1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TRONG NHÀ TRƯỜNG ĐẾN TỔ CHỨC THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG

09:33 | 29/11/2025
aA

 

Bùi Trần Công -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

 

Tóm tắt: Bài viết này tập trung phân tích thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động trong nhà trường đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Trong đó, chú trọng làm rõ vai trò của Ban Giám hiệu, đội ngũ giáo viên, các điều kiện đảm bảo, đặc điểm học sinh từng vùng, miền, từng cấp học và các yếu tố nội tại khác có liên quan, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai GDĐP trong thời gian tới.

Từ khóa: mức độ ảnh hưởng, các yếu tố tác động, nội dung giáo dục địa phương, nhà trường phổ thông

1. Đặt vấn đề

Giáo dục địa phương (GDĐP) là một cấu phần quan trọng trong Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất và năng lực học sinh gắn với đặc điểm văn hóa, lịch sử, môi trường sống của từng địa phương. GDĐP không chỉ trang bị cho học sinh những tri thức thiết thực về địa phương nơi các em đang sinh sống mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng.

Theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung GDĐP được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, giao quyền chủ động cho địa phương và nhà trường trong xây dựng và tổ chức thực hiện. Điều này tạo điều kiện để GDĐP phát huy tính đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, miền. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai GDĐP trong các nhà trường phổ thông hiện nay cho thấy còn tồn tại không ít khó khăn, bất cập. Trong đó, yếu tố nội tại của mỗi cơ sở giáo dục – bao gồm năng lực quản lý, chất lượng đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm học sinh, môi trường học đường,… – có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến hiệu quả tổ chức thực hiện nội dung GDĐP.

Mỗi yếu tố trong nhà trường đều có thể trở thành động lực thúc đẩy hoặc lực cản đối với quá trình triển khai GDĐP. Ban Giám hiệu với vai trò điều hành, định hướng; giáo viên với trách nhiệm tổ chức dạy học; cơ sở vật chất với chức năng hỗ trợ điều kiện thực hiện; và đặc điểm học sinh với tư cách là đối tượng trung tâm của giáo dục… tất cả đều tương tác và tác động lẫn nhau. Việc nhận diện đúng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nội dung GDĐP trong các nhà trường phổ thông.

2. Giáo dục địa phương

2.1. Khái niệm giáo dục địa phương

Giáo dục địa phương là phần nội dung do địa phương xây dựng, bổ sung vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm phản ánh đặc điểm văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế – xã hội của địa phương.

Như vậy có thể hiểu giáo dục địa phương là một bộ phận cấu thành trong Chương trình Giáo dục phổ thông, được xây dựng và triển khai bởi từng địa phương nhằm phản ánh đặc điểm văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế – xã hội của vùng miền nơi học sinh sinh sống. Nội dung này giúp học sinh hiểu rõ hơn về quê hương, từ đó hình thành tình yêu, sự gắn bó và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo dục địa phương là phần nội dung do UBND cấp tỉnh tổ chức biên soạn, phù hợp với đặc điểm vùng miền, được tích hợp vào các môn học hoặc hoạt động giáo dục. Được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12, đảm bảo tính kế thừa, phát triển và phù hợp với tâm lý lứa tuổi.

2.2. Đặc điểm của giáo dục địa phương:

Giáo dục địa phương có tính đặc thù riêng. Nó phản ánh bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán của từng địa phương.

Giáo dục địa phương được thiết kế rất linh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế, có thể điều chỉnh theo nhu cầu phát triển của địa phương.

Giáo dục địa phương có tính giáo dục cao. Giáo dục địa phương góp phần hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống và năng lực công dân cho học sinh.

2.3. Vai trò của Giáo dục địa phương trong Giáo dục phổ thông

Giáo dục địa phương không chỉ là phần bổ sung kiến thức về quê hương mà còn đóng vai trò chiến lược trong việc phát triển toàn diện học sinh. Dưới đây là những vai trò nổi bật:

- Gắn kết học sinh với cộng đồng và quê hương. Giáo dục địa phương giúp học sinh hiểu sâu sắc về lịch sử, văn hóa, địa lý, con người và truyền thống của địa phương. Tạo nền tảng để hình thành tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa.

- Phát triển năng lực cá nhân và năng lực xã hội. Giáo dục địa phương khơi gợi sự tò mò, khám phá và tư duy phản biện thông qua các vấn đề thực tiễn tại địa phương. Tăng cường năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề trong môi trường sống thực tế.

