1. Giáo dục & Đào tạo
  2. >
  3. Giáo dục Đại học

Thực trạng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên trường Đại học Quảng Nam

12:03 | 30/11/2022
aA

Tóm tắt: Môn Giáo dục học trong trường sư phạm có vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển các kỹ năng (KN) học tập nói chung, kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm (KNGQTHSP) nói riêng. Thời gian gần đây, tình huống sư phạm (THSP) được sự quan tâm rất nhiều của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đào tạo sư phạm (SP) ở các trường đại học . Để giải quyết được sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục (GD) và một số tình huống khác xảy ra trong quá trình GD, đòi hỏi nhà GD phải nhanh chóng phản ứng, phát hiện đúng tình huống, tìm ra những biện pháp giải quyết tối ưu tình hình đó nhằm để giữ tốt các quan hệ, hình thành và phát triển nhân cách người được GD và xây dựng tập thể người được GD vững mạnh. Bài viết này sẽ đề cập đến một số vấn đề về THSP, thực trạng KNGQTHSP, các biện pháp rèn luyện KNGQTHSP cho SV sư phạm trường ĐH Quảng Nam.

Từ khóa: Tình huống sư phạm; kỹ năng; sinh viên; biện pháp; kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm.

1. Mở đầu

1.1. Sự cần thiết phải tìm hiểu thực trạng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên trường ĐH Quảng Nam.

GDH là một môn học vừa mang tính khoa học cơ bản, vừa mang tính nghiệp vụ trong trường SP, có vai trò đặc biệt trong việc đào tạo người giáo viên trong tương lai. Cùng với các môn nghiệp vụ khác tạo nên tính chất nghiệp vụ SP trong trường SP.

Giải quyết THSP là một KN hết sức quan trọng của SV đang theo học ngành SP. Nó được xem như là một năng lực nghề nghiệp và có gắn bó mật thiết với hoạt động giảng dạy của người giáo viên trong tương lai. Tuy nhiên, qua việc dạy học môn GDH và một số lần tham dự hội thi nghiệp vụ sư phạm (NVSP) được nhà trường tổ chức hàng năm. Bản thân nhận thấy, phần lớn SV đã có nhiều cố gắng và nỗ lực trong cách giải quyết các THSP, nhưng ở một bộ phận SV vẫn còn giải quyết theo kiểu cảm tính, thiếu những cơ sở tri thức để lý giải. Vì thế, dẫn đến hệ quả là cách giải quyết của SV không thuyết phục được người nghe và không mang lại tác dụng GD thực sự và lâu dài. Điều đó có thể lý giải rằng, trong quá trình học tập SV không chịu đào sâu tri thức, không biết vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, trong công tác GD. Vì thế, khi gặp các THSP hơi bất thường SV trở nên lúng túng, trả lời một cách ngây ngô và đôi khi gây cười cho những người xung quanh; hoặc cũng có những tình huống rất đơn giản nhưng SV lại quan trọng hóa vấn đề khi xử lý, vì thế mà tính hiệu quả chưa đảm bảo.

Tìm hiểu thực trạng trên trong hoạt động dạy học môn GDH và trong các hội thi NVSP thường niên tại trường, chúng tôi thấy KNGQTHSP của SV chưa đạt được kết quả tương xứng với vị trí của môn học và với sự kỳ vọng của người dạy; tình trạng học tập cũng như việc rèn luyện các KN này chưa được SV quan tâm đến một cách thấu đáo. Vì vậy, việc tìm ra các biện pháp để rèn luyện KNGQTHSP cho SV trường ĐH Quảng Nam trong quá trình dạy học môn Giáo dục học là mang tính cấp thiết.

2. Nội dung

2. 1.Tình huống sư phạm

2.1.1. Tình huống sư phạm là gì?

THSP là tình huống có vấn đề (THCVĐ) diễn ra đối với nhà GD trong công tác GD học sinh, trong tình huống đó, nhà GD bị đặt vào trạng thái lúng túng trước vấn đề GD cấp thiết mà họ cần phải giải quyết; bằng tri thức, kinh nghiệm SP vốn có, họ chưa thể giải quyết được vấn đề đó, khiến họ phải tích cực xem xét, tìm tòi để có thể đưa ra những biện pháp GD đối tượng một cách hợp lý nhằm đạt được hiệu quả tối ưu; qua đó năng lực, phẩm chất SP của họ cũng được củng cố và phát triển.

