1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

ỨNG DỤNG, PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN HUỆ HIỆN NAY

12:59 | 06/05/2026
aA

 

 

Nguyễn Xuân Tiềm

 CN Nguyễn Hoài Nam

Khoa CTĐ, CTCT; Phòng Hậu cần - Kỹ thuật

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện chất lượng giáo dục, đào tạo trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vấn đề ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở các học viện, nhà trường quân đội nói chung, Trường Đại học Nguyễn Huệ nói riêng là yêu cầu tất yếu, động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, giúp người học phát huy tư duy, sáng tạo và tự học hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường trong kỷ nguyên số. Bài báo tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng việc ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ. Từ đó, đề xuất giải pháp ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo tại Nhà trường.

Từ khoá: Công nghệ; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; giáo dục, đào tạo; ứng dụng; khoa học.

 

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác lập khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt thúc đẩy mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh này, giáo dục vừa chịu tác động trực tiếp, vừa đóng vai trò nền tảng hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Chính phủ đã xác định rõ: “Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị, quản lý giáo dục. Phát triển mạng lưới giáo dục đại học số trên cơ sở chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số trong tổ chức và hoạt động của từng cơ sở và cả hệ thống giáo dục đại học; liên kết mạng lưới cơ sở giáo dục đại học trên các nền tảng trực tuyến nhằm chia sẻ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và dịch vụ giáo dục đại học”.

Đối với lĩnh vực quân sự, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội đã khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội là một trong các đột phá quan trọng hàng đầu, là mũi nhọn tiên phong góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.

Thực tiễn minh chứng rằng, việc tận dụng ưu thế của công nghệ số để đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý bằng thiết bị thông minh và tăng cường chia sẻ tài nguyên thông tin giữa các học viện, nhà trường là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là lộ trình tất yếu để xây dựng mô hình “Nhà trường thông minh”, tạo ra môi trường học tập hiện đại, linh hoạt và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội. Sự phát triển của giáo dục phải gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nhấn mạnh vai trò của việc kết hợp lý luận với thực tiễn, “Học đi đôi với hành”, coi trọng việc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào quá trình dạy và học. Người khẳng định giáo dục phải phục vụ sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước, do đó cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển giáo dục. Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số trong giáo dục được coi là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế. Các chủ trương lớn tập trung vào việc xây dựng hệ sinh thái giáo dục số, phát triển hạ tầng công nghệ, số hóa học liệu, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, hướng tới xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.

Ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo biểu hiện cụ thể trên các nội dung: Ứng dụng công nghệ trong dạy học (bài giảng điện tử, lớp học thông minh, học trực tuyến); đổi mới nội dung, chương trình theo hướng tích hợp công nghệ và liên ngành; đổi mới kiểm tra, đánh giá bằng công nghệ số; quản lý giáo dục số hóa (hồ sơ điện tử, dữ liệu học tập); phát triển học liệu số và tài nguyên mở.

Đối với Trường Đại học Nguyễn Huệ, ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo là vấn đề cấp thiết, có vị trí, vai trò quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để chuẩn hoá nội dung, phương pháp giảng dạy, từng bước chuyển đổi mô hình giáo dục hiện đại, từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng công tác trong mọi hoàn cảnh của thời đại công nghệ số, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà trường trong điều kiện mới.

2.2. Thực trạng ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ

Trong những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Nguyễn Huệ đã đạt được những kết quả tích cực nhờ việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chủ trương của Trung ương và Quân ủy Trung ương. Trên cơ sở xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường đã gắn kết chặt chẽ nội dung này với phong trào thi đua quyết thắng và công tác đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên hàng năm. Sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và lãnh đạo đã tạo tiền đề cho việc triển khai đồng bộ các hệ thống thông tin dùng chung như Quản lý văn bản, Thư viện số và Hệ thống chỉ đạo điều hành. Đặc biệt, Nhà trường đã ứng dụng thành công nhiều phần mềm chuyên biệt trong quản lý đào tạo như hệ thống sinh đề, gieo phách, nhập điểm và thi trực tuyến, đồng thời đưa các công nghệ mô phỏng 3D, phòng bắn ảo vào thực tiễn huấn luyện, góp phần hiện đại hóa quy trình dạy và học.

