1. Tư vấn phản biện
  2. >
  3. Bài báo khoa học

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC

10:21 | 27/11/2025
aA

Nguyễn Thanh Sơn - Trường Đại học Trưng Vương

Email: [email protected] 

Phạm Thị Hoa - Vụ giáo dục đại học

Email: [email protected]

Hoàng Mộng Long - Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết này phân tích những thách thức và thực trạng trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học tư thục (ĐHTT) Việt Nam. Với nguồn lực tài chính hạn chế, các trường ĐHTT gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút, giữ chân và tạo điều kiện phát triển cho giảng viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng với phỏng vấn sâu các nhà quản lý, giảng viên chủ chốt. Kết quả cho thấy các yếu tố về đãi ngộ tài chính, môi trường làm việc học thuật, cơ hội phát triển chuyên môn và sự công nhận đóng vai trò quan trọng trong quyết định làm việc của giảng viên. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một khung mô hình quản trị nhân sự toàn diện phù hợp với đặc thù và khả năng của các trường ĐHTT Việt Nam.

Từ khóa: đại học tư thục, đội ngũ giảng viên, quản trị nhân sự, thu hút nhân tài, giữ chân nhân tài, phát triển giảng viên

Nhận bài: 25/11/2025; Biên tập: 27/11/2025; Duyệt đăng: 27/11/2025

1. Đặt vấn đề

Chất lượng giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của một quốc gia và đội ngũ giảng viên là nền tảng quyết định chất lượng này [9]. Tại Việt Nam, các ĐHTT đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học, được thúc đẩy bởi các chính sách xã hội hóa giáo dục và tự chủ đại học (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013). Tính đến năm 2023, Việt Nam có khoảng 60 trường ĐHTT, chiếm khoảng 25% tổng số cơ sở giáo dục đại học, phục vụ hơn 300.000 sinh viên [2]. Tuy nhiên, các trường này đối mặt với nhiều thách thức lớn trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao, yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh.

Các trường ĐHTT tại Việt Nam hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, không chỉ với các trường công lập có uy tín lâu đời mà còn với khu vực doanh nghiệp, nơi cung cấp mức lương và cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn hơn [6]. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2024), chỉ khoảng 20% giảng viên tại các trường ĐHTT có trình độ tiến sĩ, so với 35% tại các trường công lập, cho thấy sự chênh lệch về trình độ. Ngoài ra, các trường ĐHTT thường bị hạn chế về nguồn lực tài chính, khiến việc cung cấp mức lương cạnh tranh hoặc đầu tư vào phát triển chuyên môn gặp nhiều khó khăn. Những thách thức này càng trở nên nghiêm trọng hơn do các trường ĐHTT thiếu môi trường học thuật và cơ hội nghiên cứu hạn chế, khiến các giảng viên giỏi ngần ngại gia nhập hoặc ở lại.

Vai trò của giảng viên trong giáo dục đại học không chỉ giới hạn ở việc giảng dạy mà còn bao gồm nghiên cứu, phục vụ cộng đồng. Chất lượng giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của sinh viên, uy tín của nhà trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế, vốn ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập giáo dục toàn cầu [9]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về quản trị đội ngũ tại các trường ĐHTT Việt Nam còn rất hạn chế, với phần lớn tài liệu tập trung vào các trường công lập hoặc xu hướng giáo dục đại học chung [6]. Khoảng trống này nhấn mạnh sự cần thiết của một nghiên cứu toàn diện, phù hợp với bối cảnh đặc thù của các trường ĐHTT.

2. Tổng quan nghiên cứu

Quản trị nhân sự chiến lược (QTNSCL) tập trung vào việc liên kết các thực tiễn nhân sự với mục tiêu tổ chức để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Trong giáo dục đại học, QTNSCL nhấn mạnh việc tuyển dụng, phát triển và giữ chân giảng viên để đạt được mục tiêu học thuật và các mục tiêu thể chế [12]. QTNSCL tích hợp các chính sách nhân sự với kế hoạch chiến lược, đảm bảo rằng phát triển giảng viên phù hợp với sứ mệnh và tầm nhìn của nhà trường.

