1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA NGHỊ QUYẾT 71-NQ/TW VÀO ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở CÁC NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

06:58 | 11/04/2026
aA

 

 

Nguyễn Tô Quốc Dũng

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Email: [email protected].

 

Tóm tắt: Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới đã xác định nhiều quan điểm, định hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đối với các nhà trường Quân đội, việc vận dụng quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục – đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ Quân đội trong tình hình mới. Bài viết phân tích một số nội dung cơ bản của Nghị quyết 71-NQ/TW và đề xuất một số giải pháp vận dụng vào đổi mới giáo dục ở các nhà trường Quân đội hiện nay.

Từ khóa: Nghị quyết 71-NQ/TW; đổi mới giáo dục; nhà trường Quân đội; đào tạo cán bộ Quân đội.

Nhận bài: 05/3/2026; Biên tập: 06/3/2026; Phản biện: 09/3/2026; Duyệt đăng: 11/3/2026.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác giáo dục – đào tạo ở các nhà trường Quân đội. Đào tạo đội ngũ sĩ quan, cán bộ Quân đội không chỉ cần vững vàng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức mà còn phải có trình độ khoa học, công nghệ, khả năng thích ứng nhanh với môi trường tác chiến hiện đại

Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục – đào tạo đã khẳng định giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng để phát triển đất nước và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục – đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập, gắn với khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và nhu cầu thực tiễn của xã hội.

Đối với các nhà trường Quân đội, việc vận dụng đúng đắn quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục – đào tạo sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ Quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Quan điểm cơ bản của Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục – đào tạo

Thứ nhất, giáo dục – đào tạo là động lực then chốt của sự phát triển đất nước và là nhân tố quan trọng nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Nghị quyết 71-NQ/TW tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết.

Thứ hai, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo theo hướng hiện đại, thực chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Một trong những quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết 71-NQ/TW là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ giáo dục – đào tạo cả về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp và cơ chế quản lý. Đổi mới giáo dục không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam có bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; lấy người học làm trung tâm; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng tự học, tự nghiên cứu. Nội dung chương trình giáo dục cần gắn chặt với thực tiễn đời sống xã hội, với yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học – công nghệ trong giáo dục – đào tạo, tạo bước đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Nghị quyết 71-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.

Chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng số vào hoạt động dạy học, quản lý giáo dục và xây dựng hệ sinh thái giáo dục thông minh. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp đổi mới phương pháp dạy học, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức mà còn góp phần hình thành năng lực số cho người học – một yêu cầu quan trọng đối với nguồn nhân lực trong thời đại mới.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ nhà giáo có phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục – đào tạo.

Nghị quyết 71-NQ/TW xác định đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ nhà giáo có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, trình độ chuyên môn cao và phương pháp sư phạm hiện đại là yêu cầu có tính chiến lược.

Nghị quyết nhấn mạnh việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ nhà giáo nhằm tạo động lực cho họ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học và khả năng ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Đồng thời, cần xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, khuyến khích sáng tạo và nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục.

2.2. Yêu cầu vận dụng quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục ở các nhà trường Quân đội hiện nay

Việc vận dụng quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục – đào tạo ở các nhà trường Quân đội là yêu cầu khách quan, xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, quá trình vận dụng cần quán triệt và đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, quán triệt sâu sắc quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW trong toàn bộ hoạt động giáo dục – đào tạo của các nhà trường Quân đội.

Đảng ta xác định: “Công tác huấn luyện phải xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị, quân sự của Đảng; ... là nhiệm vụ chính trị trung tâm, thường xuyên trong thời bình, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp”.

Đổi mới giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý thống nhất của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Cấp ủy, chỉ huy các nhà trường cần quán triệt sâu sắc nội dung, tinh thần của Nghị quyết 71-NQ/TW, đồng thời cụ thể hóa thành chủ trương, chương trình, kế hoạch đổi mới giáo dục – đào tạo phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng nhà trường.

Việc vận dụng Nghị quyết phải bảo đảm đúng định hướng chính trị, gắn chặt với mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đảng, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộ, giảng viên trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục – đào tạo.

Thứ hai, gắn việc đổi mới giáo dục – đào tạo với yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Một trong những yêu cầu quan trọng khi vận dụng quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW là phải bảo đảm giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Quân đội luôn bám sát nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung, chương trình đào tạo cần được điều chỉnh, cập nhật thường xuyên theo yêu cầu phát triển của khoa học Quân đội, nghệ thuật Quân đội và sự phát triển của vũ khí, trang bị công nghệ cao.

