ỨNG DỤNG, PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN HUỆ HIỆN NAY
Nguyễn Xuân Tiềm
CN Nguyễn Hoài Nam
Khoa CTĐ, CTCT; Phòng Hậu cần - Kỹ thuật
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện chất lượng giáo dục, đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vấn đề ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở các học viện, nhà trường quân đội nói chung, Trường Đại học Nguyễn Huệ nói riêng là yêu cầu tất yếu, động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, giúp người học phát huy tư duy, sáng tạo và tự học hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường trong kỷ nguyên số. Bài báo tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng việc ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ. Từ đó, đề xuất giải pháp ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo tại Nhà trường.
Từ khoá: Công nghệ; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; giáo dục, đào tạo; ứng dụng; khoa học.
1. Đặt vấn đề
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt thúc đẩy mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh này, giáo dục vừa chịu tác động trực tiếp, vừa đóng vai trò nền tảng hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Chính phủ đã xác định rõ: “Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị, quản lý giáo dục. Phát triển mạng lưới giáo dục đại học số trên cơ sở chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số trong tổ chức và hoạt động của từng cơ sở và cả hệ thống giáo dục đại học; liên kết mạng lưới cơ sở giáo dục đại học trên các nền tảng trực tuyến nhằm chia sẻ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và dịch vụ giáo dục đại học”.
Đối với lĩnh vực quân sự, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội đã khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội là một trong các đột phá quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn tiên phong góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.
Thực tiễn minh chứng rằng, việc tận dụng ưu thế của công nghệ số để đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý bằng thiết bị thông minh và tăng cường chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các học viện, nhà trường là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là lộ trình tất yếu để xây dựng mô hình “Nhà trường thông minh”, tạo ra môi trường học tập hiện đại, linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận về ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội. Sự phát triển của giáo dục phải gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nhấn mạnh vai trò của việc kết hợp lý luận với thực tiễn, “Học đi đôi với hành”, coi trọng việc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào quá trình dạy và học. Người khẳng định giáo dục phải phục vụ sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước, do đó cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển giáo dục. Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số trong giáo dục được coi là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế. Các chủ trương lớn tập trung vào việc xây dựng hệ sinh thái giáo dục số, phát triển hạ tầng công nghệ, số hóa học liệu, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, hướng tới xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.
Ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo biểu hiện cụ thể trên các nội dung: Ứng dụng công nghệ trong dạy học (bài giảng điện tử, lớp học thông minh, học trực tuyến); đổi mới nội dung, chương trình theo hướng tích hợp công nghệ và liên ngành; đổi mới kiểm tra, đánh giá bằng công nghệ số; quản lý giáo dục số hóa (hồ sơ điện tử, dữ liệu học tập); phát triển học liệu số và tài nguyên mở.
Đối với Trường Đại học Nguyễn Huệ, ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo là vấn đề cấp thiết, có vị trí, vai trò quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để chuẩn hoá nội dung, phương pháp giảng dạy, từng bước chuyển đổi mô hình giáo dục hiện đại, từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng công tác trong mọi hoàn cảnh của thời đại công nghệ số, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà trường trong điều kiện mới.
2.2. Thực trạng ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ
Trong những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Nguyễn Huệ đã đạt được những kết quả tích cực nhờ việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chủ trương của Trung ương và Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường đã gắn kết chặt chẽ nội dung này với phong trào thi đua quyết thắng và công tác đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và lãnh đạo đã tạo tiền đề cho việc triển khai đồng bộ các hệ thống thông tin dùng chung như Quản lý văn bản, Thư viện số và Hệ thống chỉ đạo điều hành. Đặc biệt, Nhà trường đã ứng dụng thành công nhiều phần mềm chuyên biệt trong quản lý đào tạo như hệ thống sinh đề, gieo phách, nhập điểm và thi trực tuyến, đồng thời đưa các công nghệ mô phỏng 3D, phòng bắn ảo vào thực tiễn huấn luyện, góp phần hiện đại hóa quy trình dạy và học.