- Gắn kết nhà trường với cộng đồng. Giáo dục điak phương tạo điều kiện để nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tại địa phương trong quá trình giáo dục. Khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm, phục vụ cộng đồng, từ đó hình thành kỹ năng sống.

- Giáo dục địa phương làm phong phú nội dung chương trình giáo dục. Bổ sung những nội dung đặc thù mà chương trình quốc gia không thể bao quát hết. Tạo sự đa dạng, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm vùng miền trong dạy học.

- Giáo dục địa phương góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương. Thông qua các bài học về lễ hội, nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian… học sinh được tiếp cận và gìn giữ di sản văn hóa. Góp phần xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh, hiểu biết và có trách nhiệm với di sản quê hương.

3. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động trong nhà trường đến tổ chức thực hiện nội dung GDĐP

3.1. Tác động từ năng lực và phương thức quản lý của Ban Giám hiệu nhà trường.

Ban Giám hiệu nhà trường giữ vai trò trung tâm trong quản lý, điều hành mọi hoạt động giáo dục, trong đó có việc tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương (GDĐP). Năng lực và phương thức quản lý của Ban Giám hiệu không chỉ ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch GDĐP, phân công nhân sự, tổ chức thực hiện, mà còn quyết định đến hiệu quả, chất lượng và sự bền vững của chương trình GDĐP trong nhà trường.

- Năng lực xây dựng chiến lược và kế hoạch triển khai GDĐP. Ban Giám hiệu có nhiệm vụ cụ thể hóa các yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo thành các kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Việc xác định đúng mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, đối tượng tham gia và lộ trình triển khai GDĐP có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi của chương trình. Tuy nhiên, thực tế tại nhiều trường cho thấy, Ban Giám hiệu còn lúng túng trong khâu thiết kế kế hoạch và chưa xác định rõ nội dung trọng tâm của GDĐP. Một số trường vẫn sao chép kế hoạch từ năm trước hoặc làm mang tính hình thức, chưa bám sát đặc thù địa phương.

- Năng lực chỉ đạo và điều phối đội ngũ. Sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý và phù hợp với chuyên môn, năng lực của giáo viên sẽ phát huy được vai trò chủ động và sáng tạo trong quá trình triển khai GDĐP. Ban Giám hiệu cần xây dựng cơ chế khuyến khích, động viên giáo viên tích cực tham gia xây dựng học liệu, tổ chức hoạt động trải nghiệm và đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, việc giao nhiệm vụ GDĐP còn mang tính áp đặt, thiếu cơ chế hỗ trợ giáo viên nên dẫn đến tình trạng giáo viên làm việc đối phó, không phát huy được nội lực.

- Phương thức quản lý linh hoạt, dân chủ, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Một trong những yếu tố quan trọng trong quản lý GDĐP là tạo được môi trường làm việc dân chủ, nơi giáo viên được thể hiện ý tưởng và chủ động lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm học sinh và địa phương. Sự khuyến khích đổi mới sáng tạo sẽ góp phần làm phong phú nội dung GDĐP, đa dạng hình thức tổ chức dạy học, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại mô hình quản lý mang tính hành chính hóa, áp đặt từ trên xuống, chưa thực sự tạo điều kiện cho giáo viên được chủ động trong chuyên môn.

- Khả năng huy động và quản lý nguồn lực phục vụ GDĐP. Để tổ chức hiệu quả các hoạt động GDĐP, đặc biệt là các hoạt động thực tế, trải nghiệm tại địa phương, cần có sự hỗ trợ từ nhiều nguồn lực như tài chính, cơ sở vật chất, quan hệ với các tổ chức địa phương (bảo tàng, làng nghề, cơ sở sản xuất…). Ban Giám hiệu có vai trò quyết định trong việc xây dựng mối quan hệ hợp tác và vận động các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, không phải trường nào cũng có điều kiện thuận lợi về địa bàn hoặc khả năng kết nối, khiến việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm GDĐP bị hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng nội dung giảng dạy.

- Công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Ban Giám hiệu cần thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện GDĐP thông qua dự giờ, sinh hoạt chuyên môn, đối thoại với học sinh và phụ huynh để kịp thời điều chỉnh kế hoạch và nội dung cho phù hợp. Đây cũng là cơ sở để ghi nhận, biểu dương những mô hình hiệu quả, nhân rộng trong toàn trường. Tuy nhiên, công tác kiểm tra ở một số nơi chỉ dừng lại ở việc kiểm tra hồ sơ sổ sách, chưa đi sâu vào nội dung chuyên môn và chất lượng thực tế của việc học GDĐP.

