1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

TỪ SÂN CHƠI ĐẾN TRANG VIẾT “NGÔN NGỮ NAM BỘ TRONG TỰ SỰ THỂ THAO HIỆN ĐẠI Ở CẦN THƠ”

06:37 | 21/04/2026
aA

 

Trần Thị Lâm – Lâm Thị Thiên Lan

Đại học Cần Thơ,

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Bài viết khảo sát vai trò của ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao hiện đại ở Cần Thơ như một hiện tượng ngôn ngữ, văn hóa và truyền thông có ý nghĩa đặc biệt đối với việc kiến tạo bản sắc địa phương. Từ việc quan sát diễn ngôn trên báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội và lời kể đời thường quanh các sự kiện thể thao, bài viết lập luận rằng ngôn ngữ Nam Bộ không chỉ làm tăng tính gần gũi, giàu nhịp điệu và sức truyền cảm cho văn bản thể thao mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình tạo nghĩa, tổ chức cảm xúc cộng đồng và xác lập tư thế phát ngôn của chủ thể Cần Thơ. Khi đi từ sân chơi đến trang viết, lớp từ ngữ địa phương, ngữ điệu khẩu ngữ và lối kể hào sảng của Nam Bộ đã chuyển hóa thể thao từ một hoạt động tranh tài thành một không gian biểu đạt văn hóa. Bài viết hướng đến việc khẳng định rằng giữ gìn và sử dụng có ý thức ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao là một lựa chọn thẩm mỹ, xã hội và học thuật cần thiết trong bối cảnh hiện đại hóa truyền thông.

Từ khóa: Ngôn ngữ Nam Bộ, tự sự thể thao, Cần Thơ, diễn ngôn báo chí, bản sắc địa phương, văn hóa truyền thông.

Abstract: This article investigates the role of Southern Vietnamese language in contemporary sports narratives in Cần Thơ as a linguistic, cultural, and media phenomenon of particular significance in constructing local identity. Drawing on observations of discourse across journalism, radio, television, social media, and everyday storytelling surrounding sporting events, the study argues that Southern Vietnamese not only enhances familiarity, rhythm, and expressiveness in sports texts but also actively participates in meaning-making, the organization of collective emotions, and the articulation of the speaking position of the Can Tho subject. Moving from the playing field to the written page, local vocabulary, colloquial intonation, and the bold, expansive narrative style of the South transform sports from mere competition into a space of cultural expression. The article ultimately affirms that the conscious preservation and use of Southern Vietnamese in sports narratives constitutes a necessary aesthetic, social, and scholarly choice in the context of media modernization.

Keywords: Southern Vietnamese language; sports narratives; Cần Thơ; journalistic discourse; local identity; media culture.

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống hiện đại, thể thao không còn là một hoạt động thuần túy gắn với rèn luyện thân thể hay cạnh tranh thành tích. Thể thao đã trở thành một sự kiện ngôn ngữ, một không gian biểu tượng, một trường diễn ngôn nơi cộng đồng kể về chính mình thông qua thắng thua, nỗ lực, niềm tự hào và sự gắn bó. Một trận bóng đá phong trào, một giải đua ghe, một hội thao học đường hay một cuộc tranh tài cấp thành phố đều không chỉ diễn ra trên sân bãi mà còn tiếp tục sống trong lời bình, trong bản tin, trong bài viết, trong trạng thái mạng xã hội, trong tiếng reo hò và trong ký ức tập thể. Chính ở điểm này, ngôn ngữ trở thành chiếc cầu nối giữa hành động thể chất và ý nghĩa văn hóa.

Cần Thơ là một không gian đặc biệt để nhận diện hiện tượng ấy. Đây là đô thị trung tâm của vùng Tây Nam Bộ, nơi nhịp sống hiện đại gặp gỡ với nền nếp văn hóa sông nước, nơi ngôn ngữ đời thường vẫn giữ được độ đậm đặc của sắc thái Nam Bộ dù truyền thông số ngày càng mở rộng. Trong bối cảnh đó, tự sự thể thao ở Cần Thơ không vận hành như một bản sao giản đơn của diễn ngôn thể thao toàn quốc. Nó có nhịp nói riêng, khẩu khí riêng, cách gọi tên riêng và đặc biệt là một kiểu tạo cảm xúc riêng. Những từ ngữ như bứt phá, rượt đuổi, gồng mình, máu lửa, chơi tới bến, đá sung, chạy khỏe, cổ vũ hết ga khi đi vào văn cảnh Nam Bộ thường không chỉ mang nghĩa miêu tả mà còn kéo theo trường liên tưởng về tính cách hào sảng, trực trực, ưa hành động và giàu tính cộng đồng của con người miền sông nước. Bởi vậy, muốn hiểu tự sự thể thao ở Cần Thơ, không thể bỏ qua ngôn ngữ Nam Bộ như một lớp trầm tích văn hóa đang vận động ngay trong từng câu chữ.