Trong các trường ĐHTT, QTNSCL đặc biệt thách thức do hạn chế về nguồn lực và phải cạnh tranh với các trường công lập được hưởng nguồn tài trợ ổn định từ chính phủ và uy tín lâu đời. Các trường ĐHTT Việt Nam cần áp dụng các thực tiễn QTNSCL phù hợp khả năng và bối cảnh, cân bằng giữa hạn chế tài chính và nhu cầu thu hút, giữ chân giảng viên chất lượng cao [6].

Tổng quan các nghiên cứu đã chỉ ra 5 yếu tố quan trọng trong quản trị đội ngũ trong giáo dục đại học được đề cập như: (1)  Đãi ngộ tài chính; (2) Môi trường làm việc học thuật; (3) Cơ hội phát triển chuyên môn; (4) Công nhận và thăng tiến nghề nghiệp; (5) Lãnh đạo và văn hóa tổ chức.

Tại Việt Nam, các trường ĐHTT đối mặt với các rào cản, bao gồm nhận thức xã hội về chất lượng thấp hơn so với trường công lập và các ràng buộc pháp lý về tự chủ [23]. Các nghiên cứu tình huống về các trường ĐHTT thành công như RMIT Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách nhân sự rõ ràng, hợp tác quốc tế và các chương trình phát triển giảng viên [6].

Mặc dù tài liệu trong nước và quốc tế cung cấp nhiều hiểu biết sâu sắc về quản trị đội ngũ nhưng các nghiên cứu đặc thù về các trường ĐHTT Việt Nam còn hạn chế. Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các trường công lập hoặc xu hướng giáo dục đại học chung, bỏ qua các thách thức riêng biệt của các trường tư thục, như hạn chế nguồn lực và cạnh tranh với khu vực doanh nghiệp. Ngoài ra, thiếu các khung quản trị nhân sự toàn diện được thiết kế riêng cho bối cảnh các trường ĐHTT Việt Nam, đặc biệt là những khung tích hợp các chiến lược tài chính và phi tài chính. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy các khoảng trống này bằng cách đề xuất một mô hình quản trị nhân sự dựa trên dữ liệu thực nghiệm.

Hình 1: Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng

Nguồn: Tổng hợp từ tác giả

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận thực chứng, sử dụng phương pháp hỗn hợp để hiểu toàn diện vấn đề phức tạp của việc phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường ĐHTT Việt Nam. Phương pháp hỗn hợp kết hợp các điểm mạnh của phương pháp định lượng và định tính, mang lại những hiểu biết phong phú và đáng tin cậy hơn [4].

Trong giai đoạn định lượng, nghiên cứu khảo sát giảng viên tại các trường ĐHTT để xác định xu hướng, đo lường tác động của các yếu tố và kiểm định các mối quan hệ giả thuyết. Đối tượng là giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng có thời gian công tác từ 1 năm trở lên tại các trường ĐHTT Việt Nam. Mẫu cho nghiên cứu có chủ đích kết hợp với chọn mẫu thuận tiện có kiểm soát, phân tầng theo vùng miền (Bắc, Trung, Nam), quy mô trường (lớn, vừa, nhỏ) và loại hình đào tạo chính.

Ở giai đoạn định tính, nghiên cứu phỏng vấn sâu với các nhà quản lý và giảng viên chủ chốt, bổ sung bằng nghiên cứu tình huống tại các trường ĐHTT, để giải thích và làm rõ các phát hiện định lượng. Đối tượng phỏng vấn bao gồm lãnh đạo trường, trưởng phòng nhân sự, giảng viên kỳ cựu, giảng viên trẻ tiềm năng và cựu giảng viên (Khoảng 20–25 người). Chọn có chủ đích 2–3 trường ĐHTT có thực tiễn quản trị nhân sự nổi bật, dựa trên uy tín, quy mô, chính sách nhân sự và sự hợp tác của nhà trường.

Nghiên cứu sử dụng phần mềm Smart PLS4 để phân tích dữ liệu, kết hợp kết quả định tính để làm rõ và minh hoạ các kết quả thống kê [13].