Sức mạnh nội sinh của Nhà trường còn được thể hiện qua chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý với 100% có trình độ đại học trở lên, trong đó tỷ lệ sau đại học đạt 65,5%. Đội ngũ này không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn làm chủ được các phương tiện dạy học hiện đại, thành thạo kỹ năng khai thác dữ liệu số và tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển tư duy sáng tạo của người học. Song song với việc phát triển con người, hạ tầng kỹ thuật cũng được chú trọng đầu tư với hệ thống giảng đường, phòng học chuyên dùng và phòng thí nghiệm được nâng cấp định kỳ, từng bước tiệm cận mô hình "Nhà trường thông minh". Nhờ các biện pháp đồng bộ, chất lượng đào tạo được nâng cao rõ rệt, bám sát chuẩn đầu ra với tỷ lệ học viên đạt yêu cầu hàng năm luôn duy trì ở mức trên 99,7%.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tiễn chuyển đổi số tại Nhà trường vẫn còn những rào cản nhất định. Một bộ phận cán bộ, giảng viên và học viên chưa nhận thức đầy đủ về tính cấp thiết của công nghệ số, dẫn đến việc khai thác các nền tảng dùng chung đôi khi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao. Việc ứng dụng các thành tựu tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI) hay trợ lý ảo trong giảng dạy còn ở mức sơ khởi, chưa trở thành hoạt động phổ biến. Đồng thời, hệ thống hạ tầng kỹ thuật dù được đầu tư nhưng vẫn còn tình trạng thiếu đồng bộ; một số trang thiết bị đã cũ, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu chuyển đổi số toàn diện. Có thể khẳng định, công tác ứng dụng công nghệ tại đơn vị hiện vẫn đang trong giai đoạn chuyển tiếp, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện về cơ chế, nguồn lực và tư duy hành động để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong tình hình mới.
2.3. Một số giải pháp ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ
Một là, đổi mới tư duy và hành động, xác định phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm hiện đại hóa toàn diện công tác giáo dục và đào tạo.
Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để định hướng và thúc đẩy mọi hoạt động ứng dụng công nghệ tại Nhà trường. Trước hết, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương về giáo dục trong tình hình mới; trọng tâm là thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW, cùng các chương trình hành động và phong trào “Bình dân học vụ số”. Qua đó, làm cho mọi cán bộ, giảng viên và học viên nhận thức rõ phát triển khoa học công nghệ không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là nền tảng cốt lõi để xây dựng Nhà trường thông minh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trung tâm.
Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, cấp ủy và chỉ huy các cấp phải khẳng định phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và cấp bách. Việc tạo bước đột phá trong giáo dục phải được đặt ở vị trí ưu tiên cao nhất trong chương trình hành động của từng cơ quan, khoa, đơn vị, coi đây là thước đo quan trọng phản ánh năng lực lãnh đạo và quản trị trong thời đại số.
Đồng thời, Nhà trường cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy đến hành động thực tiễn cho toàn bộ các lực lượng. Trong quá trình này, cần đề cao vai trò nêu gương và tinh thần "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" của đội ngũ cán bộ chủ trì; gắn chặt trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện các chỉ tiêu đột phá, bảo đảm công cuộc chuyển đổi số đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực./.
Hai là, xây dựng, ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế chính sách đồng bộ đảm bảo cho quá trình thực hiện chuyển đổi số
Đây là giải pháp quan trọng nhằm hiện thực hoá việc ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Nhà trường.
Trọng tâm là rà soát và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo; quản trị nhà trường, quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo; quy định trách nhiệm về quản lý, khai thác gắn với đánh giá hiệu quả thực hiện chuyển đổi số tại các cơ quan, khoa, đơn vị. Ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn triển khai thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số sát với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức thực hiện đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Hoàn thiện cơ chế chính sách, các quy định về công tác quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu quân sự trên môi trường số, tạo thuận lợi cho việc kết nối, chia sẻ thông tin, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, bí mật quân sự khi triển khai chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo của các cơ quan, khoa, đơn vị.
Ba là, xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Nhà trường trong tình hình mới
Đây là giải pháp then chốt, quyết định thành công của chủ trương chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong giáo dục. Nhà trường cần quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 1659-NQ/QUTW về việc: “Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ học vấn, năng lực sư phạm, thực tiễn và ngoại ngữ, tin học chuyên sâu”. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số và năng lực khai thác dữ liệu cho giảng viên, cán bộ quản lý nhằm bảo đảm làm việc hiệu quả trên môi trường số.
Trọng tâm là đào tạo đội ngũ chuyên gia nòng cốt về công nghệ thông tin có khả năng tham mưu, triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số phức tạp, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của Ban Công nghệ thông tin và bộ môn Tin học trong việc lan tỏa tư duy đổi mới. Song song với đó, việc phát triển hệ thống dạy học trực tuyến và kho tri thức mở trên mạng máy tính quân sự sẽ tạo hệ sinh thái tự học tập, nghiên cứu linh hoạt, giúp đội ngũ nhà giáo và học viên không ngừng cập nhật kiến thức, làm chủ công nghệ và đáp ứng tốt yêu cầu hiện đại hóa.
Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ gắn với phát triển giáo dục và đào tạo.
