1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

ỨNG DỤNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

10:47 | 08/05/2026
aA

 

Trần Văn Thông - Phạm Tường Hải

Hệ 2, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Chuyển đổi số đang tác động lĩnh vực giáo dục và đào tạo, trong đó có hoạt động nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện Chính trị. Việc ứng dụng công nghệ số góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tăng tính trực quan và khả năng tương tác trong học tập. Đồng thời, chuyển đổi số giúp khai thác hiệu quả nguồn học liệu điện tử, thư viện số và các nền tảng học tập. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng, kỹ năng số và nguồn học liệu chuyên ngành. Vì vậy, cần thực hiện hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng kỹ năng số và bảo đảm an toàn thông tin.

Từ khoá: Chuyển đổi số; nghiên cứu, giảng dạy; Lịch sử Đảng; giảng viên, học viên; Học viện Chính trị.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ hiện nay, giáo dục và đào tạo đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện. Việc ứng dụng công nghệ số vào nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Điều đó góp phần đổi mới phương pháp truyền đạt, nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu cho giảng viên, học viên. Các nền tảng số giúp bài giảng trở nên trực quan, sinh động và tăng khả năng tương tác trong quá trình học tập. Đồng thời, chuyển đổi số tạo điều kiện khai thác hiệu quả nguồn tư liệu lịch sử phong phú, chính thống. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại Học viện Chính trị vẫn còn những hạn chế về hạ tầng, học liệu và kỹ năng số. Vì vậy, cần có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số trong giảng dạy, nghiên cứu.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Vai trò của việc ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị hiện nay

  Ứng dụng chuyển đổi số có vai trò quan trọng trong đổi mới hoạt động nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện Chính trị hiện nay. Chuyển đổi số góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, lấy người học làm trung tâm. Thông qua các nền tảng học tập trực tuyến, bài giảng điện tử, hệ thống trình chiếu đa phương tiện hay mô phỏng lịch sử bằng hình ảnh, video, dữ liệu số, nội dung bài học trở nên trực quan, sinh động hơn, giúp học viên dễ tiếp cận và nâng cao hứng thú học tập. Điều đó không chỉ nâng cao chất lượng tiếp thu kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy, tự học và nghiên cứu của học viên. Các thư viện số, cơ sở dữ liệu điện tử, tài liệu lưu trữ trực tuyến tạo điều kiện cho giảng viên và học viên tiếp cận nhanh chóng với nguồn tư liệu phong phú, chính thống, phục vụ tốt cho hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Việc sử dụng các phần mềm quản lý học tập, hệ thống thi trực tuyến, ngân hàng câu hỏi số giúp quá trình dạy học diễn ra linh hoạt, tiết kiệm thời gian và nâng cao tính khách quan trong đánh giá. Đồng thời, chuyển đổi số tạo môi trường thuận lợi để giảng viên trao đổi học thuật, chia sẻ học liệu và kinh nghiệm giảng dạy. Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, việc ứng dụng chuyển đổi số trong giảng dạy Lịch sử Đảng còn góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, củng cố niềm tin của học viên đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