Về phương diện học thuật, vấn đề này có ý nghĩa ở ít nhất ba cấp độ. Trước hết, nó góp phần mở rộng nghiên cứu về phương ngữ và biến thể vùng miền trong môi trường truyền thông hiện đại, nơi lời nói địa phương không biến mất mà tái cấu trúc để thích ứng với các hình thức biểu đạt mới. Tiếp theo, nó giúp nhận ra thể thao như một diễn đàn xã hội của ngôn ngữ, nơi từ vựng, ngữ điệu và chiến lược kể chuyện đều tham gia vào việc sản xuất cảm xúc công chúng. Sau cùng, nó đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa chuẩn mực tiếng Việt toàn dân và quyền biểu đạt của bản sắc địa phương trong báo chí, giáo dục, sáng tác và truyền thông số.

Bài viết này hướng đến một mục tiêu rõ ràng. Đó là chứng minh rằng ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao hiện đại ở Cần Thơ không phải là phần phụ trang trí cho giọng kể, càng không phải là tàn dư của khẩu ngữ địa phương còn sót lại trong văn bản. Trái lại, nó là một thành tố cấu trúc tạo nên sức sống của diễn ngôn thể thao, giúp văn bản vừa bám sát cảm xúc cộng đồng vừa thể hiện sắc diện văn hóa vùng miền. Nói cách khác, từ sân chơi đến trang viết, ngôn ngữ Nam Bộ đã tham gia vào việc chuyển hóa thể thao thành câu chuyện của cộng đồng Cần Thơ về chính mình.

Bài viết vận dụng cách nhìn liên ngành giữa ngôn ngữ học xã hội, phong cách học, phân tích diễn ngôn và nghiên cứu văn hóa. Về nền tảng lý thuyết, nghiên cứu này kế thừa các tiếp cận cơ bản của ngôn ngữ học tiếng Việt, phong cách học tiếng Việt và nguồn tư liệu học thuật được xuất bản bởi các đơn vị có uy tín như Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng hệ thống tạp chí học thuật VJOL. Các nhà xuất bản này hiện giữ vai trò đáng kể trong xuất bản sách công cụ, sách chuyên khảo và học liệu đại học, còn VJOL là một cổng truy cập quan trọng đối với bài báo khoa học Việt Nam.

Từ cơ sở ấy, bài viết triển khai bốn luận điểm chính. Thứ nhất, ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao ở Cần Thơ là dấu hiệu của chủ thể phát ngôn địa phương. Thứ hai, lớp ngôn ngữ này tạo nên sức truyền cảm đặc thù cho văn bản thể thao hiện đại. Thứ ba, nó làm thay đổi cấu trúc tự sự bằng cách kéo thể thao lại gần đời sống cộng đồng. Thứ tư, trong bối cảnh số hóa và toàn quốc hóa truyền thông, việc bảo tồn và sử dụng có ý thức ngôn ngữ Nam Bộ là một yêu cầu vừa khoa học vừa thực tiễn.

2. Nội dung

2.1. Tự sự thể thao hiện đại như một hình thức kể chuyện xã hội

Muốn bàn đến ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao, trước hết cần xác định thể thao hiện đại là một loại tự sự đặc biệt. Khác với bản tin thuần thông báo, tự sự thể thao bao giờ cũng tổ chức sự kiện theo tuyến diễn biến, nhân vật, cao trào, bước ngoặt và kết cục. Một trận đấu không chỉ được tường thuật bằng tỉ số mà bằng chuỗi hành động có nguyên nhân và hiệu ứng. Đội bóng bị dẫn trước nhưng không buông xuôi. Vận động viên xuống sức rồi tăng tốc. Khán giả im lặng rồi bùng nổ. Huấn luyện viên điều chỉnh chiến thuật. Trọng tài trở thành nút căng thẳng. Tất cả những yếu tố ấy hợp lại thành câu chuyện.

