VAI TRÒ TIỀM LỰC KHOA HỌC QUÂN SỰ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
TS. Nguyễn Bá Vận - TS. Bùi Tiến Phúc
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
E mail: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung khẳng định khoa học quân sự không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc mà còn thúc đẩy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bài viết làm rõ thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở Việt Nam, chỉ ra những kết quả và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức, tăng cường đầu tư công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự và đẩy mạnh kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Từ khoá: Tiềm lực khoa học quân sự; công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, yêu cầu phát triển đất nước gắn với củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc đặt ra ngày càng cấp thiết. Thực tiễn đó đòi hỏi phải phát huy cao độ mọi nguồn lực, trong đó khoa học quân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là nhân tố bảo đảm sức mạnh quốc phòng, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh. Vì vậy, vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn có giá trị thực tiễn to lớn, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tiềm lực khoa học quân sự là bộ phận cấu thành quan trọng của tiềm lực quốc phòng, phản ánh trình độ nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ quân sự vào xây dựng lực lượng vũ trang và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, tiềm lực khoa học quân sự còn có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao các thành tựu khoa học - công nghệ vào các lĩnh vực dân sự. Nhiều thành tựu khoa học quân sự đã trở thành nền tảng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm an ninh, an toàn cho quá trình phát triển đất nước. Tiềm lực khoa học quân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Đây không chỉ là nhân tố trực tiếp nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc mà còn là động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tiềm lực khoa học quân sự góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại vào phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh. Các thành tựu khoa học quân sự không chỉ phục vụ xây dựng lực lượng vũ trang hiện đại mà còn thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp vật liệu mới và công nghệ hàng không vũ trụ. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng xuất và năng lực cạnh tranh… là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.31).
Tiềm lực khoa học quân sự tạo cơ sở quan trọng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường các nguy cơ đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống gia tăng, việc nâng cao trình độ khoa học quân sự giúp tăng cường khả năng dự báo chiến lược, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia và chủ động ứng phó với các thách thức mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.97). Thông qua hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ quân sự hiện đại, đội ngũ cán bộ, kỹ sư, chuyên gia khoa học được rèn luyện tư duy sáng tạo, năng lực tổ chức và khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến. Đây là nguồn lực quan trọng phục vụ không chỉ cho lĩnh vực quốc phòng mà còn cho các ngành kinh tế quốc dân.
Ngoài ra, tiềm lực khoa học quân sự còn góp phần thúc đẩy kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh. Nhiều công trình nghiên cứu, sản phẩm công nghệ quân sự được ứng dụng rộng rãi trong đời sống dân sự, tạo ra hiệu quả kinh tế và giá trị xã hội to lớn. Điều này vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia, vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng trong điều kiện mới. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm, góp phần Việt Nam tạo thế và lực mới cho đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.114). Vì vậy, phát triển tiềm lực khoa học quân sự chính là yêu cầu khách quan nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.2. Thực trạng thực hiện vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thời gian vừa qua
Những năm vừa qua, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiềm lực khoa học quân sự của Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng, từng bước khẳng định vai trò là một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Đảng, Nhà nước, Quân đội đã quan tâm đầu tư cho nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển công nghệ quốc phòng và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hệ thống nghiên cứu khoa học quân sự từng bước được củng cố và phát triển, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, nghệ thuật quân sự và ứng dụng khoa học - công nghệ trong quân đội. Nhiều cơ sở nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội đã đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin, tự động hóa, tác chiến điện tử, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và công nghệ chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật. Các công trình nghiên cứu không chỉ phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng mà còn được ứng dụng vào phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ đại dịch Covid-19, lực lượng quân đội đã tham gia nghiên cứu, sản xuất robot hỗ trợ y tế, buồng khử khuẩn tự động và nhiều thiết bị công nghệ phục vụ phòng, chống dịch bệnh.
