1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM: PHÂN TÍCH SO SÁNH THEO LOẠI HÌNH VÀ KHU VỰC

06:39 | 15/03/2026
aA

 

Phạm Thị Hoa

Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo

Email: [email protected]

 

Tóm tắt:

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương “đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các trường học”, cụ thể đối với bậc học đại học trong các cơ sở giáo dục đại học, việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu chiến lược quốc gia. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, dựa trên dữ liệu khảo sát toàn quốc theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc báo cáo việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh, nghiên cứu chỉ ra những xu hướng phát triển đáng chú ý: số lượng chương trình tiếng Anh tăng cường tăng 191%, chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tăng 123%. Số lượng các chương trình tiếng Anh tăng phản ánh nỗ lực mạnh mẽ trong quốc tế hóa giáo dục đại học. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập về quy mô đội ngũ, trình độ học vị, phương pháp triển khai và khả năng ứng dụng công nghệ, cũng như sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực về nguồn lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên. Những khó khăn chủ yếu bao gồm trình độ tiếng Anh đầu vào không đồng đều , thiếu giảng viên chất lượng cao, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển năng lực ngoại ngữ trong giáo dục đại học Việt Nam.

Từ khóa: Dạy học tiếng Anh; Giáo dục đại học; Chương trình tiếng Anh tăng cường; Quốc tế hóa giáo dục; So sánh loại hình trường.

Nhận bài: 14/3/2026; Biên tập: 14/3/2026: Duyệt đăng: 15/3/2026

1. Đặt vấn đề

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của xã hội tri thức, năng lực tiếng Anh ngày càng trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với giáo dục đại học, tiếng Anh không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện quan trọng để tiếp cận tri thức khoa học quốc tế, thúc đẩy hợp tác học thuật, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu và kinh tế số, năng lực tiếng Anh trở thành kỹ năng thiết yếu giúp người học tiếp cận công nghệ mới, tham gia vào các mạng lưới tri thức toàn cầu và thích ứng với thị trường lao động quốc tế.

Nhận thức rõ vai trò của ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương và chính sách nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ cho người học. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lực người học gắn với hội nhập quốc tế. Kết luận số 91-KL/TW (2024) của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định định hướng “từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” [1]. Bên cạnh đó, các văn bản chiến lược như Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) và Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã đặt ra mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế của giáo dục đại học [2]. Đặc biệt, Quyết định số 2371/QĐ-TTg (2025) phê duyệt Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn 2045, tạo cơ sở chính sách quan trọng cho việc nâng cao năng lực tiếng Anh trong toàn bộ hệ thống giáo dục [3].

Mặc dù các định hướng chính sách đã được xác lập rõ ràng, việc triển khai dạy và học tiếng Anh trong các cơ sở giáo dục đại học vẫn đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến chương trình đào tạo, năng lực đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và việc ứng dụng công nghệ trong dạy học. Đồng thời, trong bối cảnh các trường đại học đang thúc đẩy quốc tế hóa và phát triển các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, việc đánh giá thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh ở quy mô hệ thống trở nên đặc biệt cần thiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung ở phạm vi từng cơ sở đào tạo hoặc từng chương trình cụ thể, trong khi các nghiên cứu có quy mô toàn hệ thống còn hạn chế.

Xuất phát từ khoảng trống đó, nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trên cơ sở dữ liệu khảo sát toàn quốc do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai. Thông qua việc phân tích các khía cạnh như chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và công tác quản lý, nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh trong giáo dục đại học Việt Nam. Chú trọng đào tạo nhân lực các trình độ của giáo dục đại học các lĩnh vực mới nổi, quan trọng như: công nghiệp đường sắt tốc độ cao, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn.