Điều quan trọng là câu chuyện thể thao luôn cần một người kể. Người kể ấy có thể là phóng viên, bình luận viên, huấn luyện viên, khán giả, cổ động viên, người dùng mạng xã hội, thậm chí là người bán nước bên sân. Mỗi người kể mang theo vốn từ, góc nhìn, hệ giá trị và vị thế xã hội của mình. Cho nên cùng một sự kiện nhưng văn bản thể thao không bao giờ trung tính tuyệt đối. Nó được tạo bởi lựa chọn ngôn ngữ. Chọn gọi một pha bóng là khôn ngoan hay tinh quái đã hàm chứa đánh giá. Chọn nói một vận động viên lì lợm hay cố chấp đã bộc lộ hệ giá trị. Chọn kể trận đấu như cuộc thư hùng, màn rượt đuổi hay một buổi cọ xát cũng dẫn dắt cảm xúc công chúng theo những hướng khác nhau.

Ở đây, tự sự thể thao hiện đại cần được nhìn như một hình thức kể chuyện xã hội. Nó kể không chỉ về trận đấu mà còn về tinh thần địa phương, tính kỷ luật, khí chất tập thể, giấc mơ chiến thắng và năng lực vượt khó. Nó biến cá nhân thi đấu thành biểu tượng cộng đồng. Một vận động viên trẻ của Cần Thơ không chỉ được nhắc đến như người đoạt huy chương mà còn như minh chứng cho sức bật của đất học, đất trẻ, đất phương Nam năng động. Do đó, ngôn ngữ tự sự thể thao bao giờ cũng mang hai tầng nghĩa. Tầng thứ nhất là tầng miêu tả thao tác thi đấu. Tầng thứ hai là tầng biểu tượng xã hội.

Khi truyền thông hiện đại phát triển, tự sự thể thao còn mở rộng từ báo in và phát thanh sang truyền hình, nền tảng số và mạng xã hội. Điều này làm cho ngôn ngữ thể thao trở nên đa thanh hơn, gần khẩu ngữ hơn và nhịp nhanh hơn. Không gian thể thao ở Cần Thơ vì thế là một nơi rất thích hợp để quan sát sự cộng sinh giữa ngôn ngữ vùng miền và truyền thông đương đại. Ở đây, lời bình mang hơi đất, bài viết mang tiếng đời, còn trạng thái mạng xã hội lại tiếp nhận rồi khuếch đại sắc thái địa phương theo cách linh hoạt. Tự sự thể thao không còn là độc quyền của nhà báo chuyên nghiệp mà là sản phẩm chung của một cộng đồng kể chuyện.

2.2. Ngôn ngữ Nam Bộ như dấu hiệu của chủ thể phát ngôn Cần Thơ

Ngôn ngữ Nam Bộ trước hết là một hệ thống dấu hiệu nhận diện chủ thể phát ngôn. Khi người viết hay người nói dùng những lựa chọn từ ngữ, nhịp câu và cách đánh giá mang sắc thái Nam Bộ, họ không chỉ chuyển tải thông tin mà còn bộc lộ mình thuộc về một cộng đồng văn hóa cụ thể. Trong tự sự thể thao ở Cần Thơ, sự thuộc về ấy rất quan trọng vì thể thao là nơi cảm thức địa phương được đánh thức mạnh mẽ nhất.

Chủ thể phát ngôn Cần Thơ thường hiện lên qua ba đặc điểm. Một là tính trực tiếp. Câu văn ưa đi thẳng vào sự việc, ít vòng vo, ít dùng lớp tu từ trừu tượng mà thiên về hành động và cảm giác. Hai là tính thân mật. Giọng kể nhiều khi tạo cảm giác như đang trò chuyện với người quen, với xóm giềng, với cộng đồng đồng hương hơn là phát biểu trước một diễn đàn xa lạ. Ba là tính hào sảng. Người kể không ngại biểu lộ cảm xúc tích cực, khen hết lòng, tiếc hết lòng, tự hào cũng hết lòng. Ba đặc điểm ấy đặc biệt phù hợp với thế giới thể thao vốn cần tốc độ, độ nóng và khả năng kết nối số đông.