Công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, từng bước làm chủ nhiều công nghệ hiện đại và tham gia hiệu quả vào quá trình công nghiệp hóa đất nước. Nhiều nhà máy, cơ sở công nghiệp quốc phòng đã nghiên cứu, sản xuất được các loại tàu quân sự, radar, thiết bị thông tin liên lạc, khí tài quan sát và một số sản phẩm công nghệ cao phục vụ cả quân sự lẫn dân sự. Một số sản phẩm của công nghiệp quốc phòng đã được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực viễn thông, đóng tàu, cơ khí chính xác và công nghệ điện tử. Các học viện, nhà trường quân đội hiện nay không chỉ đào tạo cán bộ quân sự mà còn đào tạo nhiều chuyên ngành kỹ thuật, công nghệ hiện đại, cung cấp đội ngũ kỹ sư, chuyên gia cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Nhiều cán bộ quân đội sau quá trình học tập, nghiên cứu đã tham gia tích cực vào các chương trình chuyển đổi số, phát triển công nghệ thông tin, an ninh mạng và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng tiềm lực khoa học quân sự ở nước ta vẫn còn một số hạn chế. Trình độ nghiên cứu và làm chủ công nghệ cao trong một số lĩnh vực còn hạn chế; khả năng tự chủ trong sản xuất nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại chưa cao; cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu ở một số đơn vị còn thiếu đồng bộ. Việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học quân sự với ứng dụng thực tiễn và chuyển giao công nghệ vào sản xuất dân sự ở một số nơi còn chưa chặt chẽ. Nguồn nhân lực khoa học quân sự chất lượng cao tuy có bước phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội trong tình hình mới. Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh không gian mạng và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, yêu cầu đối với khoa học quân sự ngày càng cao. Trong khi đó, nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học, công nghệ quốc phòng của nước ta còn hạn chế so với nhiều quốc gia phát triển.
2.3. Một số giải pháp phát huy vai trò của tiềm lực khoa học quân sự đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của tiềm lực khoa học quân sự.
Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của tiềm lực khoa học quân sự là giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thức đúng sẽ tạo cơ sở cho hành động đúng, góp phần huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xây dựng và phát huy hiệu quả tiềm lực khoa học quân sự phục vụ phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; giữa khoa học dân sự với khoa học quân sự trong điều kiện mới. Các cấp, các ngành cần xác định rõ phát triển tiềm lực khoa học quân sự là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị chứ không chỉ là nhiệm vụ riêng của quân đội. Đồng thời, cần gắn công tác giáo dục nhận thức với việc xây dựng ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong việc đầu tư, phát triển và ứng dụng khoa học quân sự vào thực tiễn. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, truyền thông, giáo dục và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền về những thành tựu của khoa học quân sự đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua các hoạt động thực tiễn, hội thảo khoa học, diễn đàn học thuật và công tác giáo dục quốc phòng, an ninh sẽ góp phần nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của khoa học quân sự trong thời đại công nghệ số. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.217). Tư tưởng đó cho thấy muốn phát huy hiệu quả tiền lực khoa học quân sự cần có nhận thức chính trị đúng đắn và sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng.
Hai là, đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học, công nghệ quân sự và công nghiệp quốc phòng hiện đại.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ và xu hướng chiến tranh công nghệ cao ngày càng gia tăng, việc đẩy mạnh đầu tư phát triển khoa học, công nghệ quân sự và công nghiệp quốc phòng hiện đại là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tiềm lực quốc phòng, đồng thời tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng quân đội hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Hiện nay, khoa học, công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia. Đối với lĩnh vực quân sự, khoa học - công nghệ hiện đại góp phần nâng cao khả năng nghiên cứu, chế tạo, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật, đồng thời tạo điều kiện để quân đội làm chủ các phương thức tác chiến mới trong môi trường chiến tranh công nghệ cao. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu khoa học quân sự, các học viện, nhà trường quân đội, các trung tâm công nghệ quốc phòng và hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại. Việc đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ vật liệu mới và công nghệ vũ trụ quân sự.