1.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Trước nhu cầu rõ ràng và các chính sách định hướng mạnh mẽ, các báo cáo và chỉ số quốc tế vẫn chỉ ra những hạn chế về năng lực tiếng Anh của lực lượng lao động Việt Nam, thể hiện qua thứ hạng thấp trong các bảng xếp hạng thông thạo ngoại ngữ và yêu cầu của nhà tuyển dụng. Khoảng cách năng lực tiếng Anh này không chỉ cản trở khả năng cạnh tranh của cá nhân và doanh nghiệp mà còn được xem là một nút thắt kinh tế, ảnh hưởng đến quá trình hội nhập và mục tiêu phát triển quốc gia. Sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của tiếng Anh đối với tương lai nghề nghiệp và học vấn, có nhu cầu cao về cả tiếng Anh tổng quát và chuyên ngành. Họ kỳ vọng vào phương pháp giảng dạy hiệu quả, cơ hội thực hành đầy đủ và đạt được trình độ thành thạo nhằm nâng cao khả năng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng làm việc sau khi tốt nghiệp.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học, phần lớn các công trình hiện có tập trung vào phương pháp giảng dạy, đánh giá năng lực người học hoặc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập ở quy mô nhỏ, tại một hoặc vài trường cụ thể [4]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Phương (2017) về thực trạng dạy học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ tại một số trường đại học miền Bắc chỉ ra những khó khăn về phương pháp giảng dạy và động lực học tập [5]. Lê Văn Canh và Barnard (2009) phân tích những thách thức trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong bối cảnh Việt Nam [6]. Tuy nhiên, thiếu vắng các nghiên cứu toàn diện, quy mô lớn về thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh trên phạm vi quốc gia, đặc biệt là nghiên cứu có tính so sánh giữa các loại hình trường và khu vực khác nhau.

Sự thiếu vắng này tạo ra khoảng trống nghiên cứu đáng kể trong việc hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về thực trạng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học Việt Nam. Các nhà hoạch định chính sách cần có bằng chứng thực nghiệm vững chắc để can thiệp phù hợp với đặc điểm của từng nhóm trường và khu vực. Các cơ sở đào tạo cần có cơ sở so sánh để đánh giá vị thế và học hỏi kinh nghiệm từ những mô hình thành công. Đội ngũ giảng viên cần được trang bị kiến thức về xu hướng chung và các thực hành tốt để cải tiến phương pháp giảng dạy.

1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

 Nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này và cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tổng quát là phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, với trọng tâm là phân tích so sánh giữa các loại hình trường và khu vực địa lý khác nhau.

Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Xu hướng phát triển các chương trình đào tạo tiếng Anh trong giai đoạn 2022-2025 như thế nào?

Có sự khác biệt gì về tổ chức dạy học tiếng Anh giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập hay không?

Sự khác biệt nào giữa các khu vực khác nhau về điều kiện, nguồn lực và kết quả dạy học tiếng Anh?

Những khó khăn, thách thức và giải pháp chủ yếu trong tổ chức dạy học tiếng Anh trong giai đoạn tới?

2. Nội dung nghiên cứu

 2.1. Tổng quan nghiên cứu

Quốc tế hóa giáo dục đại học được hiểu là quá trình tích hợp các yếu tố quốc tế, liên văn hóa và toàn cầu vào mục tiêu, chức năng và hoạt động của giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục [7]. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã trở thành xu hướng tất yếu, thúc đẩy các trường đại học mở rộng hợp tác quốc tế, phát triển chương trình đào tạo liên kết và tăng cường sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy và nghiên cứu [8].

Trong các chiến lược quốc tế hóa, giảng dạy bằng tiếng Anh (English Medium Instruction - EMI) được xem là một công cụ quan trọng. EMI được hiểu là việc sử dụng tiếng Anh để giảng dạy các môn học chuyên ngành tại các quốc gia mà tiếng Anh không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ [9]. Cách tiếp cận này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận tri thức chuyên môn trong môi trường học thuật quốc tế mà còn góp phần phát triển năng lực ngoại ngữ của người học. Tuy nhiên, việc triển khai EMI đòi hỏi sinh viên phải có nền tảng tiếng Anh vững chắc, do đó các chương trình tiếng Anh tăng cường đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị năng lực ngôn ngữ cho sinh viên trước khi tham gia các môn học chuyên ngành bằng tiếng Anh.

Khung tham chiếu chung châu Âu về ngôn ngữ (CEFR) cung cấp hệ thống mô tả các cấp độ thành thạo ngôn ngữ từ A1 đến C2 và được sử dụng rộng rãi trong thiết kế chương trình đào tạo, đánh giá năng lực ngoại ngữ và phát triển tài liệu giảng dạy [10]. Tại Việt Nam, Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (VSTEP) được xây dựng trên cơ sở tham chiếu CEFR và chia năng lực ngoại ngữ thành 6 bậc tương ứng với các cấp độ từ thấp đến cao [11].

Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sinh viên tốt nghiệp đại học cần đạt tối thiểu bậc 3/6 theo Khung VSTEP (tương đương B1 theo CEFR), trong khi nhiều chương trình đào tạo chất lượng cao hoặc chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh yêu cầu bậc 4/6 (B2) hoặc cao hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước hiện nay chủ yếu được thực hiện ở quy mô nhỏ và chưa phản ánh đầy đủ bức tranh tổng thể về tổ chức dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu này phân tích dữ liệu từ 92 cơ sở giáo dục đại học nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo tiếng Anh trong bối cảnh quốc tế hóa giáo dục đại học.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả - phân tích nhằm phản ánh thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam. Phương pháp hỗn hợp được áp dụng trong phân tích dữ liệu thứ cấp, kết hợp giữa phân tích định lượng (thống kê mô tả, so sánh các chỉ số) và phân tích định tính (phân tích nội dung) để làm rõ các đặc điểm và xu hướng của vấn đề nghiên cứu.

Dữ liệu được thu thập từ khảo sát toàn quốc của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 về tổ chức dạy học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy học tiếng Anh tại các cơ sở giáo dục đại học và trường cao đẳng sư phạm. Sau khi sàng lọc, nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 92 cơ sở đào tạo, gồm 84 cơ sở giáo dục đại học và 8 trường cao đẳng sư phạm; trong đó có 75% cơ sở công lập, 24% tư thục và 1% cơ sở nước ngoài.

Nội dung khảo sát tập trung vào các nhóm thông tin chính: chương trình đào tạo tiếng Anh, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, công tác quản lý và tổ chức dạy học, đánh giá thực trạng và đề xuất kiến nghị. Dữ liệu định lượng được xử lý bằng thống kê mô tả và phân tích so sánh, trong khi dữ liệu định tính được phân tích bằng phân tích nội dung nhằm làm rõ bối cảnh và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng dạy học tiếng Anh.

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Xu hướng phát triển các chương trình đào tạo tiếng Anh giai đoạn 2022-2025

 Kết quả phân tích dữ liệu từ 92 cơ sở đào tạo cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ và đa dạng của các chương trình đào tạo tiếng Anh trong giai đoạn 2022 - 2025. Đối với chương trình đào tạo Ngôn ngữ Anh, số lượng chương trình tăng từ 70 (2022 - 2023) lên 75 (2024 - 2025), tương ứng tốc độ tăng trưởng 107%, với số lượng sinh viên tăng từ 40.981 lên 45.440 sinh viên tăng 111%. Sự tăng trưởng ổn định này phản ánh nhu cầu cao về đào tạo chuyên sâu tiếng Anh từ thị trường lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực biên phiên dịch, giảng dạy, truyền thông và các dịch vụ ngôn ngữ khác.

Nổi bật hơn là chương trình tiếng Anh tăng cường, với số lượng chương trình tăng gần gấp đôi từ 117 (2022 - 2023) lên 224 (2024 - 2025), tốc độ tăng trưởng 191%. Số lượng sinh viên tham gia các chương trình này cũng tăng mạnh từ 65.693 lên 84.818, tăng 129%. Sự tăng trưởng đột phá này cho thấy các trường đại học đang tích cực đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ, phù hợp với định hướng chính sách đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Số lượng chương trình đào tạo ngành khác có giảng dạy bằng tiếng Anh cũng tăng trưởng ấn tượng từ 324 lên 399 chương trình tăng 123%, với số lượng sinh viên tăng từ 78.267 lên 82.413. Xu hướng này minh chứng cho nỗ lực quốc tế hóa giáo dục đại học, khi các trường ngày càng chú trọng phát triển các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận kiến thức chuyên ngành theo tiêu chuẩn quốc tế.

Riêng chương trình Sư phạm tiếng Anh duy trì ổn định với 17-18 chương trình và khoảng 6.100 - 6.200 sinh viên qua các năm, cho thấy sự cân bằng giữa cung và cầu trong lĩnh vực đào tạo giáo viên tiếng Anh. Mặc dù không có sự tăng trưởng đột biến, sự ổn định này phản ánh nhu cầu ổn định về giáo viên tiếng Anh cho hệ thống giáo dục phổ thông và các trung tâm ngoại ngữ.