Vì vậy, khi ngôn ngữ Nam Bộ đi vào bài viết thể thao, nó làm xuất hiện một chủ thể kể chuyện rất khác với lối viết hành chính hóa hay trung tính hóa quá mức. Chủ thể ấy không giấu mình sau văn phong vô cảm. Họ đứng ra xác nhận mình đang cùng cộng đồng trải qua sự kiện. Họ chứng kiến, hòa vào, thậm chí mang trách nhiệm chia sẻ cảm xúc của tập thể. Một câu như đội bạn ép dữ quá nhưng anh em mình vẫn đứng vững khác hẳn kiểu câu đội đối phương gia tăng sức ép song đội chủ nhà duy trì được thế trận. Câu đầu chứa sự cùng phe, cùng giọng, cùng kinh nghiệm cảm xúc. Câu sau chính xác hơn về mặt thông báo nhưng không tạo được hiệu ứng đồng hiện cộng đồng.

Đây không phải là chuyện đề cao khẩu ngữ một cách tùy tiện. Vấn đề là ở chức năng giao tiếp xã hội của ngôn ngữ. Trong không gian thể thao Cần Thơ, người tiếp nhận thường mong chờ một giọng kể có hơi người, có địa phương, có mức thân cận đủ để họ nhận ra chính mình trong đó. Ngôn ngữ Nam Bộ đáp ứng rất tốt yêu cầu này vì nó không tách thông tin khỏi quan hệ. Nó luôn kéo theo vị thế người nói, mối liên kết với người nghe và bối cảnh sống chung của một cộng đồng vùng miền.

Cũng cần nhấn mạnh rằng chủ thể phát ngôn địa phương không đồng nghĩa với sự đóng kín. Ngược lại, chính khi tự tin dùng chất giọng Nam Bộ, diễn ngôn thể thao Cần Thơ mới có thể bước ra không gian rộng hơn như một bản sắc chứ không phải một bản sao. Chỉ khi có tiếng nói riêng, một địa phương mới góp được tiếng nói thật sự vào bản hòa âm chung của truyền thông quốc gia.

2.3. Từ vựng Nam Bộ và khả năng tạo nhịp cảm xúc cho văn bản thể thao

Nếu xem tự sự thể thao là câu chuyện của chuyển động và cảm xúc, thì từ vựng chính là hệ cơ bắp của câu chuyện đó. Ở Cần Thơ, lớp từ ngữ Nam Bộ góp phần tạo nên nhịp nhanh, độ sống và sức bật cho văn bản. Nhiều từ ngữ vốn được dùng trong sinh hoạt thường nhật khi đi vào diễn ngôn thể thao đã có khả năng diễn tả rất chính xác trạng thái thi đấu. Chẳng hạn, rượt đuổi diễn tả thế trận bám sát về điểm số. Gồng mình diễn tả sự chịu đựng và dồn sức. Bứt lên gợi hình ảnh đột ngột phá vỡ trạng thái cân bằng. Máu lửa nói về cường độ thi đấu và tinh thần nhập cuộc. Xuống chân, hụt hơi, chơi sung, vô đà, giữ nhịp, ép sân, lật kèo đều là những đơn vị vừa có tính miêu tả vừa có sắc thái khẩu ngữ đậm nét.

Điểm đáng chú ý là những đơn vị ấy giàu khả năng tạo hình và gợi cảm hơn nhiều công thức mô tả khô cứng. Chúng khiến văn bản thể thao giống như một hiện trường sống động hơn là một báo cáo tổng hợp. Người đọc không chỉ hiểu sự kiện mà còn cảm được hơi nóng của nó. Đây chính là thế mạnh của ngôn ngữ Nam Bộ. Nó làm câu chữ không bị đông cứng trong tính chuẩn hóa mà vẫn giữ được độ bật của đời sống.

Về mặt phong cách học, lớp từ ngữ này tạo ra ba hiệu ứng. Trước hết là hiệu ứng gần. Người đọc cảm thấy khoảng cách giữa văn bản và thực tế được rút ngắn. Thứ hai là hiệu ứng động. Câu chữ không chỉ báo tin mà như đang diễn ra trước mắt. Thứ ba là hiệu ứng cộng cảm. Người đọc có thể nhập vào tâm thế của người kể và của cộng đồng cổ vũ. Trong văn bản thể thao, ba hiệu ứng ấy có giá trị đặc biệt vì thể thao cần cảm xúc lan truyền. Một bản tin chính xác mà không khơi được cảm xúc sẽ khó sống lâu trong trí nhớ công chúng.

