phát huy vai trò tự giáo dục và tự rèn luyện của học sinh, sinh viên

Kỷ nguyên số đòi hỏi người học không chỉ học trong nhà trường mà phải học mọi lúc, mọi nơi, biết học tập suốt đời. Học không chỉ để biết, để làm mà còn phải học để khẳng định mình và học để biết cách sống với người khác. Trong kỷ nguyên số, người học phải tự nhận thức, tự định hướng và tự kiểm soát hành vi của mình. Nhà trường cần khuyến khích sinh viên phát triển năng lực tự học, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề đạo đức trong môi trường số, từ đó hoàn thiện nhân cách cá nhân.

Nhà trường cần phải có kế hoạch chiến lược chuyển quá trình giáo dục của nhà trường thành quá trình tự giáo dục của mỗi thành viên. Chỉ khi nào quá trình giáo dục được chuyển thành quá trình tự giáo dục thì mới gọi là thành công.

Để tự học, tự giáo dục, mỗi cá nhân phải tự đánh giá, tự điều chỉnh cả nhận thức, thái độ và hành vi. Trong một môi trường học đường có văn hóa thì mỗi cá nhân sẽ tự bản thân ý thức được hành vi của mình không bị lệch chuẩn.

3. Kết luận

Giáo dục văn hóa học đường trong kỷ nguyên số vừa là yêu cầu, vừa là động lực để phát triển toàn diện đạo đức và nhân cách của học sinh, sinh viên. Một nền văn hóa học đường nhân văn, dân chủ, hiện đại và thấm đẫm giá trị đạo đức truyền thống sẽ giúp thế hệ trẻ vừa làm chủ tri thức, vừa làm chủ bản thân, trở thành những công dân số có trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm.

Việc kết hợp giữa giáo dục văn hóa học đường với giáo dục đạo đức – nhân cách cần được xem là nhiệm vụ trung tâm, lâu dài của toàn ngành giáo dục, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam trong thời đại số.

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Thị Ngọc Anh (2024), Văn hóa học đường trong kỷ nguyên công nghệ số. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[2] Trần Văn Bảng (2021), Văn hóa học đường trong giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay, Nxb Giáo dục Việt Nam.

[3] Nguyễn Thị Thu Hằng (2022), Văn hóa học đường trong không gian số: Cơ hội và thách thức, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 6(2022).

[4] Lê Thị Phương (2022). Văn hóa học đường và sự tác động đến người dạy và người học trong bối cảnh chuyển đổi số. Tài liệu hội nghị “Đẩy mạnh công tác xây dựng văn hóa học đường”, Bộ GD-ĐT - Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục của Quốc hội, tr 83-96.

[5] Huỳnh Văn Sơn, Hồ Ngọc Kiều (2023), “Thực trạng thực hiện các nội dung cơ bản của văn hóa học đường”, Tạp chí Giáo dục, Tập 23, số 13 (tháng 7/2023), tr. 47-52

[6] UNESCO (2023), Digital Learning and School Culture: Global Report.

[7] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2024), Báo cáo nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số đến văn hóa học đường phổ thông ở Việt Nam, Hà Nội.

Ý kiến bạn đọc
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA”  VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
PGS.TS Trần Đình Tuấn - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).