2.2. Thực trạng ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị hiện nay

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, Học viện đã triển khai hệ thống LMS nội bộ phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu môn học, với mục tiêu làm phong phú thêm môi trường học tập, thúc đẩy sự tương tác giữa giảng viên và học viên, và tối ưu hóa quá trình học tập, nghiên cứu của học viên. Hệ thống LMS nội bộ tại Học viện đã được triển khai để tạo ra một môi trường học tập linh hoạt và hiện đại, giúp học viên tiếp cận tri thức một cách hiệu quả và chủ động. Các giảng viên và học viên có thể sử dụng hệ thống này để truy cập vào kho tài liệu học tập, bao gồm các bài giảng, nghiên cứu, văn kiện Đảng, các tài liệu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, các bài kiểm tra trực tuyến, bài tập tự học, và các video giảng dạy về các sự kiện lịch sử quan trọng. Một trong những ưu điểm nổi bật của hệ thống LMS này là khả năng số hóa và tổ chức tài liệu học tập một cách khoa học, giúp học viên dễ dàng tiếp cận tài liệu bất cứ lúc nào và ở bất kỳ đâu, từ đó khắc phục được hạn chế về không gian và thời gian trong việc học tập. Hệ thống này cũng giúp giảng viên theo dõi tiến độ học tập của học viên, đánh giá kết quả học tập qua các bài kiểm tra và phản hồi kịp thời, đồng thời tạo ra một nền tảng thuận tiện cho việc trao đổi ý tưởng, thảo luận chuyên sâu và phản biện các vấn đề lý luận, chính trị liên quan đến Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ có LMS, việc phân tích và nghiên cứu các văn kiện lịch sử Đảng trở nên dễ dàng hơn, giúp học viên nâng cao khả năng phân tích và tư duy phản biện, từ đó có thể áp dụng lý luận vào thực tiễn, đồng thời rút ra những bài học quý báu từ các quyết sách của Đảng trong quá khứ.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, việc áp dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy và nghiên cứu đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo, đặc biệt là những cơ sở đào tạo cán bộ, sĩ quan quân đội như Học viện Chính trị. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quân sự và giáo dục truyền thống cách mạng cho các học viên, đồng thời góp phần nâng cao hiểu biết về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những bước đi tiên phong trong quá trình hiện đại hóa công tác giảng dạy là việc số hóa giáo trình và tài liệu nghiên cứu. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng giảng dạy mà còn làm phong phú thêm các nguồn tài liệu, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong việc nghiên cứu và tiếp cận tri thức về Đảng Cộng sản Việt Nam. Kho tài liệu số phong phú, giúp học viên tiếp cận các nguồn tài liệu một cách dễ dàng và tiện lợi hơn. Hệ thống giáo trình và tài liệu số hóa cung cấp cho học viên không chỉ các văn kiện lịch sử Đảng mà còn các bài giảng, bài tập, bài nghiên cứu và video giảng dạy từ các giảng viên. Nhờ vào hệ thống này, học viên có thể nghiên cứu và ôn tập các nội dung liên quan đến Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại bất kỳ đâu, chỉ cần có kết nối internet. Việc học tập trở nên linh hoạt và phù hợp hơn với nhu cầu học của học viên, giúp họ tiếp cận được lượng lớn tài liệu mà không bị giới hạn về không gian hay thời gian. Bên cạnh đó, việc số hóa tài liệu cũng giúp giảng viên có thể cập nhật và chia sẻ tài liệu một cách nhanh chóng và chính xác. Các tài liệu giảng dạy có thể được cập nhật thường xuyên với những nghiên cứu mới nhất, giúp giảng viên có thể dễ dàng điều chỉnh và cải tiến nội dung bài giảng của mình. Điều này không chỉ làm phong phú thêm quá trình giảng dạy mà còn giúp học viên luôn được tiếp cận với các tài liệu, nghiên cứu và thông tin mới nhất về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc chia sẻ tài liệu số còn giúp giảm thiểu chi phí in ấn và lưu trữ tài liệu giấy, đồng thời tạo ra một kho dữ liệu vô cùng phong phú cho cả giảng viên và học viên tham khảo.

Các tài liệu quan trọng như văn kiện Đảng, nghị quyết Đại hội, các bài viết của các lãnh tụ Đảng, cũng như các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về Lịch sử Đảng đã được chuyển thành các định dạng số và tích hợp vào hệ thống quản lý học tập (LMS). Nhờ đó, học viên có thể truy cập vào các tài liệu này một cách dễ dàng, thuận tiện và nhanh chóng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh học viên, đặc biệt là cán bộ quân đội, có khối lượng công việc lớn và thường xuyên phải di chuyển, không thể luôn có mặt ở giảng đường để tiếp cận tài liệu học tập. Các bài giảng và bài kiểm tra được cập nhật thường xuyên, giúp học viên tiếp cận thông tin mới và luôn giữ được động lực học tập. Các công cụ tương tác trực tuyến như diễn đàn thảo luận, phòng chat nhóm, và các buổi tọa đàm trực tuyến cũng giúp học viên giao lưu, trao đổi ý tưởng và thảo luận các vấn đề lý luận trong Lịch sử Đảng. Điều này không chỉ giúp tăng cường khả năng tư duy phản biện của học viên mà còn khuyến khích họ chủ động trong việc nghiên cứu và học hỏi.