Đảng ta xác định: “Đẩy mạnh đột phát phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.114). Quan điểm đó thể hiện rõ định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng gắn với phát triển kinh tế đất nước. Trên thực tế, nhiều sản phẩm nghiên cứu từ lĩnh vực quốc phòng đã được ứng dụng hiệu quả trong đời sống dân sự như công nghệ viễn thông, thiết bị điện tử, công nghệ đóng tàu, công nghệ y học quân sự và các sản phẩm phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Điều này cho thấy đầu tư cho khoa học quân sự không chỉ nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng mà còn tạo ra giá trị kinh tế và xã hội to lớn. Cần đổi mới cơ chế quản lý, chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực cho nghiên cứu khoa học quân sự theo hướng linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu quân sự với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong và ngoài quân đội nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn sản xuất. Đồng thời, chú trọng phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, kết hợp sản xuất quốc phòng với sản xuất hàng hóa dân sự có hàm lượng công nghệ cao, qua đó góp phần nâng cao năng lực sản xuất quốc gia và tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân sự và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân sự và nguồn nhân lực chất lượng cao là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy vai trò của tiềm lực khoa học quân sự. Con người luôn là yếu tố trung tâm, giữ vai trò chủ thể trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả của khoa học quân sự thì trước hết phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại. Đội ngũ cán bộ khoa học quân sự phải không ngừng học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại. Đảng ta xác định: “Quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng vũ trang” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.116). Đây là định hướng quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục và đào tạo trong các học viện, nhà trường quân đội theo hướng hiện đại, thực tiễn và hội nhập quốc tế. Nội dung, chương trình đào tạo cần gắn với yêu cầu phát triển khoa học quân sự hiện đại và nhu cầu thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, cần chú trọng kết hợp giữa đào tạo lý luận với rèn luyện kỹ năng thực hành, khả năng nghiên cứu khoa học và năng lực ứng dụng công nghệ mới vào thực tiễn công tác, chiến đấu. Có cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực khoa học quân sự. Nhà nước và quân đội cần quan tâm xây dựng môi trường nghiên cứu thuận lợi, có chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học phát huy năng lực sáng tạo, cống hiến lâu dài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo quân sự với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Bốn là, tăng cường kết hợp giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế về khoa học quân sự.
Để phát huy hiệu quả vai trò của tiềm lực khoa học quân sự, cần thực hiện tốt việc kết hợp giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh trong mọi chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển đất nước. Các thành tựu nghiên cứu khoa học quân sự cần được đẩy mạnh chuyển giao vào sản xuất dân sự, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, cần mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ quân sự trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Việc chủ động tiếp thu tinh hoa khoa học quân sự hiện đại của thế giới sẽ góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu, khả năng ứng dụng công nghệ mới và từng bước hiện đại hóa quân đội. Qua đó, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Kết luận
Tiềm lực khoa học quân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Đây vừa là nhân tố trực tiếp nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vừa là động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế - xã hội. Trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động phức tạp của tình hình thế giới, tiềm lực khoa học quân sự cần tiếp tục được đầu tư, đổi mới và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Qua đó, góp phần tạo nền tảng vững chắc để xây dựng đất nước giàu mạnh, hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Tài liệu trích dẫn
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
THE ROLE OF MILITARY SCIENCE AS A DRIVING FORCE IN THE CURRENT PROCESS OF INDUSTRIALIZATION AND MODERNIZATION OF THE COUNTRY
Dr. Nguyen Ba Van - Dr. Bui Tien Phuc
Political Academy - Ministry of National Defence
Email: [email protected]
Suma mary: This article clarifies the role of military science in the process of industrialization and modernization of the country. It affirms that military science not only contributes to enhancing national defense and protecting the Fatherland but also promotes science, technology, and high-quality human resources. The article clarifies the current state of military science in Vietnam, pointing out achievements and existing limitations. Based on this, it proposes solutions to raise awareness, increase investment in technology, build a team of military officers, and promote the integration of economics with national defense and security to firmly protect the socialist Fatherland of Vietnam today.
Key words: Military scientific potential; industrialization and modernization.