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Đặc điểm

Giá trị

Số lượng giảng viên

300

Giới tính

55% nam, 45% nữ

Tuổi trung bình (SD)

38,5 (8,2)

Trình độ

25% tiến sĩ, 60% thạc sĩ, 15% cử nhân

Thâm niên trung bình (SD)

10,2 (5,5)

Lĩnh vực

30% kinh tế/quản trị, 25% kỹ thuật/công nghệ, 20% khoa học xã hội/nhân văn, 25% khác

Loại hợp đồng

70% cơ hữu, 30% thỉnh giảng

Nguồn: Thống kê từ mẫu nghiên cứu

Mẫu khảo sát từ 300 giảng viên từ 20 trường ĐHTT, với 55% nam, 45% nữ; tuổi trung bình 38,5 (SD = 8,2); trình độ: 25% tiến sĩ, 60% thạc sĩ, 15% cử nhân; thâm niên 10,2 năm (SD = 5,5); 70% cơ hữu, 30% thỉnh giảng. Mẫu đại diện cho sự đa dạng giới tính và vùng miền (Bắc, Trung, Nam), phản ánh thực trạng nhân sự tại ĐHTT Việt Nam.

4.2. Kết quả định lượng

Bảng 2: Đánh giá của giảng viên về các yếu tố thu hút, giữ chân và phát triển

Yếu tố

Trung bình (M)

Độ lệch chuẩn (SD)

Công nhận đóng góp

2,9

1,0

Lộ trình thăng tiến

2,8

1,1

Hài lòng chung

3,5

0,8

Ý định tìm việc khác (1-2 năm tới)

30%

-

Nguồn: Dữ liệu phân tích bằng phần mềm SmartPLS4

Bảng trên cho thấy Công nhận đóng góp (M = 2,9, SD = 1,0), lộ trình thăng tiến (M = 2,8, SD = 1,1), hài lòng chung (M = 3,5, SD = 0,8), 30% ý định nghỉ việc, chứng tỏ mức hài lòng thấp ở công nhận và thăng tiến.

Bảng 3: Hồi quy đa biến - Các yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng công việc

Yếu tố

Hệ số hồi quy (β)

Mức ý nghĩa (p)

Giải thích phương sai (%)

Lương và phúc lợi

0,35

< 0,01

45%

Hỗ trợ từ lãnh đạo

0,28

< 0,01

 

Cơ hội phát triển

0,22

< 0,05

 

Công nhận

0,18

< 0,05

 

Nguồn: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SmartPLS4

Lương và phúc lợi (β = 0,35, p < 0,01), hỗ trợ lãnh đạo (β = 0,28, p < 0,01), cơ hội phát triển (β = 0,22, p < 0,05), công nhận (β = 0,18, p < 0,05); giải thích 45% phương sai cho thấy mô hình có tính dự đoán tốt, nhưng 55% còn lại cần nghiên cứu thêm.

Dữ liệu xử lý cho thấy Lương có ảnh hưởng mạnh nhất, nhưng các yếu tố khác cũng quan trọng. Điều này phù hợp với lý thuyết công bằng về vai trò của lương và sự công nhận.

Bảng 4: Hồi quy đa biến - Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định ở lại

Yếu tố

Hệ số hồi quy (β)

Mức ý nghĩa (p)

Giải thích phương sai (%)

Hài lòng công việc

0,40

< 0,01

50%

Cam kết tổ chức

0,30

< 0,01

 

Nhận thức công bằng đãi ngộ

0,20

< 0,05

 

Nguồn: Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SmartPLS4

Hài lòng công việc (β = 0,40, p < 0,01), cam kết tổ chức (β = 0,30, p < 0,01), nhận thức công bằng đãi ngộ (β = 0,20, p < 0,05); giải thích 50% phương sai cho thấy mô hình có dự đoán tốt. Hài lòng là yếu tố chính, cam kết tổ chức cũng quan trọng, điều này phù hợp với lý thuyết cam kết tổ chức.

4.3. Kết quả định tính

Phân tích chủ đề từ phỏng vấn và nghiên cứu tình huống xác định bốn chủ đề chính:

Chủ đề 1 - Áp lực tài chính và kỳ vọng công bằng. Giảng viên lo ngại về tính cạnh tranh của lương: “Lương ở trường tư nhỉnh hơn trường công, nhưng nếu không có thu nhập từ nghiên cứu hay dự án thì rất khó khăn, đặc biệt với giảng viên trẻ”; Quản lý thừa nhận hạn chế tài chính: “Chúng tôi cố gắng thưởng theo hiệu quả, nhưng ngân sách có hạn”.