Bên cạnh những kết quả đạt được, ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị còn một số hạn chế: cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin ở một số đơn vị chưa thật sự đồng bộ; hệ thống mạng, trang thiết bị phục vụ dạy học số còn thiếu hoặc chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình mới. Nguồn học liệu số phục vụ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam còn hạn chế về số lượng và tính cập nhật. Nhiều tài liệu điện tử chưa được số hóa đầy đủ, thiếu tính trực quan và khả năng tương tác, gây khó khăn cho giảng viên và học viên trong quá trình nghiên cứu, học tập. Trình độ và kỹ năng ứng dụng công nghệ số của một bộ phận giảng viên, học viên còn chưa đồng đều; vẫn còn tình trạng ngại đổi mới phương pháp giảng dạy, chưa khai thác hiệu quả các tiện ích của chuyển đổi số.

2.3. Một số giải pháp nâng cao ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam ở Học viện Chính trị hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nâng cao nhận thức về vai trò của chuyển đổi số là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm thúc đẩy hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện hiện nay. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, khoa giáo viên cần quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân đội về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo. Cần xác định đây không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện đại trong tình hình mới. Đội ngũ giảng viên cần nhận thức đầy đủ những lợi ích mà chuyển đổi số mang lại đối với hoạt động nghiên cứu và giảng dạy. Công nghệ số không làm giảm vai trò của người giảng viên mà ngược lại còn tạo điều kiện để đổi mới phương pháp truyền đạt, nâng cao tính trực quan, sinh động và khả năng tương tác trong bài giảng. Thông qua các nền tảng số, giảng viên có thể khai thác hiệu quả các nguồn tư liệu lịch sử, hình ảnh, video, tài liệu lưu trữ phục vụ bài giảng, góp phần nâng cao chất lượng và sức thuyết phục của nội dung giảng dạy. Đối với học viên, cần nâng cao nhận thức về vai trò của chuyển đổi số trong tự học, tự nghiên cứu và tiếp cận tri thức. Học viên phải chủ động rèn luyện kỹ năng khai thác học liệu số, sử dụng hiệu quả các nền tảng học tập trực tuyến và nâng cao ý thức trách nhiệm trong sử dụng thông tin trên không gian mạng. Đồng thời, cần cảnh giác trước các thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử Đảng và nền tảng tư tưởng của Đảng trên internet, mạng xã hội. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, học viên về chuyển đổi số. Qua đó tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Hai là, đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và xây dựng học liệu số phục vụ nghiên cứu, giảng dạy.

Đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ và xây dựng hệ thống học liệu số là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện hiện nay. Với tinh thần đó, học viện cần tiếp tục quan tâm đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng hiện đại, đồng bộ và ổn định. Trong đó, cần nâng cấp hệ thống mạng internet, phòng học thông minh, thiết bị trình chiếu, máy tính, hệ thống âm thanh, phần mềm quản lý học tập và các nền tảng hỗ trợ dạy học trực tuyến. Việc bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên ứng dụng công nghệ số vào bài giảng, đồng thời giúp học viên tiếp cận tri thức nhanh chóng, hiệu quả hơn. Học viện cần tiến hành số hóa các giáo trình, tài liệu tham khảo, văn kiện của Đảng, hình ảnh, phim tư liệu lịch sử và các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị. Đồng thời, xây dựng thư viện điện tử, kho dữ liệu số dùng chung nhằm tạo điều kiện cho giảng viên và học viên dễ dàng khai thác, sử dụng trong học tập và nghiên cứu. Việc ứng dụng các phần mềm trình chiếu hiện đại, trí tuệ nhân tạo và công nghệ mô phỏng sẽ góp phần tái hiện chân thực các sự kiện lịch sử, giúp học viên dễ tiếp thu và ghi nhớ kiến thức hơn. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và quản lý chặt chẽ hệ thống dữ liệu số. Việc xây dựng môi trường học tập số an toàn không chỉ giúp bảo vệ nguồn dữ liệu học tập, nghiên cứu mà còn góp phần ngăn chặn các thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử Đảng trên không gian mạng. Qua đó tạo nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Ba là, nâng cao trình độ, kỹ năng số cho đội ngũ giảng viên và học viên.