Bảng1. Thống kê số lượng các CTĐT tiếng Anh của cơ sở đào tạo (n=92)

Thống kê CTĐT

Năm học

Tốc độ tăng trưởng

2022-2023

2023 -2024

2024 -2025

CTĐT Ngôn ngữ Anh

Số lượng CTĐT

70

71

75

107%

Số lượng SV

40.981

42.424

45.440

111%

CTĐT Sư phạm tiếng Anh

Số lượng CTĐT

18

16

17

94%

Số lượng SV

6.194

6.211

6.145

99%

CTĐT ngành khác có giảng dạy bằng tiếng Anh

Số lượng CTĐT

324

363

399

123%

Số lượng SV

78.267

79.969

82.413

105%

Chương trình tiếng Anh tăng cường

Số lượng CTĐT

117

202

224

191%

Số lượng SV

65.693

77.470

84.818

129%

2.3.2. Đặc điểm đội ngũ giảng viên và năng lực tiếng Anh

Phân tích về đội ngũ giảng viên cho thấy 92 cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục đại học có tổng số 4.607 giảng viên giảng dạy tiếng Anh và tiếng Anh chuyên ngành, cùng 3.708 giảng viên giảng dạy các học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh. Về trình độ chuyên môn, đội ngũ giảng dạy tiếng Anh có 608 tiến sĩ (13,2%), 2.417 thạc sĩ (52,4%) và 182 cử nhân (3,9%). Trong khi đó, đội ngũ giảng dạy các học phần chuyên ngành bằng tiếng Anh có trình độ cao hơn với 1.787 tiến sĩ (48,2%), 1.825 thạc sĩ (49,2%), cho thấy yêu cầu về chuyên môn sâu đối với nhóm giảng viên này.

Về năng lực tiếng Anh, có 1.429 giảng viên dạy tiếng Anh (31%) và 2.006 giảng viên dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh (54%) có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, phản ánh nỗ lực nâng cao năng lực đội ngũ nhưng vẫn còn khoảng cách đáng kể cần thu hẹp. Đặc biệt đối với giảng viên dạy tiếng Anh, tỷ lệ 31% có chứng chỉ quốc tế cho thấy vẫn còn gần 70% giảng viên chưa có chứng chỉ được công nhận quốc tế như IELTS, TOEFL, TOEIC hoặc các chứng chỉ giảng dạy như TESOL, CELTA. Đối với chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, con số tương ứng là 2.807 (61%) và 3.050 (82,2%), cho thấy đội ngũ giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh có tỷ lệ được trang bị kỹ năng sư phạm cao hơn.

Bảng 2. Thống kê số lượng đội ngũ giảng viên giảng dạy tiếng Anh năm học 2024-2025 tại các cơ sở đào tạo tham gia khảo sát

Đội ngũ giảng viên

Giảng viên giảng dạy tiếng Anh, tiếng Anh chuyên ngành

Giảng viên giảng dạy các học phần chuyên ngành khác bằng tiếng Anh

GV cơ hữu

4042

3194

GV thỉnh giảng

565

514

Giáo sư

13

43

Phó Giáo sư

65

234

Tiến sĩ/TSKH

608

1787

Thạc

2417

1825

Cử nhân

182

58

GV có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế

1429

2006

GV có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm

2807

3050

2.3.3. Đặc điểm sinh viên trong các chương trình đào tạo tiếng Anh

 Dữ liệu từ 68 câu trả lời hợp lệ cung cấp những thông tin quan trọng về đặc điểm của sinh viên theo học các chương trình đào tạo tiếng Anh. Về đặc điểm đầu vào, sinh viên có trình độ ngoại ngữ không đồng đều là vấn đề nổi bật được nhiều trường đề cập. Sự chênh lệch này tồn tại ở cả sinh viên chuyên ngữ và không chuyên ngữ, tạo ra những thách thức đáng kể trong công tác giảng dạy. Đặc điểm khu vực cũng ảnh hưởng rõ rệt đến trình độ đầu vào, với sinh viên đến từ các khu vực có điều kiện tiếp cận tiếng Anh còn hạn chế thường có trình độ đầu vào thấp hơn, đặc biệt ở kỹ năng nghe nói và phát âm.

Về khả năng học tập và mức độ tự tin, khả năng tiếp thu ngoại ngữ của sinh viên cũng không đồng đều, ảnh hưởng bởi nền tảng kiến thức từ bậc phổ thông và ý thức học tập. Sinh viên có xu hướng quen với mô hình học chú trọng ngữ pháp và chưa mạnh về phản xạ giao tiếp. Tuy nhiên, nhiều trường ghi nhận sinh viên có những đặc điểm tích cực như năng động, sáng tạo, có tư duy hội nhập quốc tế, khả năng tiếp thu và ứng dụng linh hoạt. Về ý thức và động lực học tập, ý thức học tập của một bộ phận sinh viên còn chưa cao do chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của tiếng Anh. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Anh trong bối cảnh hội nhập và sẵn sàng tham gia các hoạt động học tập, ngoại khóa để nâng cao trình độ.