Đây là giải pháp cơ bản nhằm phản ánh kết quả ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn Nhà trường. Trước hết, cần tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu bằng cách kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, đồng thời phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu và Hội đồng khoa học các cấp. Gắn liền với đó là việc hiện đại hóa thư viện và khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua các hội thi Olympic công nghệ thông tin hoặc ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học cho đội ngũ giáo viên. Từ nền tảng nghiên cứu này, Nhà trường cần thường xuyên tổng kết thực tiễn để chuyển hóa các kết quả khoa học vào giảng dạy, từ đó rà soát, chuẩn hóa chương trình đào tạo theo hướng "cơ bản, toàn diện, liên thông, hiện đại", bảo đảm bám sát thực tiễn chiến đấu và xu hướng công nghệ quân sự mới.
Song song với việc đổi mới nội dung, công tác tuyển sinh và tuyên truyền hướng nghiệp cũng cần được tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đa dạng hóa phương thức tuyển chọn và xây dựng chuẩn đầu vào khoa học, giúp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, Nhà trường xác định khâu đột phá là nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Trọng tâm là triển khai quyết liệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, tạo chìa khóa quan trọng để cán bộ, học viên chủ động tiếp cận tri thức quốc tế và làm chủ các khí tài công nghệ quân sự hiện đại trong tình hình mới.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) vào giáo dục, đào tạo.
Đây là giải pháp đột phá nhằm hiện đại hóa mọi hoạt động của Nhà trường, bắt đầu từ việc hoàn thiện lộ trình đưa toàn bộ các lĩnh vực lên môi trường số. Trong đó, trọng tâm là xây dựng hạ tầng dữ liệu liên thông, đồng bộ và phát triển các nền tảng đào tạo, học liệu số dùng chung để bảo đảm kết nối hiệu quả giữa các đơn vị. Trên nền tảng hạ tầng đó, Nhà trường đẩy mạnh khai thác dữ liệu lớn và AI để cá thể hóa quá trình học tập, số hóa hệ thống kiểm tra và triển khai thí điểm các mô hình hiện đại như "Lớp học thông minh", "Giảng viên số", hay "Mô phỏng tác chiến bằng AI" nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tài năng quân sự.
Song song với việc đổi mới công nghệ, công tác phát triển nguồn nhân lực số được chú trọng thông qua phổ cập kỹ năng số và bồi dưỡng chuyên sâu về khoa học dữ liệu, an ninh mạng cho đội ngũ cán bộ, giảng viên. Đồng thời, Nhà trường ưu tiên nguồn lực để chuẩn hóa cơ sở vật chất, đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm, thư viện số và thao trường huấn luyện hiện đại; gắn liền với nâng cao năng lực quản lý, bảo dưỡng và quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc khai thác nguồn lực đầu tư. Cuối cùng, mọi quá trình chuyển đổi phải đi đôi với việc thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ và phân cấp bảo mật nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm tuyệt đối an ninh mạng, an toàn thông tin và bí mật quân sự trong toàn bộ hệ thống.
3. Kết luận
Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là xu thế tất yếu, giữ vai trò nền tảng định hướng công cuộc đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên số. Việc vận dụng sáng tạo các quan điểm lý luận này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thực tiễn khẳng định đây là động lực then chốt để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, giúp tối ưu hóa quản trị và phương pháp giảng dạy. Để phát huy tối đa hiệu quả, Nhà trường cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận đi đôi với đẩy mạnh triển khai thực tiễn, hướng tới xây dựng hệ sinh thái giáo dục mở, linh hoạt và bền vững.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sứ mệnh của Nhà trường là đào tạo đội ngũ cán bộ có tư duy đột phá và khả năng làm chủ công nghệ. Do đó, kiên trì mục tiêu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chính là lộ trình chiến lược để xây dựng Nhà trường chính quy, hiện đại, từng bước hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới./.
Tài liệu tham khảo.
1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Ban Chấp hành Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.
2. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới, Hà Nội, 2024.
3. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Hà Nội, 2025.
4. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội, Hà Nội, 2026.
5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội, 2024./.
APPLYING AND DEVELOPING SCIENCE, TECHNOLOGY, INNOVATION, AND DIGITAL TRANSFORMATION IN EDUCATION AND TRAINING AT NGUYEN HUE UNIVERSITY TODAY
Nguyen Xuan Tiem
Nguyen Hoai Nam
Faculty of Party and Political Work; Department of Logistics and Techniques
Abstract: In the context of national digital transformation and the requirements for fundamental and comprehensive renovation of education and training quality within the Vietnam People's Army, the application and development of science, technology, innovation, and digital transformation in military academies and schools in general, and Nguyen Hue University in particular, have become an inevitable requirement. These elements serve as a driving force to innovate teaching methods, enabling learners to enhance their thinking, creativity, and effective self-study, thereby improving the university's education and training quality in the digital era. This article focuses on clarifying the theoretical basis and assessing the current status of applying and developing science, technology, innovation, and digital transformation in education and training at Nguyen Hue University. Based on this analysis, the authors propose solutions to further enhance these activities at the institution
Keywords: Technology; digital transformation; innovation; education and training; application; science.