Như vậy, năng lực và phương thức quản lý của Ban Giám hiệu nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thực hiện nội dung GDĐP. Thực trạng hiện nay cho thấy nhiều Ban Giám hiệu còn chưa chủ động, thiếu linh hoạt và chưa thực sự coi trọng GDĐP như một nhiệm vụ chiến lược. Điều này đòi hỏi cần tăng cường bồi dưỡng năng lực quản trị nhà trường, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, để đảm bảo việc triển khai GDĐP thực chất, hiệu quả và có chiều sâu.

3.2. Tác động từ năng lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên.

Giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện chương trình giáo dục địa phương (GDĐP) trong nhà trường. Họ không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động học tập gắn với thực tiễn địa phương. Do đó, năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên là yếu tố then chốt quyết định chất lượng và hiệu quả triển khai GDĐP.

- Năng lực chuyên môn và hiểu biết về địa phương. Nội dung GDĐP mang tính đặc thù cao, đòi hỏi giáo viên không chỉ vững về chuyên môn mà còn cần có kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế – xã hội… của địa phương. Giáo viên cần có khả năng: Nghiên cứu, thu thập, xử lý và chọn lọc thông tin từ các nguồn tài liệu địa phương; Thiết kế bài giảng và tài liệu dạy học phù hợp với từng cấp học; Tổ chức các hoạt động học tập linh hoạt, sáng tạo và hấp dẫn cho học sinh.

Thực tế hiện nay, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc thiết kế bài học GDĐP do thiếu tư liệu, chưa quen với việc xây dựng nội dung dạy học mới. Một số giáo viên còn lúng túng khi tích hợp kiến thức địa phương vào nội dung môn học hoặc tổ chức hoạt động trải nghiệm mang tính đặc thù vùng miền.

- Năng lực sư phạm và tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực. GDĐP yêu cầu phương pháp dạy học tích cực, chú trọng đến hoạt động học của học sinh, phát triển năng lực cá nhân, gắn với thực tiễn địa phương. Do đó, giáo viên cần có kỹ năng sư phạm tốt, biết lựa chọn và áp dụng các hình thức như: Tổ chức trò chơi học tập, dự án, hoạt động nhóm; Tổ chức tham quan thực tế tại di tích, làng nghề, doanh nghiệp; Lồng ghép kiến thức bản địa vào môn học chính khóa hoặc hoạt động trải nghiệm.

Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng được tập huấn đầy đủ để dạy GDĐP theo định hướng phát triển năng lực. Một số giáo viên vẫn dạy theo lối truyền thụ kiến thức một chiều, làm giảm hiệu quả giáo dục.

- Tinh thần trách nhiệm và thái độ tích cực trong thực hiện nhiệm vụ. Thành công của việc tổ chức GDĐP không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn mà còn nằm ở tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm và lòng yêu nghề của giáo viên. Khi giáo viên chủ động tìm hiểu thực tiễn, tích cực sáng tạo nội dung, tổ chức bài giảng hấp dẫn, học sinh sẽ có hứng thú hơn với môn học.

Tuy nhiên, trong thực tế, một bộ phận giáo viên vẫn coi GDĐP là "nhiệm vụ phụ", giảng dạy theo hướng đối phó hoặc sao chép tài liệu từ nơi khác. Điều này bắt nguồn từ tâm lý ngại thay đổi, thiếu động lực hoặc thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà trường.

- Khả năng phối hợp, chia sẻ và học hỏi trong tổ chuyên môn. Tổ chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giáo viên xây dựng nội dung GDĐP, chia sẻ tài liệu, phương pháp dạy học, kinh nghiệm tổ chức hoạt động. Khi có sự phối hợp tốt, giáo viên sẽ cảm thấy được hỗ trợ và tự tin hơn khi thực hiện nhiệm vụ.

Tuy nhiên, tại nhiều trường, sinh hoạt chuyên môn về nội dung GDĐP còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu. Việc chia sẻ kinh nghiệm dạy GDĐP còn hạn chế, dẫn đến tình trạng "mạnh ai nấy làm".

- Khả năng tự học và cập nhật kiến thức. Do GDĐP luôn thay đổi theo thời gian và gắn với sự phát triển của địa phương, giáo viên cần có khả năng tự học, tự nghiên cứu và cập nhật kiến thức mới. Việc chủ động tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn, học hỏi từ các chuyên gia hoặc cộng đồng giáo viên khác sẽ giúp giáo viên nâng cao năng lực và hiệu quả giảng dạy.