2.3.4. Cơ sở vật chất và tài liệu học tập

 Dữ liệu từ 79 câu trả lời hợp lệ về thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy cho thấy sự quan tâm đầu tư đáng kể. Nhìn chung, hầu hết các trường đều đã trang bị những cơ sở vật chất cơ bản phục vụ giảng dạy tiếng Anh. Các phòng học lý thuyết phổ biến được lắp đặt máy chiếu, hệ thống âm thanh, kết nối Internet bằng wifi, điều hòa và ánh sáng đầy đủ. Theo thống kê, trung bình mỗi trường có 74 phòng học từ 50-200 chỗ, 50 phòng học dưới 50 chỗ, 13 phòng máy tính, 13 phòng ngoại ngữ, 12 phòng đa năng và 436 máy vi tính.

Về tài liệu học tập, kết quả khảo sát cho thấy trung bình mỗi trường có 291 đầu giáo trình, hiện có tại thư viện 623 đầu giáo trình, 136 bài giảng và 709 tài liệu tham khảo. Con số này cho thấy các trường đã chú trọng xây dựng kho tài liệu phục vụ dạy học, với số lượng giáo trình hiện có đảm bảo sự đa dạng và phong phú cho việc lựa chọn tài liệu giảng dạy. Nhiều trường áp dụng phương pháp kết hợp cả biên soạn và lựa chọn, bổ sung các tài liệu tham khảo, học liệu mở, tài liệu số hóa để làm phong phú thêm nguồn học liệu. 

Bảng 3. Thực trạng giáo trình, tài liệu giảng dạy năm học 2024 - 2025 tại các cơ sở đào tạo tham gia khảo sát

Giáo trình, tài liệu giảng dạy

Số lượng

Số câu trả lời hợp lệ

Tỷ lệ TB/trường

Giáo trình cần có

18925

65

291

Giáo trình hiện có tại thư viện

44875

72

623

Bài giảng hiện có

8316

61

136

Tài liệu tham khảo hiện có

48894

69

709

2.3.5. So sánh giữa trường công lập và tư thục

 Phân tích so sánh cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm trường. Về đội ngũ giảng viên, các trường công lập lớn thường có lợi thế về quy mô và trình độ học vị, với tỷ lệ tiến sĩ, phó giáo sư cao hơn và nhiều giảng viên có kinh nghiệm học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Các trường này cũng có hệ thống đào tạo, bồi dưỡng giảng viên bài bản và ổn định. Ngược lại, các trường tư thục thể hiện sự linh hoạt trong tuyển dụng, chú trọng vào năng lực thực hành và kinh nghiệm quốc tế của giảng viên, với tỷ lệ giảng viên có chứng chỉ quốc tế cao như Ielts, Tesol, Celta.

Về cơ sở vật chất, các trường công lập lớn có quy mô hạ tầng tổng thể lớn hơn, tuy nhiên một số trường tư thục được đầu tư tốt lại dẫn đầu về mức độ hiện đại hóa, với các phòng học thông minh, hệ thống công nghệ tiên tiến. Về phương pháp triển khai, các trường công lập thường tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Bộ, có quy trình chuẩn hóa cao, trong khi các trường tư thục linh hoạt hơn trong việc thử nghiệm các mô hình mới như lớp học đảo ngược, học tập dựa trên dự án và các chương trình liên kết quốc tế.

2.3.6. So sánh theo khu vực

 Sự chênh lệch giữa các khu vực thể hiện rõ nét qua nhiều khía cạnh. Các trường ở thành phố lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) có lợi thế vượt trội về cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ giảng viên chất lượng cao và khả năng tiếp cận công nghệ mới. Sinh viên ở các khu vực này thường có trình độ tiếng Anh đầu vào tốt hơn, được tiếp cận môi trường thực hành ngôn ngữ phong phú qua các câu lạc bộ, sự kiện quốc tế và cơ hội giao lưu với người nước ngoài. Các trường tại đây cũng dễ dàng thu hút giảng viên có trình độ cao và triển khai các chương trình hợp tác quốc tế.