Nâng cao trình độ, kỹ năng số cho đội ngũ giảng viên và học viên là giải pháp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện Chính trị hiện nay. Trong quá trình chuyển đổi số, con người giữ vai trò trung tâm, trực tiếp khai thác, vận hành và phát huy hiệu quả của các nền tảng công nghệ trong giáo dục và đào tạo. Với tinh thần này, Học viện cần tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho đội ngũ giảng viên. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào kỹ năng thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng phần mềm trình chiếu hiện đại, khai thác thư viện số, tổ chức lớp học trực tuyến và ứng dụng các nền tảng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Qua đó giúp giảng viên từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng truyền đạt kiến thức và khả năng tương tác với học viên. Đội ngũ giảng viên cần chủ động tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực số đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Giảng viên môn Lịch sử Đảng không chỉ nắm vững kiến thức lý luận, lịch sử mà còn phải biết khai thác hiệu quả các nguồn tư liệu số, hình ảnh, video, dữ liệu điện tử để làm phong phú nội dung bài giảng. Việc kết hợp linh hoạt giữa phương pháp giảng dạy truyền thống với công nghệ số sẽ góp phần tăng tính trực quan, sinh động và sức thuyết phục của bài học.

Đối với học viên, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng khai thác và sử dụng công nghệ số phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học. Học viên phải nâng cao khả năng tìm kiếm, chọn lọc và xử lý thông tin trên internet; sử dụng hiệu quả các nền tảng học tập trực tuyến, thư viện điện tử và nguồn học liệu số. Đồng thời, cần xây dựng ý thức tự học, chủ động tiếp cận tri thức mới, nâng cao trách nhiệm trong sử dụng mạng xã hội, không để bị tác động bởi các thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử Đảng. Xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên, học viên tích cực tham gia nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số trong dạy học và nghiên cứu khoa học. Qua đó tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

3. Kết luận

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục và đào tạo hiện nay. Việc ứng dụng chuyển đổi số vào nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Quá trình này góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng nghiên cứu và khả năng tiếp cận tri thức cho học viên. Đồng thời, chuyển đổi số giúp khai thác hiệu quả các nguồn học liệu số, tăng tính trực quan và sinh động của bài giảng. Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về nhận thức, cơ sở vật chất và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, học viên. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng tại Học viện Chính trị hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW về chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Tài liệu hướng dẫn chuyển đổi số trong giáo dục đại học.

3. Nguyễn Mạnh Hưởng. (2022). Chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam. Tạp chí Giáo dục, (520).

4. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia.

5. Quân uỷ Trung ương (2025), Nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, số 3488-NQ/QUTW ngày 29/01/2025, Hà Nội.

 

APPLYING DIGITAL TRANSFORMATION IN RESEARCH AND TEACHING THE HISTORY OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM AT THE POLITICAL ACADEMY TODAY

 

Tran Van Thong - Pham Tuong Hai

System 2, Political Academy

Email: [email protected]

 

Sum mary: Digital transformation is impacting the education and training sector, including research and teaching of the History of the Communist Party of Vietnam at the Political Academy. The application of digital technology contributes to the innovation of teaching methods, the improvement of research quality, and the enhancement of visual and interactive learning. Simultaneously, digital transformation helps to effectively utilize electronic learning resources, digital libraries, and learning platforms. However, the implementation process still faces many difficulties regarding infrastructure, digital skills, and specialized learning resources. Therefore, effective solutions are needed to raise awareness, invest in facilities, cultivate digital skills, and ensure information security.

Key words: Digital transformation; research, teaching; Party history; lecturers, students; Political Academy.

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).