Tuy vậy, nhiều giáo viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, chưa có điều kiện tiếp cận tài liệu, công nghệ, hoặc thiếu kỹ năng tự học dẫn đến việc triển khai GDĐP còn hạn chế, mang tính chất sao chép, thiếu đổi mới.

Tóm lại, đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện nội dung GDĐP. Thực trạng cho thấy vẫn còn sự chênh lệch về năng lực và tinh thần trách nhiệm giữa các giáo viên, đặc biệt giữa các vùng miền, cấp học. Do đó, để nâng cao hiệu quả GDĐP, cần có chính sách bồi dưỡng chuyên sâu, khuyến khích đổi mới sáng tạo và xây dựng môi trường làm việc tích cực, hỗ trợ lẫn nhau trong đội ngũ giáo viên.

3.3. Tác động từ các điều kiện đảm bảo của nhà trường cho việc thực hiện nội dung GDĐP.

Việc triển khai hiệu quả nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) không thể tách rời các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, thiết bị, học liệu, thời gian, tài chính và các yếu tố tổ chức trong nhà trường. Các điều kiện này vừa là nền tảng, vừa là động lực hỗ trợ giáo viên và học sinh thực hiện chương trình GDĐP một cách thiết thực, linh hoạt và sáng tạo.

- Về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Cơ sở vật chất như phòng học chức năng, thư viện, phòng máy tính, khu vực trải nghiệm ngoài trời, bảng tương tác, thiết bị trình chiếu… là những điều kiện hỗ trợ quan trọng để tổ chức các hoạt động dạy học tích cực trong GDĐP.

Hiện nay, nhiều trường ở khu vực thành thị hoặc trung tâm đã được đầu tư khá đầy đủ cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu về địa phương. Tuy nhiên, ở nhiều trường vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn, thậm chí chưa có thư viện, phòng học bộ môn, không có thiết bị trình chiếu hoặc mạng internet yếu, khiến việc triển khai GDĐP gặp khó khăn.

- Về học liệu và tài liệu giáo dục địa phương. Việc có tài liệu GDĐP rõ ràng, phù hợp với đặc điểm địa phương và trình độ học sinh là điều kiện quan trọng giúp giáo viên triển khai bài dạy hiệu quả. Tài liệu có thể bao gồm: sách hướng dẫn, bộ tư liệu lịch sử – địa lý – văn hóa địa phương, bản đồ, tranh ảnh, video tư liệu, nội dung số hóa…

Thực trạng, nhiều địa phương đã biên soạn tài liệu GDĐP theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, tuy nhiên vẫn còn nhiều tỉnh chưa hoàn thiện, hoặc tài liệu còn mang tính khái quát, chưa gần gũi với học sinh. Một số trường phải sử dụng lại tài liệu từ năm học trước, chưa cập nhật, hoặc chưa có tài liệu cho các cấp học khác nhau. Việc chia sẻ, công khai tài liệu GDĐP giữa các trường trong cùng địa phương còn hạn chế, dẫn đến sự chênh lệch về chất lượng thực hiện.

- Về kinh phí và cơ chế tài chính. Tổ chức các hoạt động GDĐP, nhất là trải nghiệm thực tế, nghiên cứu tại địa phương, mời chuyên gia… đòi hỏi nguồn kinh phí nhất định. Việc bố trí kinh phí rõ ràng giúp nhà trường chủ động trong xây dựng kế hoạch, hỗ trợ giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động một cách đầy đủ.

Hiện nay, kinh phí dành cho GDĐP chưa được phân bổ thành một mục riêng rõ ràng trong ngân sách hoạt động của trường học. Nhiều trường phải trích từ các nguồn quỹ chung hoặc vận động từ phụ huynh và xã hội hóa, dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí hoặc không đồng đều giữa các lớp, các khối.

- Quỹ thời gian và lịch trình tổ chức dạy học. Một trong những điều kiện đảm bảo quan trọng là việc bố trí thời lượng phù hợp để dạy GDĐP trong chương trình học chính khóa và hoạt động trải nghiệm. Thời gian hợp lý giúp giáo viên có điều kiện chuẩn bị bài giảng chu đáo, học sinh được tiếp cận nội dung một cách đầy đủ.