Sức mạnh nội sinh của Nhà trường còn được thể hiện qua chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý với 100% có trình độ đại học trở lên, trong đó tỷ lệ sau đại học đạt 65,5%. Đội ngũ này không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mà còn làm chủ được các phương tiện dạy học hiện đại, thành thạo kỹ năng khai thác dữ liệu số và tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển tư duy sáng tạo của người học. Song song với việc phát triển con người, hạ tầng kỹ thuật cũng được chú trọng đầu tư với hệ thống giảng đường, phòng học chuyên dùng và phòng thí nghiệm được nâng cấp định kỳ, từng bước tiệm cận mô hình "Nhà trường thông minh". Nhờ các biện pháp đồng bộ, chất lượng đào tạo được nâng cao rõ rệt, bám sát chuẩn đầu ra với tỷ lệ học viên đạt yêu cầu hàng năm luôn duy trì ở mức trên 99,7%.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tiễn chuyển đổi số tại Nhà trường vẫn còn những rào cản nhất định. Một bộ phận cán bộ, giảng viên và học viên chưa nhận thức đầy đủ về tính cấp thiết của công nghệ số, dẫn đến việc khai thác các nền tảng dùng chung đôi khi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao. Việc ứng dụng các thành tựu tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI) hay trợ lý ảo trong giảng dạy còn ở mức sơ khởi, chưa trở thành hoạt động phổ biến. Đồng thời, hệ thống hạ tầng kỹ thuật dù được đầu tư nhưng vẫn còn tình trạng thiếu đồng bộ; một số trang thiết bị đã cũ, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu chuyển đổi số toàn diện. Có thể khẳng định, công tác ứng dụng công nghệ tại đơn vị hiện vẫn đang trong giai đoạn chuyển tiếp, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện về cơ chế, nguồn lực và tư duy hành động để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong tình hình mới.

2.3. Một số giải pháp ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Trường Đại học Nguyễn Huệ

Một là, đổi mới tư duy và hành động, xác định phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm hiện đại hóa toàn diện công tác giáo dục và đào tạo.

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để định hướng và thúc đẩy mọi hoạt động ứng dụng công nghệ tại Nhà trường. Trước hết, cấp ủy và tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương về giáo dục trong tình hình mới; trọng tâm là thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW, cùng các chương trình hành động và phong trào “Bình dân học vụ số”. Qua đó, làm cho mọi cán bộ, giảng viên và học viên nhận thức rõ phát triển khoa học công nghệ không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là nền tảng cốt lõi để xây dựng Nhà trường thông minh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trung tâm.

Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, cấp ủy và chỉ huy các cấp phải khẳng định phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và cấp bách. Việc tạo bước đột phá trong giáo dục phải được đặt ở vị trí ưu tiên cao nhất trong chương trình hành động của từng cơ quan, khoa, đơn vị, coi đây là thước đo quan trọng phản ánh năng lực lãnh đạo và quản trị trong thời đại số.

Đồng thời, Nhà trường cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy đến hành động thực tiễn cho toàn bộ các lực lượng. Trong quá trình này, cần đề cao vai trò nêu gương và tinh thần "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm" của đội ngũ cán bộ chủ trì; gắn chặt trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện các chỉ tiêu đột phá, bảo đảm công cuộc chuyển đổi số đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực./.

Hai là, xây dựng, ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và cơ chế chính sách đồng bộ đảm bảo cho quá trình thực hiện chuyển đổi số

Đây là giải pháp quan trọng nhằm hiện thực hoá việc ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo ở Nhà trường.

Trọng tâm là rà soát và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo; quản trị nhà trường, quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo; quy định trách nhiệm về quản lý, khai thác gắn với đánh giá hiệu quả thực hiện chuyển đổi số tại các cơ quan, khoa, đơn vị. Ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn triển khai thực hiện Kế hoạch chuyển đổi số sát với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức thực hiện đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Hoàn thiện cơ chế chính sách, các quy định về công tác quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu quân sự trên môi trường số, tạo thuận lợi cho việc kết nối, chia sẻ thông tin, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, bí mật quân sự khi triển khai chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo của các cơ quan, khoa, đơn vị.

Ba là, xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Nhà trường trong tình hình mới

Đây là giải pháp then chốt, quyết định thành công của chủ trương chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong giáo dục. Nhà trường cần quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết 1659-NQ/QUTW về việc: “Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có trình độ học vấn, năng lực sư phạm, thực tiễn và ngoại ngữ, tin học chuyên sâu”. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng số và năng lực khai thác dữ liệu cho giảng viên, cán bộ quản lý nhằm bảo đảm làm việc hiệu quả trên môi trường số.

Trọng tâm là đào tạo đội ngũ chuyên gia nòng cốt về công nghệ thông tin có khả năng tham mưu, triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số phức tạp, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của Ban Công nghệ thông tin và bộ môn Tin học trong việc lan tỏa tư duy đổi mới. Song song với đó, việc phát triển hệ thống dạy học trực tuyến và kho tri thức mở trên mạng máy tính quân sự sẽ tạo hệ sinh thái tự học tập, nghiên cứu linh hoạt, giúp đội ngũ nhà giáo và học viên không ngừng cập nhật kiến thức, làm chủ công nghệ và đáp ứng tốt yêu cầu hiện đại hóa.

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ gắn với phát triển giáo dục và đào tạo.