Ngược lại, các trường ở các tỉnh, đặc biệt là khu vực núi, Tây Nguyên và các vùng khó khăn, đối mặt với nhiều thách thức. Trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên thấp và không đồng đều, đặc biệt yếu về kỹ năng nghe - nói. Cơ sở vật chất còn hạn chế với trang thiết bị cũ, thiếu phòng học chuyên dụng. Khó khăn trong việc thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ cao do mức lương thấp hơn và cơ hội phát triển nghề nghiệp hạn chế. Môi trường thực hành tiếng Anh nghèo nàn do ít cơ hội giao tiếp với người nước ngoài và thiếu các hoạt động ngoại khóa chất lượng.

2.3.7. Khó khăn và thách thức

 Phân tích dữ liệu định tính từ 82 cơ sở đào tạo xác định bốn nhóm khó khăn chính:

Thứ nhất là vấn đề trình độ đầu vào không đồng đều, được 76 trường (92,7%) đề cập như khó khăn lớn nhất. Sự chênh lệch lớn về kiến thức nền tảng và kỹ năng ngôn ngữ giữa các nhóm sinh viên gây khó khăn nghiêm trọng cho việc tổ chức lớp học và đảm bảo chuẩn đầu ra. Nhiều sinh viên từ vùng nông thôn, miền núi có nền tảng tiếng Anh rất yếu, trong khi sinh viên từ thành phố lớn đã đạt trình độ B1-B2.

Thứ hai là thiếu giảng viên có trình độ cao, được 58 trường (70,7%) báo cáo. Các trường gặp khó khăn trong việc tuyển dụng giảng viên có bằng tiến sĩ, trình độ tiếng Anh C1- C2 và kinh nghiệm quốc tế do cạnh tranh gay gắt từ các trường lớn và khu vực tư nhân. Vấn đề nghiêm trọng hơn đối với giảng viên dạy các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh, đòi hỏi vừa có chuyên môn sâu vừa có năng lực tiếng Anh xuất sắc.

Thứ ba là hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất, được 65 trường (79,3%) nêu lên. Nguồn kinh phí hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư trang thiết bị hiện đại, xây dựng phòng lab chuyên dụng và mua bản quyền phần mềm, học liệu số. Nhiều trường báo cáo tình trạng trang thiết bị cũ, xuống cấp, không đủ đáp ứng nhu cầu dạy học với số lượng sinh viên ngày càng tăng.

Thứ tư là năng lực số của đội ngũ chưa đồng đều, được 53 trường (64,6%) đề cập. Mặc dù nhiều trường đã đầu tư vào công nghệ, một bộ phận giảng viên, đặc biệt là giảng viên lớn tuổi, gặp khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy. Thiếu các chương trình đào tạo chuyên sâu về sư phạm số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học ngoại ngữ cũng là rào cản đáng kể.

3. Kết luận

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn tổng thể về thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam giai đoạn 2022 - 2025. Kết quả cho thấy các cơ sở giáo dục đại học đang từng bước mở rộng các chương trình tiếng Anh tăng cường và các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, qua đó góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ cho sinh viên và thúc đẩy quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học.

Phân tích so sánh cho thấy sự khác biệt nhất định giữa các loại hình cơ sở giáo dục đại học. Các trường công lập có lợi thế về quy mô đội ngũ và tính hệ thống trong quản lý, trong khi các trường ngoài công lập thể hiện tính linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh. Tuy nhiên, cả hai nhóm trường đều gặp những thách thức chung như trình độ đầu vào không đồng đều của sinh viên và sự thiếu hụt giảng viên có năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa các khu vực về nguồn lực và điều kiện đào tạo cũng là vấn đề đáng chú ý.

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho các nghiên cứu về tổ chức dạy học tiếng Anh và quốc tế hóa giáo dục đại học trong bối cảnh Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở tham khảo cho việc hoạch định chính sách và cải thiện chất lượng đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục đại học.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, cần xây dựng chính sách tổng thể nhằm phát triển năng lực tiếng Anh trong giáo dục đại học, đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các cơ sở giáo dục ở khu vực khó khăn. Các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng chiến lược phát triển năng lực tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tiễn, chú trọng phát triển đội ngũ giảng viên và tăng cường các chương trình hỗ trợ sinh viên có trình độ đầu vào còn hạn chế.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp nên có thể tồn tại sự khác biệt về mức độ chi tiết và độ chính xác giữa các nguồn thông tin. Bên cạnh đó, nghiên cứu chủ yếu mô tả thực trạng tại một thời điểm nên chưa đánh giá được tác động dài hạn của các chương trình đào tạo. Các nghiên cứu tiếp theo cần tiếp tục phân tích sâu hơn về hiệu quả của các mô hình dạy học tiếng Anh và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực ngoại ngữ của sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam.