Việc phân bổ thời lượng cho GDĐP giữa các trường chưa thống nhất. Có nơi lồng ghép vào các tiết học chính khóa, nơi khác tổ chức dưới dạng câu lạc bộ hoặc hoạt động ngoại khóa, dẫn đến sự phân mảnh và thiếu nhất quán trong thực hiện. Áp lực chương trình chính khóa và thi cử khiến nhiều trường cắt giảm thời lượng dành cho GDĐP.

- Điều kiện về nhân lực hỗ trợ và phối hợp tổ chức. Bên cạnh giáo viên trực tiếp giảng dạy, các hoạt động GDĐP còn cần sự hỗ trợ từ các tổ chức trong trường như Đoàn, Đội, tổ tư vấn tâm lý, giáo viên chủ nhiệm, cán bộ thư viện, cán bộ thiết bị… nhằm phối hợp tổ chức các hoạt động trải nghiệm, mời khách mời, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn học sinh.

Ở nhiều trường, việc triển khai GDĐP vẫn đang đặt nặng lên vai giáo viên bộ môn, thiếu cơ chế phối hợp và hỗ trợ từ các bộ phận khác. Việc thiếu nhân lực hỗ trợ gây quá tải cho giáo viên, ảnh hưởng đến chất lượng và tinh thần tổ chức dạy học GDĐP.

Tóm lại, các điều kiện đảm bảo trong nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai và chất lượng thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Thực trạng hiện nay cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các trường và các vùng miền về mức độ đáp ứng điều kiện đảm bảo, gây ra khoảng cách rõ rệt về cơ hội tiếp cận GDĐP của học sinh. Do đó, cần có chính sách đầu tư đồng bộ, hỗ trợ trang thiết bị, tài liệu, kinh phí và nhân lực nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong triển khai GDĐP trên toàn quốc.

3.4. Tác động từ đặc điểm học sinh phổ thông từng vùng, miền, từng cấp học.

Học sinh là trung tâm của quá trình giáo dục, bao gồm cả giáo dục địa phương (GDĐP). Việc tổ chức thực hiện nội dung GDĐP chỉ thực sự hiệu quả khi phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức, điều kiện sống và bối cảnh văn hóa – xã hội của học sinh từng cấp học, từng vùng miền. Những đặc điểm này có ảnh hưởng rõ rệt đến phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức dạy học cũng như kết quả tiếp nhận và phát triển năng lực của học sinh.

- Đặc điểm theo cấp học. Học sinh tiểu học thường có đặc điểm nổi bật là tư duy cụ thể, hiếu động, ham thích khám phá thông qua hoạt động trực quan, trải nghiệm, trò chơi. Việc tổ chức GDĐP ở cấp tiểu học cần đơn giản, gần gũi, sinh động và gắn với đời sống hằng ngày.

Tác động mạnh nếu nội dung GDĐP mang tính hàn lâm, lý thuyết sẽ khiến học sinh tiểu học khó tiếp thu, giảm hứng thú học tập. Do đó, cần ưu tiên phương pháp trực quan, kể chuyện, tham quan thực tế, vẽ tranh, làm mô hình,…

Học sinh THCS đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng. Các em bắt đầu hình thành năng lực phân tích, so sánh, đánh giá nhưng vẫn cần sự định hướng chặt chẽ từ giáo viên.

Vì vậy, nội dung GDĐP cần có chiều sâu hơn so với tiểu học, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa khám phá văn hóa, lịch sử với những vấn đề thực tiễn của địa phương (ô nhiễm, phát triển kinh tế, làng nghề,…).

Học sinh THPT có khả năng tư duy phản biện, sáng tạo, biết đặt vấn đề và mong muốn được thể hiện quan điểm cá nhân. Họ cũng quan tâm hơn đến các vấn đề xã hội, hướng nghiệp và phát triển kỹ năng sống.

Việc tổ chức GDĐP ở cấp THPT nên chú trọng đến các dự án học tập, nghiên cứu khoa học học sinh, trải nghiệm hướng nghiệp, giao lưu với người dân địa phương, các buổi tọa đàm, phỏng vấn, viết báo cáo,…

- Đặc điểm theo vùng, miền. Học sinh thành thị thường có điều kiện tiếp cận thông tin đa dạng, trình độ công nghệ cao hơn, kỹ năng giao tiếp – trình bày tốt hơn, và được giáo dục sớm về kỹ năng sống.