Chủ đề 2 - Khát vọng môi trường học thuật thực sự. Giảng viên mong muốn tự do học thuật và giảm thủ tục: “Tôi muốn tập trung vào chuyên môn, không phải dành thời gian cho báo cáo và họp hành”; Các trường thường thành công khi đầu tư vào thư viện và hội thảo quốc tế.

Chủ đề 3 - Nhu cầu phát triển chuyên môn và lộ trình nghề nghiệp: Giảng viên trẻ cần đào tạo và hướng dẫn: “Tôi muốn học tiến sĩ nước ngoài hoặc có người hướng dẫn nghiên cứu, nhưng cơ hội ở trường còn hạn chế”; Lộ trình thăng tiến không rõ ràng gây thiếu động lực.

Chủ đề 4 - Vai trò lãnh đạo và văn hóa tổ chức: Lãnh đạo truyền cảm hứng thúc đẩy gắn bó: “Hiệu trưởng gần gũi, thường xuyên đối thoại, khiến chúng tôi cảm thấy được tôn trọng”; Lãnh đạo quan liêu gây bất mãn.

4.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu

Kết quả định tính làm phong phú các phát hiện định lượng. Hài lòng trung bình với cơ hội nghiên cứu (M = 3,1/5) được giải thích bởi các rào cản cụ thể như việc thiếu kinh phí cho nghiên cứu, quá tải giảng dạy và thiếu định hướng chiến lược. Công nhận đóng góp của giảng viên không chỉ là thưởng mà còn là tôn trọng ý kiến chuyên môn và cơ hội phát huy thế mạnh. Sự tích hợp này cung cấp bức tranh toàn diện về thách thức và mong muốn của giảng viên ĐHTT.

5. Thảo luận

5.1. Các yếu tố then chốt trong thu hút, giữ chân và phát triển giảng viên

Các phát hiện tái khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố được ghi nhận trong tài liệu quốc tế, đồng thời làm nổi bật các khía cạnh đặc thù tại Việt Nam:

Thứ nhất, lương và phúc lợi rất quan trọng nhưng không phải là quan trọng nhất đối với giảng viên [7]. Giảng viên kỳ vọng sự công bằng và minh bạch, phù hợp với lý thuyết công bằng. Hạn chế ngân sách đòi hỏi các trường ĐHTT sáng tạo trong đãi ngộ phi tài chính.

Thứ hai, môi trường hỗ trợ, hợp tác là cần thiết trong môi trường đào tạo và học thuật. Thiếu tự do học thuật và quan liêu tại một số trường ĐHTT cản trở gắn bó, nhấn mạnh nhu cầu xây dựng văn hóa học thuật sôi động [12].

Thứ ba, cơ hội đào tạo và nghiên cứu thúc đẩy động lực, đặc biệt với giảng viên trẻ [6]. Các trường ĐHTT cần ưu tiên phát triển để giữ chân nhân tài, vì cơ hội hạn chế đẩy giảng viên sang trường công hoặc doanh nghiệp [9].

Thứ tư, việc công nhận một cách công bằng và lộ trình thăng tiến rõ ràng làm tăng cam kết đối với giảng viên ở lại. Kết quả cho thấy cần các hệ thống đánh giá minh bạch để giải quyết bất mãn [7].

Thứ năm, lãnh đạo truyền cảm hứng và văn hóa tích cực thúc đẩy gắn bó giảng viên với trường. Phong cách lãnh đạo tập trung cần chuyển sang dân chủ hơn [6].

Các trường ĐHTT Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định, nhưng còn nhiều hạn chế như thiếu chiến lược dài hạn, chính sách thường mang tính đối phó; Triển khai không nhất quán, thiếu minh bạch trong đánh giá và thăng tiến; Quá tập trung vào tài chính ngắn hạn, ít đầu tư vào môi trường làm việc hoặc phát triển bền vững; Đánh giá hiệu quả còn hình thức, dựa vào số lượng hơn chất lượng; Chưa khai thác hết đãi ngộ phi tài chính, như hỗ trợ phát triển cá nhân hoặc hoạt động gắn kết.

Kết quả phù hợp với các mô hình QTNSCL, nhấn mạnh sự liên kết giữa thực tiễn nhân sự và mục tiêu tổ chức. Tuy nhiên, bối cảnh Việt Nam đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt. Các trường đại học quốc tế thành công như Đại học Quốc gia Singapore, đầu tư vào chiến lược nhân sự toàn diện, từ hỗ trợ nghiên cứu đến tự do học thuật là bài học cho các trường ĐHTT Việt Nam. Mô hình “Giáo sư Thực hành” có thể thu hút chuyên gia từ doanh nghiệp, nhưng cần cơ chế phù hợp.