Đây là giải pháp cơ bản nhằm phản ánh kết quả ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn Nhà trường. Trước hết, cần tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu bằng cách kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, đồng thời phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu và Hội đồng khoa học các cấp. Gắn liền với đó là việc hiện đại hóa thư viện và khuyến khích đổi mới sáng tạo thông qua các hội thi Olympic công nghệ thông tin hoặc ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học cho đội ngũ giáo viên. Từ nền tảng nghiên cứu này, Nhà trường cần thường xuyên tổng kết thực tiễn để chuyển hóa các kết quả khoa học vào giảng dạy, từ đó rà soát, chuẩn hóa chương trình đào tạo theo hướng "cơ bản, toàn diện, liên thông, hiện đại", bảo đảm bám sát thực tiễn chiến đấu và xu hướng công nghệ quân sự mới.

Song song với việc đổi mới nội dung, công tác tuyển sinh và tuyên truyền hướng nghiệp cũng cần được tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đa dạng hóa phương thức tuyển chọn và xây dựng chuẩn đầu vào khoa học, giúp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, Nhà trường xác định khâu đột phá là nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Trọng tâm là triển khai quyết liệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, tạo chìa khóa quan trọng để cán bộ, học viên chủ động tiếp cận tri thức quốc tế và làm chủ các khí tài công nghệ quân sự hiện đại trong tình hình mới.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện; ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) vào giáo dục, đào tạo.

Đây là giải pháp đột phá nhằm hiện đại hóa mọi hoạt động của Nhà trường, bắt đầu từ việc hoàn thiện lộ trình đưa toàn bộ các lĩnh vực lên môi trường số. Trong đó, trọng tâm là xây dựng hạ tầng dữ liệu liên thông, đồng bộ và phát triển các nền tảng đào tạo, học liệu số dùng chung để bảo đảm kết nối hiệu quả giữa các đơn vị. Trên nền tảng hạ tầng đó, Nhà trường đẩy mạnh khai thác dữ liệu lớn và AI để cá thể hóa quá trình học tập, số hóa hệ thống kiểm tra và triển khai thí điểm các mô hình hiện đại như "Lớp học thông minh", "Giảng viên số", hay "Mô phỏng tác chiến bằng AI" nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tài năng quân sự.

Song song với việc đổi mới công nghệ, công tác phát triển nguồn nhân lực số được chú trọng thông qua phổ cập kỹ năng số và bồi dưỡng chuyên sâu về khoa học dữ liệu, an ninh mạng cho đội ngũ cán bộ, giảng viên. Đồng thời, Nhà trường ưu tiên nguồn lực để chuẩn hóa cơ sở vật chất, đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm, thư viện số và thao trường huấn luyện hiện đại; gắn liền với nâng cao năng lực quản lý, bảo dưỡng và quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc khai thác nguồn lực đầu tư. Cuối cùng, mọi quá trình chuyển đổi phải đi đôi với việc thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ và phân cấp bảo mật nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm tuyệt đối an ninh mạng, an toàn thông tin và bí mật quân sự trong toàn bộ hệ thống.

3. Kết luận

Ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là xu thế tất yếu, giữ vai trò nền tảng định hướng công cuộc đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên số. Việc vận dụng sáng tạo các quan điểm lý luận này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn là yêu cầu khách quan để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thực tiễn khẳng định đây là động lực then chốt để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, giúp tối ưu hóa quản trị và phương pháp giảng dạy. Để phát huy tối đa hiệu quả, Nhà trường cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận đi đôi với đẩy mạnh triển khai thực tiễn, hướng tới xây dựng hệ sinh thái giáo dục mở, linh hoạt và bền vững.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sứ mệnh của Nhà trường là đào tạo đội ngũ cán bộ có tư duy đột phá và khả năng làm chủ công nghệ. Do đó, kiên trì mục tiêu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chính là lộ trình chiến lược để xây dựng Nhà trường chính quy, hiện đại, từng bước hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới./.

 

Tài liệu tham khảo.

1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Ban Chấp hành Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.

2. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới, Hà Nội, 2024.

3. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025 của Quân uỷ Trung ương về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Hà Nội, 2025.

4. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 290-NQ/QUTW ngày 07/01/2026 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội, Hà Nội, 2026.

5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội, 2024./.

 

 

APPLYING AND DEVELOPING SCIENCE, TECHNOLOGY, INNOVATION, AND DIGITAL TRANSFORMATION IN EDUCATION AND TRAINING AT NGUYEN HUE UNIVERSITY TODAY

Nguyen Xuan Tiem

Nguyen Hoai Nam

Faculty of Party and Political Work; Department of Logistics and Techniques

Abstract: In the context of national digital transformation and the requirements for fundamental and comprehensive renovation of education and training quality within the Vietnam People's Army, the application and development of science, technology, innovation, and digital transformation in military academies and schools in general, and Nguyen Hue University in particular, have become an inevitable requirement. These elements serve as a driving force to innovate teaching methods, enabling learners to enhance their thinking, creativity, and effective self-study, thereby improving the university's education and training quality in the digital era. This article focuses on clarifying the theoretical basis and assessing the current status of applying and developing science, technology, innovation, and digital transformation in education and training at Nguyen Hue University. Based on this analysis, the authors propose solutions to further enhance these activities at the institution

Keywords: Technology; digital transformation; innovation; education and training; application; science.

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).