Tác động, có thể tổ chức các hoạt động GDĐP mang tính nghiên cứu, sáng tạo cao, như làm phim tư liệu, viết blog, thiết kế triển lãm số về di sản địa phương,…

Học sinh nông thôn có khả năng gắn bó với thực tiễn địa phương cao hơn, quen thuộc với nghề nông, làng nghề,… nhưng còn hạn chế về phương tiện, kỹ năng trình bày và khả năng tiếp cận công nghệ.

GDĐP nên gắn với thực hành, lao động sản xuất, tham quan thực tế, mời người dân địa phương giao lưu, để tạo ra tính gần gũi, thiết thực và phát huy thế mạnh địa phương.

Học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo thường gặp hạn chế về ngôn ngữ, kỹ năng sử dụng công nghệ, điều kiện học tập, thậm chí cả sự tự tin trong giao tiếp. Tuy nhiên, các em có vốn sống phong phú, bản sắc văn hóa đặc trưng và sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng.

Cần lựa chọn nội dung GDĐP phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa địa phương, kết hợp giáo dục gìn giữ bản sắc dân tộc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn môi trường sống. Đồng thời, chú trọng hỗ trợ học sinh về ngôn ngữ, kỹ năng học tập để tạo cơ hội tiếp cận công bằng.

- Sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội và gia đình. Học sinh từ các gia đình khá giả thường được hỗ trợ nhiều hơn trong việc học tập, có điều kiện tham gia các hoạt động ngoại khóa, có sự đồng hành của phụ huynh.

Trong khi đó, học sinh có hoàn cảnh khó khăn thường thiếu điều kiện học tập, ít được gia đình quan tâm, khiến việc tiếp cận GDĐP cũng bị hạn chế.

Nhà trường cần có giải pháp hỗ trợ đối tượng học sinh khó khăn, đồng thời thiết kế các hoạt động GDĐP mang tính bao trùm, không gây áp lực về kinh phí, phương tiện,…

Tóm lại, đặc điểm học sinh theo từng cấp học, vùng miền và điều kiện sống có ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức GDĐP. Việc không tính đến những đặc điểm này sẽ khiến chương trình thiếu thực tế, giảm hiệu quả giáo dục. Do đó, các cơ sở giáo dục cần chủ động khảo sát đặc điểm học sinh, thiết kế GDĐP linh hoạt và phân hóa, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng, tạo điều kiện cho mọi học sinh đều được tham gia và phát triển toàn diện.

3.5. Tác động từ các yếu tố khác trong nhà trường.

Bên cạnh vai trò của Ban Giám hiệu, đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất và đặc điểm học sinh, việc tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) trong nhà trường phổ thông còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại khác, bao gồm:

Thứ nhất, vai trò của tổ chuyên môn và Hội đồng sư phạm nhà trường.
Tổ chuyên môn là nơi cụ thể hóa các định hướng chỉ đạo của Ban Giám hiệu thành kế hoạch triển khai trong từng môn học hoặc hoạt động giáo dục. Nếu các tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên, thường xuyên sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy nội dung GDĐP thì việc triển khai sẽ linh hoạt và thực chất hơn. Ngược lại, nếu tổ chuyên môn hoạt động hình thức, thiếu gắn kết, thì việc tổ chức thực hiện GDĐP có nguy cơ rơi vào tình trạng đối phó, thiếu chiều sâu.

Thứ hai, văn hóa nhà trường. Một môi trường giáo dục tích cực, dân chủ, khuyến khích đổi mới sáng tạo, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên sẽ là “chất xúc tác” quan trọng thúc đẩy sự nhiệt huyết, trách nhiệm trong việc thực hiện nội dung GDĐP. Văn hóa trường học ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của giáo viên, học sinh cũng như sự phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội trong quá trình triển khai chương trình.

Thứ ba, cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong trường. Sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận như: phòng hành chính, đoàn thể (Đoàn – Đội – Công đoàn), bộ phận thiết bị, thư viện… sẽ tạo điều kiện thuận lợi về tổ chức, hậu cần và truyền thông cho hoạt động giáo dục địa phương. Ngược lại, nếu các bộ phận vận hành rời rạc, thiếu sự kết nối thì sẽ làm giảm hiệu quả của quá trình triển khai.

Thứ tư, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý và tổ chức dạy học nội dung GDĐP (thiết kế bài giảng, sử dụng học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến…) ngày càng trở nên quan trọng. Những trường có mức độ ứng dụng công nghệ cao sẽ linh hoạt hơn trong việc tiếp cận và triển khai các tài liệu, tư liệu phục vụ giáo dục địa phương, đặc biệt ở những nơi tài nguyên truyền thống còn hạn chế.