Tuy nhiên, phải thấy rằng giá trị của từ vựng Nam Bộ không nằm ở số lượng từ địa phương xuất hiện nhiều hay ít. Điều quan trọng là cách sử dụng. Khi dùng đúng ngữ cảnh, một vài đơn vị có thể làm bừng sáng toàn bộ giọng điệu văn bản. Ngược lại, nếu lạm dụng, văn bản dễ rơi vào trình diễn địa phương tính một cách bề mặt. Do đó, trong tự sự thể thao hiện đại, việc khai thác ngôn ngữ Nam Bộ cần hướng tới nguyên tắc tiết chế có ý thức. Không phải chỗ nào cũng nên đưa phương ngữ vào, nhưng chỗ nào cần tạo nhịp, tạo khí, tạo cảm xúc và xác lập giọng kể, ngôn ngữ Nam Bộ có ưu thế rất lớn.

Ở bình diện sâu hơn, lớp từ vựng này còn cho thấy một quy luật quan trọng của ngôn ngữ thể thao. Đó là thể thao thường ưu tiên những từ ngữ giàu động tính và giàu khả năng hình tượng hóa. Mà đây lại là đặc điểm rất hợp với khẩu ngữ Nam Bộ. Chính sự gặp nhau giữa yêu cầu thể loại và năng lượng của phương ngữ đã làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của tự sự thể thao ở Cần Thơ.

2.4. Cú pháp và nhịp điệu Nam Bộ trong tổ chức lời kể

Không chỉ ở từ vựng, sắc thái Nam Bộ còn hiện rõ trong cách tổ chức câu. Cú pháp của lời kể thể thao ở Cần Thơ thường thiên về câu ngắn, nhịp nhanh, có xu hướng ghép nối theo mạch diễn tiến sự việc hơn là theo mô hình logic luận đề khép kín. Đó là kiểu cú pháp bám sát hơi thở sân bãi. Pha bóng diễn ra nhanh thì câu cũng ngắn lại. Tình huống căng thẳng thì nhịp câu dồn dập. Chiến thắng bùng nổ thì câu mở rộng theo đà cảm xúc.

Kiểu tổ chức cú pháp này phù hợp với tính chất khẩu ngữ của Nam Bộ. Người Nam Bộ trong giao tiếp thường có xu hướng kể theo dòng diễn biến, thêm chi tiết bằng nhịp nối tự nhiên, ít câu nệ cấu trúc cân phương tuyệt đối. Khi đi vào diễn ngôn thể thao, xu hướng ấy tạo ra lợi thế rõ rệt. Bởi lẽ một trận đấu không chờ người viết sắp xếp ý tứ quá lâu. Người kể phải đi theo dòng chảy của sự kiện. Câu văn vì thế cần đủ linh hoạt để vừa ghi nhận vừa phản ứng.

Ngoài ra, ngôn ngữ Nam Bộ còn tạo nên nhịp điệu đối thoại trong văn bản. Nhiều câu viết mang cảm giác như có người đang nói cạnh người đọc. Sắc thái cảm thán, xen nhận xét ngắn, những nhịp ngắt tự nhiên kiểu rồi, vậy là, coi như, tiếc thiệt, hay quá trời khi được sử dụng đúng mức sẽ làm cho văn bản bớt xa lạ. Trong truyền thông thể thao hiện đại, đây là ưu thế lớn vì công chúng ngày nay không còn thích một giọng kể đứng trên cao. Họ cần một giọng kể cùng phía, cùng nhịp, cùng trường cảm xúc.

Từ góc nhìn phân tích diễn ngôn, nhịp điệu Nam Bộ còn làm thay đổi quan hệ quyền lực trong văn bản. Khi người kể dùng giọng địa phương, họ từ chối vị thế phát ngôn lạnh lùng và tuyệt đối hóa. Thay vào đó là vị thế đồng hiện cùng cộng đồng. Điều này có tác dụng dân chủ hóa lời kể. Thể thao không còn là câu chuyện do cơ quan truyền thông kể cho công chúng nghe mà trở thành câu chuyện của cộng đồng kể với chính mình và kể ra bên ngoài.