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bộ Chính trị (2024), Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hà Nội.

[2]. Thủ tướng Chính phủ (2024), Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.

[3]. Văn phòng Chính phủ (2025), Công văn số 714/VPCP-KGVX ngày 25/01/2025 về xây dựng Đề án quốc gia từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, Hà Nội.

[4]. Lê Thị Bình (2024), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh chuyên ngành, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 315 (2), tr. 42-44.

[5]. Võ Tú Anh (2024), Nghiên cứu thực trạng dạy học tiếng Anh ở các trường đại học không chuyên ngữ, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 308(1), tr. 40-42.

[6]. Le, V. C., & Barnard, R. (2009), Curricular innovation behind closed classroom doors: A Vietnamese case study, Prospect, 24(2), 20-33.

[7]. Knight, J. (2004), Internationalization Remodeled: Definition, Approaches, and Rationales, Journal of Studies in International Education, 8(1), 5-31.

[8]. Altbach, P. G., & Knight, J. (2007), The Internationalization of Higher Education: Motivations and Realities, Journal of Studies in International Education, 11(3-4), 290-305.

[9]. Dearden, J. (2015), English as a Medium of Instruction - A Growing Global Phenomenon, British Council, London.

[10]. Council of Europe (2001), Common European Framework of Reference for Languages: Learning, Teaching, Assessment, Cambridge University Press, Cambridge.

[11]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam, Hà Nội.

 

 THE CURRENT STATE OF ENGLISH LANGUAGE TEACHING ORGANIZATION IN VIETNAMESE HIGHER EDUCATION INSTITUTIONS: A COMPARATIVE ANALYSIS BY INSTITUTION TYPE AND REGION

 

Pham Thi Hoa

Department of Higher Education, Ministry of Education and Training of Vietnam

 

Abstract:

In the context of Vietnam’s deepening international integration and the national policy of gradually introducing English as a second language in schools, improving the quality of English language teaching in higher education has become a strategic priority. This study provides a comprehensive analysis of the current organization of English language teaching at 92 Vietnamese higher education institutions during the period 2022 - 2025, based on nationwide survey data collected by the Ministry of Education and Training under Official Dispatch No. 662/BGDĐT-GDDH dated February 19, 2025 regarding the implementation of English language teaching and digital transformation in English teaching at higher education institutions and teacher training colleges. The study employs a secondary data analysis approach, combining descriptive statistics and comparative analysis.

The findings indicate a significant increase in English-related training programs, with enhanced English programs rising by 191% and English-medium instruction (EMI) programs increasing by 123%, reflecting strong efforts toward the internationalization of higher education. However, the results also reveal notable disparities between public and private higher education institutions, as well as regional differences in terms of faculty capacity, academic qualifications, resource availability, and the application of educational technologies in teaching. Major challenges include uneven English proficiency among incoming students, a shortage of highly qualified instructors, and limitations in financial resources and facilities.

Based on these findings, the study proposes policy-relevant recommendations tailored to different groups of institutions, thereby providing empirical evidence to support policy formulation and the improvement of foreign language capacity in Vietnam’s higher education system.

Keywords: English language teaching; Higher education; Intensive English programs; Education internationalization; Comparison by institution type.

 

Ý kiến bạn đọc
VẬN DỤNG PHƯƠNG CHÂM “HAI KIÊN ĐỊNH, HAI ĐẨY MẠNH VÀ HAI NGĂN NGỪA” TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
Lê Minh Tân Hệ 1, Học viện Chính trị   Tóm tắt: Học viện Chính trị là một trong những trung tâm hàng đầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự của quân đội và quốc gia. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong giai đoạn hiện nay, khi mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên chống phá Đảng và nhà nước ta, thì việc vận dụng phương châm “hai kiên định, hai đẩy mạnh và hai ngăn ngừa” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng; Học viện Chính trị; hai kiên định; hai đẩy mạnh; hai ngăn ngừa; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).