Thứ năm, nhận thức và thái độ của học sinh và phụ huynh. Nếu học sinh hứng thú, nhận thức được giá trị của nội dung GDĐP, phụ huynh đồng thuận và ủng hộ nhà trường, thì việc tổ chức thực hiện sẽ thuận lợi hơn. Trái lại, nếu học sinh thờ ơ, coi nhẹ vai trò của nội dung này, hoặc phụ huynh không quan tâm, thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giảng dạy, đặc biệt trong các nội dung cần sự phối hợp với cộng đồng và thực tiễn địa phương.

4. Một số đề xuất

Từ việc phân tích các yếu tố tác động trong nhà trường đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương (GDĐP), một số đề xuất sau đây được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả triển khai GDĐP trong thực tế:

4.1. Nâng cao năng lực quản lý và đổi mới phương thức lãnh đạo của Ban Giám hiệu nhà trường

Tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu cho Ban Giám hiệu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và cách thức tích hợp GDĐP trong chương trình giáo dục phổ thông.

Tăng cường tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm trong chỉ đạo thực hiện GDĐP; đẩy mạnh phân quyền, khuyến khích sự tham gia của tổ nhóm chuyên môn và giáo viên.

Xây dựng kế hoạch GDĐP phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo nhưng vẫn tuân thủ định hướng chung của chương trình GDPT 2018.

4.2. Phát triển đội ngũ giáo viên có năng lực thực tiễn và tinh thần trách nhiệm cao

Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện GDĐP cho giáo viên các môn học liên quan.

Khuyến khích giáo viên tự nghiên cứu, khai thác tài liệu địa phương và phối hợp với cộng đồng để làm phong phú nội dung bài giảng.

Đưa tiêu chí về mức độ tham gia, sáng tạo và hiệu quả trong triển khai GDĐP vào nội dung đánh giá thi đua của giáo viên.

4.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn học liệu phục vụ GDĐP

Nhà trường cần xây dựng kế hoạch đầu tư phù hợp cho việc triển khai các hoạt động giáo dục địa phương, bao gồm phòng học chức năng, thiết bị thực hành, tư liệu giảng dạy...

Khuyến khích xã hội hóa giáo dục, huy động sự đóng góp từ cộng đồng địa phương và phụ huynh để bổ sung nguồn lực triển khai GDĐP.

Phối hợp với các cơ quan, đơn vị văn hóa – lịch sử – khoa học ở địa phương để xây dựng ngân hàng học liệu, hình ảnh, video, hiện vật phục vụ giảng dạy.

4.4. Đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh

Thiết kế các hoạt động học tập trải nghiệm, tham quan, thực hành tại địa phương để học sinh “học qua làm” và tăng hứng thú học tập.

Phân hóa nội dung GDĐP theo cấp học (tiểu học, THCS, THPT) và theo vùng miền, đảm bảo phù hợp với tâm lý, nhận thức và điều kiện sống của học sinh.

Khuyến khích học sinh tham gia xây dựng nội dung GDĐP như viết bài, làm sản phẩm, phỏng vấn người dân địa phương…

4.5. Tăng cường vai trò của các yếu tố hỗ trợ trong nhà trường

-Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong xây dựng kế hoạch và tổ chức các tiết dạy GDĐP.

-Thư viện nhà trường cần bổ sung các tư liệu về địa phương; cán bộ thư viện hỗ trợ giáo viên, học sinh trong việc tìm kiếm và sử dụng thông tin.

-Đoàn – Đội, công tác chủ nhiệm, các câu lạc bộ trong trường học cần tích cực lồng ghép GDĐP trong hoạt động giáo dục toàn diện.

4.6. Tăng cường phối hợp với chính quyền, cộng đồng và phụ huynh

-Thiết lập mối quan hệ hợp tác với chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, cơ sở văn hóa – lịch sử – khoa học để tổ chức các hoạt động GDĐP cho học sinh.

-Mời chuyên gia địa phương, nghệ nhân, người cao tuổi… tham gia chia sẻ, kể chuyện, tổ chức hoạt động giáo dục thực tế cho học sinh.

-Tuyên truyền nâng cao nhận thức của phụ huynh về ý nghĩa của GDĐP, từ đó phối hợp tốt với nhà trường trong giáo dục học sinh.