2.5. Tự sự thể thao ở Cần Thơ và quá trình địa phương hóa hiện đại

Một điểm cần nhấn mạnh là ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao hiện đại không phải sự giữ nguyên nguyên vẹn của lời ăn tiếng nói truyền thống. Nó đã trải qua quá trình chọn lọc, điều chỉnh và tái tạo trong môi trường truyền thông mới. Có thể gọi đây là quá trình địa phương hóa hiện đại.

Trong quá trình ấy, những yếu tố quá đặc thù, khó hiểu với công chúng rộng thường được giảm bớt. Những yếu tố có khả năng gợi hình, gợi cảm mạnh lại được giữ lại hoặc biến đổi để phù hợp với nhịp báo chí và nền tảng số. Chẳng hạn, một bài viết trên báo điện tử có thể không dùng dày đặc từ ngữ địa phương nhưng vẫn giữ được chất Nam Bộ qua nhịp câu, cách đánh giá, cách vào đề, cách kết đoạn và lựa chọn vài từ khóa đắt giá. Một bình luận viên trẻ trên nền tảng số có thể kết hợp tiếng Việt toàn dân với vài đơn vị Nam Bộ để tạo bản sắc mà vẫn bảo đảm tính phổ thông. Một người viết mạng xã hội có thể dùng sắc thái địa phương để làm đậm tính cộng đồng và tạo hiệu ứng chia sẻ.

Như vậy, điều đang diễn ra ở Cần Thơ không phải sự đối lập giữa địa phương và hiện đại. Vấn đề là sự tái cấu trúc. Ngôn ngữ Nam Bộ không bị hiện đại hóa làm mất chất, nếu người dùng biết cách chuyển hóa nó thành nguồn lực biểu đạt. Tự sự thể thao là một môi trường rất thuận lợi cho quá trình ấy vì nó cần tính trực tiếp, giàu cảm xúc và gần đời sống. Những phẩm chất này lại vốn là thế mạnh của diễn ngôn Nam Bộ.

Hơn nữa, địa phương hóa hiện đại còn cho phép Cần Thơ tạo ra bản sắc truyền thông riêng trong bối cảnh cạnh tranh nội dung. Khi vô số bản tin thể thao trên cả nước dễ bị đồng dạng bởi mô hình tin nhanh và ngôn ngữ công thức, một giọng kể có dấu ấn Nam Bộ sẽ tạo được khả năng nhận diện. Sự nhận diện này không chỉ có giá trị văn hóa mà còn có giá trị truyền thông. Nó làm tăng mức độ ghi nhớ, tăng tính chia sẻ và tăng mức độ gắn bó của công chúng địa phương.

2.6. Ngôn ngữ Nam Bộ như nơi gặp nhau giữa thể thao và văn hóa cộng đồng

Không thể hiểu trọn vẹn tự sự thể thao ở Cần Thơ nếu tách nó khỏi văn hóa cộng đồng. Thể thao ở đây, đặc biệt ở cấp độ phong trào, học đường, phường xã và các giải đấu địa phương, luôn gắn với sự tham gia của người thân, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, cựu học sinh và các nhóm tự nguyện. Mỗi trận đấu là một dịp tụ họp. Mỗi thành tích là một câu chuyện được chuyền tay. Mỗi chiến thắng là niềm vui lan ra ngoài khuôn khổ sân bãi.

Ngôn ngữ Nam Bộ chính là môi trường tự nhiên để năng lượng cộng đồng ấy biểu hiện. Nó giàu tính gọi mời, dễ tạo thân thuộc, dễ kéo người nghe vào cùng một vòng liên hệ. Khi bài viết thể thao dùng giọng địa phương hợp lý, người đọc không thấy mình là khán giả đứng ngoài mà như người trong cuộc. Họ nhận ra tiếng nói của xứ mình, cách khen của xứ mình, cách tiếc của xứ mình. Ở điểm này, ngôn ngữ không chỉ chuyên chở văn hóa mà còn tái tạo văn hóa. Nó làm cộng đồng nghe lại mình, nhận diện lại mình và tự củng cố cảm giác cùng thuộc về một nơi chốn.