5.2. Đề xuất mô hình quản trị

Dựa trên kết quả và tài liệu, nghiên cứu đề xuất Mô hình 5P nhằm nâng cao năng lực quản trị đội ngũ tại các trường ĐHTT Việt Nam:

Hình 2: Mô hình quản trị 5P

- Purpose (Mục đích): Nhà trường có sứ mệnh rõ ràng, liên kết chiến lược nhân sự với sứ mệnh và tầm nhìn nhà trường. Công bố kế hoạch chiến lược với sự tham gia của giảng viên; truyền thông mục tiêu sứ mệnh để tạo sự đồng thuận.

- People (Con người): Nhà trường lấy giảng viên làm trung tâm, xem giảng viên là tài sản quý giá, tập trung thu hút, phát triển và giữ chân. Xây dựng thương hiệu tuyển dụng; cá nhân hóa lộ trình nghề nghiệp; đa dạng chương trình đào tạo; thúc đẩy hỗ trợ phát triển cá nhân; hỗ trợ cân bằng giữa công việc và cuộc sống.

- Policies (Chính sách): Nhà trường xây dựng, thực hiện chính sách minh bạch và công bằng một cách đồng bộ. Lương thưởng gắn với hiệu quả công việc; đánh giá giảng viên dựa trên các tiêu chí cho phát triển; tiêu chí thăng tiến rõ ràng; cơ chế giải quyết khiếu nại công bằng.

- Performance (Hiệu suất): Tạo môi trường sáng tạo, môi trường học thuật chuyên nghiệp, khuyến khích đổi mới. Xây dựng văn hóa tôn trọng, hợp tác; nâng cao năng lực lãnh đạo; đầu tư cơ sở vật chất; thúc đẩy hợp tác trong và ngoài nước.

- Prosperity (Thịnh vượng): Phát triển bền vững, đảm bảo lợi ích chung cho giảng viên và nhà trường. Gắn kết lợi ích cá nhân và tổ chức; khuyến khích phục vụ cộng đồng; thường xuyên rà soát và điều chỉnh chính sách trong trường cho phù hợp xu thế tiến bộ của xã hội.

5.3. Hàm ý chính sách

Để thực hiện tốt việc thu hút và giữ chân giảng viên trong các trường ĐHTT, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có chính sách hỗ trợ đặc thù về chương trình đào tạo, quỹ nghiên cứu, công bằng chính sách đối với giảng viên giữa các trường công và trường tư; hoàn thiện khung pháp lý về tự chủ đại học.

Đối với lãnh đạo ĐHTT phải đặt ưu tiên phát triển giảng viên như đầu tư chiến lược; tham gia trực tiếp vào thiết kế chính sách nhân sự; xây dựng đội ngũ quản lý nhân sự chuyên nghiệp; tham gia hiệp hội các trường ĐHTT để có thể chia sẻ kiến thức và hợp tác trong nhiều lĩnh vực như nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng.

Hạn chế của nghiên cứu do mẫu nghiên cứu giới hạn ở một số trường ĐHTT, ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa. Dữ liệu định tính có thể chịu tác động từ tính chủ quan. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mẫu nghiên cứu; thực hiện nghiên cứu dọc để đánh giá tác động chính sách; so sánh mô hình nhân sự giữa ĐHTT và công lập; đánh giá hiệu quả các chính sách cụ thể.

6. Kết luận

Nghiên cứu này phân tích các thách thức và thực trạng trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học tư thục Việt Nam, một nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Sử dụng phương pháp hỗn hợp, bài viết nhận diện các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến thu hút, gắn bó và phát triển của giảng viên, đồng thời đánh giá hiệu quả các thực tiễn quản trị nhân sự hiện hành.

Kết quả cho thấy, đãi ngộ tài chính, môi trường làm việc học thuật, cơ hội phát triển chuyên môn, sự công nhận xứng đáng và vai trò của lãnh đạo hay văn hóa tổ chức đều có tác động mạnh mẽ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các hạn chế phổ biến, như thiếu chiến lược dài hạn, triển khai chính sách không nhất quán và chưa khai thác hiệu quả đãi ngộ phi tài chính.

Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình “5P”, cung cấp cách tiếp cận hệ thống và thực tiễn để các nhà quản lý ĐHTT xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao. Mô hình nhấn mạnh sự liên kết giữa mục tiêu nhà trường và lấy con người làm trung tâm, xây dựng chính sách minh bạch, môi trường sáng tạo và hướng đến phát triển bền vững.

Nghiên cứu đóng góp về quản trị giáo dục đại học tại Việt Nam, đặc biệt trong khu vực tư thục, mang lại các hàm ý thực tiễn để hỗ trợ lãnh đạo và nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển đội ngũ giảng viên. Các trường ĐHTT phải thực hiện cam kết mạnh mẽ, có tầm nhìn chiến lược và sự hợp tác từ tất cả các bên liên quan. Khi đó, các trường ĐHTT Việt Nam mới trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu chất lượng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển đất nước.

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2023). Báo cáo tổng kết năm học 2022-2023 và phương hướng, nhiệm vụ năm học 2023-2024 khối giáo dục đại học.

[3] Creswell, J. W. (2017). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches. Sage Publications.

[4] Creswell, J. W., & Plano Clark, V. L. (2017). Designing and conducting mixed methods research. Sage Publications.

[5] National statistics office of Viet Nam. (2024). Statistical yearbook of Vietnam 2023. Nhà xuất bản Thống kê.

[6] Lê Thị Huyền &Lê Hữu Châu. (2025). Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của giảng viên đại học ngoài công lập tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế Tài chính.

[7] Thái Thị Nho. (2025). Quản trị nguồn nhân lực xanh và động lực xanh của giảng viên các trường đại học tư thục tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và dự báo.

[8] Patton, M. Q. (2014). Qualitative research & evaluation methods: Integrating theory and practice (Tái bản lần 4). Sage Publications.

[9] Lê Tràng Định. (2010). Kinh tế học giáo dục. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.

[10] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2018). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật số 34/2018/QH14).

[11] Schein, E. H. (2010). Organizational culture and leadership. John Wiley & Sons..

[12] Shattock, M. (2010). Managing successful universities. McGraw-Hill Education (UK).

[13] Tashakkori, A., & Teddlie, C. (2010). Sage handbook of mixed methods in social & behavioral research. Sage Publications.

……………………………………………..

STRATEGIES FOR ATTRACTING, RETAINING, AND DEVELOPING FACULTY IN PRIVATE UNIVERSITIES

Abstract: This article analyzes the challenges and current situation in building and developing the faculty at private universities (ĐHTT) in Vietnam. With limited financial resources, these institutions face significant difficulties in attracting, retaining, and fostering the development of lecturers. The study employs a mixed-methods approach, combining quantitative surveys with in-depth interviews of key managers and lecturers. The findings indicate that financial remuneration, academic work environment, professional development opportunities, and recognition play crucial roles in lecturers' work decisions. Based on these insights, the article proposes a comprehensive human resource management framework tailored to the specific characteristics and capacities of Vietnamese private universities.

Keywords: private universities, faculty, human resource management, talent attraction, talent retention, faculty development

Ý kiến bạn đọc
GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DẠY HỌC CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 HIỆN NAY
ThS Bùi Văn Duy Khoa CTĐ, CTCT, Trường Sĩ quan Lục quân 1 Email tác giả: [email protected]       Tóm tắt: Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin chuyển đổi số  (CNTT - CĐS) trong dạy học cho giảng viên trẻ Trường Sĩ quan Lục quân 1 là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức và thường xuyên của các cấp lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng của Nhà trường, kết hợp với sự tích cực, chủ động tự học, tự rèn luyện của giảng viên trẻ, nhằm hình thành, củng cố và phát triển năng lực vận dụng sáng tạo, hiệu quả các tri thức, kỹ xảo, công cụ công nghệ thông tin chuyển đổi số vào quá trình dạy học quân sự. Từ khoá: Bồi dưỡng kỹ năng; ứng dụng công nghệ thông tin; chuyển đổi số; dạy học; giảng viên trẻ; Trường Sĩ quan Lục quân 1. Nhận bài: 9/12/2025; Duyệt 10/12/2025; Duyệt đăng: 10/12/2025.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).