5. Kết luận và Kiến nghị

5.1. Kết luận

Nội dung giáo dục địa phương (GDĐP) trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc gắn kết nhà trường với cộng đồng, bồi dưỡng tình yêu quê hương, hiểu biết văn hóa – lịch sử – kinh tế – xã hội của địa phương cho học sinh. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện nội dung này trong nhà trường còn chịu tác động của nhiều yếu tố nội tại.

Qua phân tích cho thấy, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong nhà trường đến việc triển khai nội dung GDĐP là rất rõ nét, bao gồm: năng lực quản lý và phương thức điều hành của Ban Giám hiệu; năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên; điều kiện cơ sở vật chất – thiết bị – học liệu; đặc điểm học sinh theo vùng, miền, cấp học; cùng nhiều yếu tố khác như văn hóa học đường, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường. Các yếu tố này có mối quan hệ tương tác và chi phối lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của việc triển khai nội dung GDĐP.

Đặc biệt, sự chênh lệch giữa các vùng miền (đô thị – nông thôn – miền núi) đang tạo nên khoảng cách trong khả năng tổ chức thực hiện GDĐP, đặt ra yêu cầu về sự linh hoạt, mở và bối cảnh hóa chương trình.

5.2. Kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện nội dung GDĐP trong nhà trường, cần có các giải pháp đồng bộ từ cấp quản lý đến cơ sở giáo dục. Một số kiến nghị cụ thể như sau:

- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về quy trình xây dựng, lựa chọn và triển khai nội dung GDĐP phù hợp với điều kiện từng địa phương. Xây dựng kho học liệu số mở, chia sẻ các mô hình thực tiễn tốt giữa các tỉnh, thành để giảm bớt gánh nặng cho các trường.

- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo: Hỗ trợ tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực xây dựng, triển khai chương trình GDĐP cho cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán. Có cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt để các trường sáng tạo trong cách tiếp cận.

- Đối với các trường phổ thông: Ban Giám hiệu cần xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện GDĐP cụ thể, gắn với chiến lược phát triển nhà trường và thực tiễn địa phương. Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia nghiên cứu, thiết kế và thực hiện các hoạt động GDĐP một cách chủ động, sáng tạo. Khuyến khích sự phối hợp với cha mẹ học sinh, chính quyền và tổ chức địa phương để tăng cường nguồn lực hỗ trợ GDĐP.

- Đối với đội ngũ giáo viên: Nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động học tập và tìm hiểu về địa phương để xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp. Tích cực ứng dụng công nghệ, phương pháp dạy học mới nhằm tạo hứng thú và hiệu quả cho học sinh trong các hoạt động GDĐP.

- Đối với cộng đồng và chính quyền địa phương: Cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động GDĐP. Tham gia phối hợp với nhà trường trong việc cung cấp thông tin, tư liệu, nhân lực để tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm tại địa phương.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Hà Nội.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Hà Nội.

3. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2019). Luật Giáo dục năm 2019. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên). (2019). Giới thiệu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018. Nxb Giáo dục Việt Nam.

5. Phan Văn Kha. (2022). “Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương trong trường phổ thông hiện nay”. Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 172.

6. Trần Thị Lệ. (2021). “Thực trạng và giải pháp thực hiện giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông mới”. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 103.

7. Vũ Dương Thúy Ngà. (2021). Giáo dục phát triển toàn diện học sinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.

8. Lê Thị Thanh Hương. (2023). “Vai trò của giáo viên trong việc thực hiện giáo dục địa phương: từ lý luận đến thực tiễn”. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục địa phương, số 07.

9. UBND các tỉnh miền núi phía Bắc. (2021–2024). Báo cáo sơ kết thực hiện chương trình giáo dục địa phương trong Chương trình GDPT 2018.

10. Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán về nội dung giáo dục địa phương (Ban phát triển chương trình GDPT 2018), Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020.

 

 

Ý kiến bạn đọc
CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐẶT TÊN BÚT DANH  CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
Lê Thị Hương Lan- Đại học Phenikaa Email: [email protected] Tóm tắt: Bút danh với tư cách là một trong những loại tên gọi chiếm vị trí khá quan trọng trong hệ thống tên người hiện vẫn còn là một mảng đề tài thú vị và khá mới mẻ. Bài viết này sẽ tiến hành miêu tả cấu tạo và phương thức đặt tên bút danh của các nhà văn Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945 nhằm góp phần khẳng định vai trò quan trọng của tên riêng chỉ người trong hệ thống tên riêng tiếng Việt và góp phần tìm hiểu phong cách của các nhà văn thông qua tên bút danh của họ. Từ khóa: bút danh, tên riêng, tên người
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).