Quá trình đào tạo cần chú trọng trang bị cho học viên những kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh hiện đại, đặc biệt là chiến tranh công nghệ cao, tác chiến không gian mạng và các hình thái chiến tranh phi truyền thống. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý luận với rèn luyện thực tiễn, giữa học tập trong nhà trường với huấn luyện, thực hành tại đơn vị.

Thứ ba, bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và liên tục trong quá trình đổi mới giáo dục – đào tạo.

Đổi mới giáo dục – đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW không chỉ là đổi mới một số khâu riêng lẻ mà phải được tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt của hoạt động giáo dục, từ mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo đến phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức đào tạo và công tác quản lý giáo dục.

Trong các nhà trường Quân đội, quá trình đổi mới cần gắn kết chặt chẽ giữa đổi mới nội dung đào tạo với đổi mới phương pháp dạy học, giữa nâng cao chất lượng giảng dạy với phát triển nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ. Đồng thời, cần bảo đảm tính kế thừa và phát triển, kết hợp hài hòa giữa những giá trị truyền thống của giáo dục Quân đội với những yêu cầu mới của thời đại.

Thứ tư, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của đội ngũ giảng viên và học viên trong quá trình đổi mới giáo dục.

Đội ngũ giảng viên và học viên là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục – đào tạo, vì vậy việc vận dụng quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW cần gắn với việc phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của họ.

Đối với giảng viên, cần khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các phương pháp sư phạm hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy. Đối với học viên, cần tạo điều kiện để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện thực tiễn, qua đó hình thành năng lực tự học, tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết các vấn đề trong thực tiễn Quân đội.

Thứ năm, gắn đổi mới giáo dục với đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong các nhà trường Quân đội.

Thực hiện quan điểm của Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục trong thời đại số, các nhà trường Quân đội cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số vào hoạt động dạy học và quản lý đào tạo.

Việc xây dựng hệ thống học liệu số, thư viện điện tử, mô hình mô phỏng huấn luyện, lớp học thông minh và các nền tảng học tập trực tuyến sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và tạo môi trường học tập hiện đại cho học viên. Đồng thời, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục Quân đội cũng giúp nâng cao năng lực công nghệ cho học viên – một yếu tố quan trọng trong bối cảnh chiến tranh hiện đại gắn liền với công nghệ cao và không gian mạng.

2.3. Một số giải pháp vận dụng quan điểm Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục ở các nhà trường Quân đội

Một là, nâng cao nhận thức về đổi mới giáo dục – đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW

Nâng cao nhận thức về đổi mới giáo dục – đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW là cơ sở quan trọng tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong các nhà trường Quân đội. Khi nhận thức đúng, cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, giảng viên và học viên sẽ hiểu rõ mục tiêu, yêu cầu của đổi mới giáo dục; từ đó nâng cao trách nhiệm trong đào tạo đội ngũ cán bộ Quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc.

Cần tập trung quán triệt các quan điểm cơ bản của Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục – đào tạo; làm rõ vai trò của giáo dục trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng tiềm lực quốc phòng; yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại, gắn với chuyển đổi số và ứng dụng khoa học – công nghệ. Đồng thời, làm rõ vị trí, vai trò của các nhà trường Quân đội trong đào tạo cán bộ cho Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy các nhà trường cần tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết thông qua các hội nghị chính trị, lớp bồi dưỡng và sinh hoạt chuyên môn. Đồng thời, đưa nội dung Nghị quyết vào sinh hoạt đảng, hội thảo khoa học, tọa đàm học thuật và các hoạt động tuyên truyền trong nhà trường. Qua đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, tạo tiền đề thúc đẩy đổi mới giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Quân đội.

Hai là, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo gắn với yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại

Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở các nhà trường Quân đội; góp phần trang bị cho học viên hệ thống kiến thức toàn diện, cập nhật và sát với thực tiễn nhiệm vụ Quân đội, quốc phòng. Qua đó, giúp hình thành đội ngũ cán bộ Quân đội có trình độ chuyên môn vững vàng, tư duy khoa học và năng lực thích ứng với môi trường tác chiến hiện đại.

Việc đổi mới cần tập trung rà soát, điều chỉnh và cập nhật nội dung, chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, thiết thực, gắn với sự phát triển của khoa học – công nghệ và yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nội dung đào tạo cần tăng cường các kiến thức về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chiến tranh công nghệ cao, tác chiến trên không gian mạng và các lĩnh vực khoa học Quân đội hiện đại. Đồng thời, cần bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa đào tạo trong nhà trường với huấn luyện, rèn luyện tại đơn vị, nhằm giúp học viên phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Quân đội.