Điều này giải thích vì sao nhiều bản tin thể thao địa phương có thể không cầu kỳ về kỹ thuật viết nhưng vẫn được yêu thích. Cái giữ chân người đọc không chỉ là thông tin mà là cảm giác thân quen. Một câu văn đúng giọng Nam Bộ đôi khi làm được điều mà một văn bản chuẩn chỉnh nhưng vô sắc thái không làm được. Nó mở ra sự cộng hưởng tình cảm. Nó làm cho thể thao không chỉ là thắng thua mà là câu chuyện của người với người.

2.7. Giới hạn và những nguy cơ của việc sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ trong truyền thông thể thao

Khẳng định giá trị của ngôn ngữ Nam Bộ không có nghĩa là bỏ qua những giới hạn của nó khi đi vào văn bản công khai. Trước hết là nguy cơ cực đoan hóa địa phương tính. Nếu người viết hoặc người nói quá mải mê biểu diễn chất địa phương, văn bản dễ trở nên đặc sản hóa bản sắc theo nghĩa bề mặt. Khi đó, phương ngữ không còn là nguồn lực tạo nghĩa mà biến thành thủ pháp gây chú ý. Hệ quả là nội dung thể thao bị loãng, thậm chí làm giảm độ tin cậy của bài viết.

Một nguy cơ khác là lệch chuẩn thông tin. Trong báo chí và truyền thông chính thống, tính rõ ràng, chính xác và khả năng tiếp cận rộng vẫn là nguyên tắc quan trọng. Nếu dùng quá nhiều đơn vị khó hiểu với công chúng ngoài vùng, văn bản sẽ thu hẹp đối tượng tiếp nhận. Vì vậy, bài toán ở đây không phải dùng hay không dùng mà là dùng đến mức nào, ở vị trí nào và với chiến lược gì. Văn bản càng hướng đến công chúng rộng thì càng cần chọn lọc và chuẩn hóa hơn. Văn bản càng hướng đến cộng đồng địa phương thì biên độ sử dụng có thể linh hoạt hơn.

Ngoài ra còn có nguy cơ giản lược Nam Bộ thành vài khuôn sáo quen thuộc như vui tính, bộc trực, phóng khoáng. Nếu người viết chỉ lặp lại vài nhãn tính cách này, ngôn ngữ Nam Bộ sẽ bị nghèo đi. Trong thực tế, tiếng Nam Bộ phong phú hơn rất nhiều. Nó có độ tinh tế riêng, có khả năng châm biếm, có chiều sâu cảm thương, có sức nén tình cảm và có nhiều cấp độ lịch sự. Tự sự thể thao muốn khai thác tốt chất liệu này phải vượt qua lối hiểu đơn giản hóa.

Do đó, việc sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao hiện đại cần đi cùng ý thức nghề nghiệp và năng lực thẩm mỹ. Chỉ khi người viết hiểu đặc điểm của phương ngữ và yêu cầu của thể loại, họ mới có thể tạo nên một diễn ngôn vừa có bản sắc vừa có chất lượng.

2.8. Hàm ý đối với nghiên cứu, báo chí và giáo dục ở Cần Thơ

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số hàm ý quan trọng. Trước hết, về nghiên cứu, cần xem tự sự thể thao là một nguồn ngữ liệu đáng giá để khảo sát sự vận động của ngôn ngữ Nam Bộ trong thời hiện đại. Đây là nơi lời nói địa phương không nằm yên trong dân ca, truyện kể hay hồi ức mà tham gia trực tiếp vào đời sống truyền thông số. Nghiên cứu lĩnh vực này sẽ giúp nhận ra phương ngữ không hề lùi bước trước hiện đại hóa mà đang chuyển mình trong những hình thức mới.

Về báo chí và truyền thông, các cơ quan và người làm nội dung ở Cần Thơ có thể xem ngôn ngữ Nam Bộ là một lợi thế thương hiệu. Nhưng lợi thế ấy chỉ phát huy khi được sử dụng trên nền tảng chuẩn mực nghiệp vụ. Cần xây dựng một ý thức biên tập linh hoạt, nơi chất địa phương được xem như nguồn lực biểu đạt chứ không bị loại bỏ máy móc. Một văn bản thể thao tốt có thể vừa đúng tiếng Việt toàn dân vừa ngân được nhịp Nam Bộ.

Về giáo dục, cần khuyến khích sinh viên các ngành ngôn ngữ, báo chí, giáo dục thể chất và văn hóa học nhìn thấy giá trị của lời ăn tiếng nói địa phương trong đời sống đương đại. Nếu chỉ dạy tiếng Việt theo một hình dung khô cứng về chuẩn mực, nhà trường dễ tạo ra tâm lý e dè với biến thể vùng miền. Trong khi đó, chính việc hiểu đúng quan hệ giữa chuẩn và biến thể mới giúp người học sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, tự tin và có ý thức văn hóa hơn.

Cuối cùng, ở bình diện văn hóa đô thị, Cần Thơ cần coi việc bảo tồn sắc thái ngôn ngữ trong truyền thông thể thao như một phần của chiến lược nuôi dưỡng bản sắc. Một đô thị hiện đại không phải là nơi mọi giọng nói bị làm phẳng, mà là nơi các giọng nói bản địa có thể đối thoại bình đẳng với không gian chung. Thể thao, với sức lan tỏa cộng đồng mạnh mẽ, chính là một kênh rất hiệu quả để thực hiện điều đó.

3. Kết luận

Từ sân chơi đến trang viết, thể thao ở Cần Thơ không chỉ vận động bằng cơ bắp, kỹ thuật hay thành tích mà còn vận động bằng ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ Nam Bộ đã góp phần biến một sự kiện thi đấu thành một câu chuyện xã hội có hồn, có nhịp và có bản sắc. Trong tự sự thể thao hiện đại, lớp từ ngữ địa phương, nhịp điệu khẩu ngữ, cách đánh giá giàu cảm xúc và tư thế phát ngôn gần gũi của Nam Bộ không đứng ngoài văn bản như những nét tô điểm bề mặt. Chúng tham gia trực tiếp vào việc tổ chức ý nghĩa, tạo cảm xúc cộng đồng và xác lập chủ thể văn hóa của Cần Thơ.

Luận điểm trung tâm của bài viết là ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao ở Cần Thơ vừa là công cụ biểu đạt vừa là vốn văn hóa. Nó giúp lời kể thể thao thoát khỏi sự khô cứng công thức, làm tăng sức gợi hình, sức truyền cảm và khả năng cộng cảm của văn bản. Đồng thời, nó khẳng định quyền hiện diện của bản sắc địa phương trong không gian truyền thông hiện đại. Khi được sử dụng có ý thức, đúng mức và đúng chỗ, ngôn ngữ Nam Bộ không làm giảm tính chuẩn mực của văn bản mà ngược lại còn làm giàu cho tiếng Việt công cộng bằng một nguồn năng lượng biểu đạt đậm chất vùng miền.

Từ đây có thể khẳng định rằng nghiên cứu ngôn ngữ Nam Bộ trong tự sự thể thao không chỉ là nghiên cứu một lớp từ ngữ hay một sắc thái giọng nói. Đó là nghiên cứu cách một cộng đồng kể về mình, tự nhận diện mình và đưa mình ra trước công chúng bằng tiếng nói riêng. Cần Thơ, trong tư cách một đô thị trung tâm của vùng Tây Nam Bộ, có đầy đủ điều kiện để trở thành không gian tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này. Giữ được tiếng nói Nam Bộ trong văn bản thể thao không phải là níu kéo quá khứ mà là làm cho hiện đại có gốc, cho truyền thông có hồn và cho bản sắc địa phương có chỗ đứng vững vàng trong đời sống hôm nay.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Biên soạn chuyên từ điển New Era, 2011, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

2. Cù Đình Tú, 2001, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

3. Đinh Trọng Lạc, 1999, 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

4. Hữu Đạt, 2000, Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

5. Nguyễn Thiện Giáp, 2016, Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

6. Nguyễn Thiện Giáp, 2010, 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Khang, 2012, Ngôn ngữ học xã hội, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

8. Trần Ngọc Thêm, 2013, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Nhiều tác giả, các số chuyên ngành trên hệ thống Tạp chí Khoa học Việt Nam Trực tuyến VJOL, nguồn tư liệu học thuật phục vụ nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

10. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, thông tin về đơn vị xuất bản học liệu và sách học thuật, tra cứu tại cổng thông tin chính thức của nhà xuất bản.

11. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, thông tin về định hướng xuất bản sách tra cứu và chuyên khảo chuyên sâu, tra cứu tại cổng thông tin chính thức của nhà xuất bản.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).