Các nhà trường Quân đội cần tổ chức rà soát, đánh giá toàn diện chương trình, nội dung đào tạo hiện hành để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung mới phù hợp với yêu cầu phát triển của khoa học Quân đội và nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các cơ quan, đơn vị trong Quân đội nhằm cập nhật kinh nghiệm thực tiễn vào chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, biên soạn, chỉnh lý giáo trình, tài liệu giảng dạy theo hướng hiện đại; kết hợp giữa đào tạo lý thuyết với thực hành, diễn tập, mô phỏng nhằm nâng cao khả năng vận dụng kiến thức của học viên trong thực tiễn nhiệm vụ Quân đội.

Ba là, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động của học viên

Đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo ở các nhà trường Quân đội. Phương pháp dạy học phù hợp sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học viên trong quá trình học tập; đồng thời giúp hình thành năng lực tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhiệm vụ Quân đội.

Đổi mới phương pháp dạy học cần hướng tới lấy người học làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của học viên trong quá trình học tập. Giảng viên cần chuyển mạnh từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang tổ chức, hướng dẫn và định hướng hoạt động học tập của học viên. Đồng thời, cần tăng cường áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như học tập dựa trên vấn đề, thảo luận nhóm, mô phỏng tình huống chiến thuật, lớp học đảo ngược và ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy nhằm nâng cao tính tương tác và hiệu quả tiếp thu kiến thức.

Các nhà trường Quân đội cần tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ giảng viên về phương pháp dạy học hiện đại và kỹ năng ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Đồng thời, khuyến khích giảng viên chủ động đổi mới phương pháp, kết hợp linh hoạt giữa phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đặc điểm từng môn học và đối tượng học viên. Bên cạnh đó, cần tăng cường sử dụng các phương tiện, mô hình, phần mềm mô phỏng và các nền tảng học tập số trong quá trình giảng dạy, qua đó tạo môi trường học tập tích cực, giúp học viên phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Quân đội.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục Quân đội

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW có vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đại hóa phương pháp dạy học và quản lý giáo dục ở các nhà trường Quân đội.

Các nhà trường Quân đội cần triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và các nền tảng số trong mọi hoạt động giáo dục – đào tạo. Nội dung trọng tâm bao gồm xây dựng hệ thống học liệu số, thư viện điện tử, lớp học trực tuyến, mô phỏng chiến thuật, các phần mềm hỗ trợ học tập thông minh, cũng như khai thác các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nền tảng quản lý giáo dục số. Việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy không chỉ nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức mà còn giúp học viên làm quen và sử dụng thành thạo các công cụ số trong môi trường Quân đội hiện đại.

Các nhà trường cần xây dựng và hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, phát triển hệ thống học liệu số và nền tảng học tập trực tuyến. Đồng thời, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ giảng viên, đảm bảo họ nắm vững phương pháp ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Cùng với đó, cần tổ chức các lớp học mô phỏng, diễn tập ảo và tích hợp các công cụ trí tuệ nhân tạo vào quản lý, đánh giá kết quả học tập.

Năm là, xây dựng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo trong các nhà trường Quân đội. Giảng viên có trình độ chuyên môn cao, phương pháp sư phạm hiện đại và năng lực nghiên cứu khoa học sẽ trực tiếp nâng cao hiệu quả đào tạo, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên.

Xây dựng đội ngũ giảng viên cần tập trung nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực nghiên cứu khoa học. Đồng thời, cần khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quá trình dạy học, gắn lý luận với thực tiễn, đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực và hiện đại trong đào tạo.

Các nhà trường Quân đội cần tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy và kỹ năng ứng dụng công nghệ cho giảng viên. Đồng thời, tạo điều kiện cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, hội thảo học thuật, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy trong và ngoài Quân đội. Cùng với đó, khuyến khích giảng viên chủ động đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp linh hoạt giữa truyền thống và hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo học viên và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Quân đội.

3. Kết luận

Vận dụng quan điểm Nghị quyết 71-NQ/TW vào đổi mới giáo dục – đào tạo ở các nhà trường Quân đội là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng nguồn nhân lực Quân đội chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt Nghị quyết giúp các nhà trường nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục – đào tạo, từ đó thống nhất tư tưởng và hành động trong việc đổi mới nội dung, chương trình đào tạo sát với thực tiễn Quân đội; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy; đồng thời xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và năng lực nghiên cứu khoa học.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả giáo dục – đào tạo mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của các nhà trường Quân đội, góp phần xây dựng Quân đội hiện đại, tinh nhuệ và sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời đại công nghệ 4.0 và hội nhập quốc tế./.

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phá triển giáo dục và đào tạo.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập I, II, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Thủ tướng Chính phủ, (2022), Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”, Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022.

[4] Quân ủy Trung ương, (2022). Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

[5] Quân ủy Trung ương (2022), Nghị quyết số 1659-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).