Như vậy, giải quyết THSP thực chất là việc giải quyết vấn đề của công tác GD học sinh trong tình huống. THSP chỉ được giải quyết khi vấn đề SP trong tình huống được chủ thể phát hiện, chấp nhận và giải quyết trong những điều kiện nhất định. Xem xét mối quan hệ giữa THCVĐ và THSP cho thấy, một khi nhà GD bị đặt vào một THCVĐ diễn ra trong công tác GD học sinh, để giải quyết THCVĐ đó, nhà GD phải tiến hành một quá trình tư duy SP trên cơ sở những kinh nghiệm GD học sinh sẵn có của mình, thì lúc đó nhà GD đã đứng trước một THSP. Cho nên mọi THSP đều là THCVĐ nhưng không phải THCVĐ nào cũng là THSP. Trong thực tế, SV đã không phân biệt được điều này dẫn đến SV xử lý các THSP chưa thuyết phục được người nghe.

Để xử lý các THSP một cách thuyết phục, chúng ta cần phát hiện các yếu tố trong THSP. Thứ nhất là cái đã biết; thứ hai là cái chưa biết cần tìm trong THSP.

Cái đã biết trong THSP chính là những tri thức, kinh nghiệm và KN vốn có của nhà GD có liên quan cần giải quyết trong tình huống. Cái đã biết đó chính là cơ sở ban đầu định hướng nhà GD quan tâm đến tình huống hay phát hiện ra tình huống trong sự muôn hình, muôn vẻ của thực tiễn GD học sinh. Cái đã biết đó một phần SV có được thông qua quá trình đào tạo tại trường SP; một phần được hình thành tự phát ở SV thông qua quá trình lâu dài tiếp nhận những tác động GD trong quá trình kiến tập, thực tập ở trường phổ thông, ở nhà hay trong cuộc sống.

Cái chưa biết trong THSP là những tri thức, KN . . . về GD học sinh nói chung của nhà GD có liên quan đến vấn đề cần giải quyết trong THSP mà họ chưa biết. Cái chưa biết đó khiến họ cảm thấy vấn đề cần giải quyết trong tình huống dường như xa lạ, khiến họ lúng túng chưa biết cách giải quyết vấn đề đó như thế nào. Chính vì lẽ đó, cái chưa biết cần tìm kiếm trở thành yếu tố trung tâm trong THSP, trở thành yếu tố kích thích hoạt động tìm tòi sáng tạo. Đối với người giáo viên hay SV, điều chư biết là ẩn số có tính khái quát. Đó có thể là một lý luận (một nguyên tắc, một nội dung, một phương pháp . . .) hay một kỹ năng SP nào đó mà nhà GD cần phải biết để vận dụng nhằm giải quyết các tình huống cụ thể trong công tác GD học sinh của mình.

2.2. Thực trạng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên trường Đại học Quảng Nam.

2.2.1. Vài nét về mẫu khảo sát

Để tìm hiểu thực trạng KNGQTHSP của SV trường ĐH Quảng Nam, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu câu hỏi, phỏng vấn và trao đổi với SV sư phạm năm thứ hai trường Đại học Quảng Nam đối với kỹ năng vận dụng thông tin trong học tập môn GDH để giải quyết các nhiệm vụ học tập, trong đó có kỹ năng vận dụng kiến thức để giải quyết các THSP.

+ Số lượng SV được khảo sát: 105 (04 chuyên ngành Toán, Vật lý, Sinh học và GD Tiểu học)

+ Thời gian khảo sát: Học kỳ II - Năm học 2015-2016

+ Nội dung khảo sát được phản ánh trong phiếu điều tra gồm các vấn đề sau:

- Kỹ năng vận dụng kiến thức GDH để giải quyết các hiện tượng khác trong đời sống xã hội và trong công tác giáo dục.

- Vận dụng kiến thức để giải các bài tập tương tự trong giáo trình.

- Kỹ năng vận dụng kiến thức khi đi kiến tập và thực tập sư phạm.

- Đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức để xử lý các THSP

2.2. Kết quả khảo sát

Bảng 1.1. Thực trạng KN vận dụng thông tin của SV

trong học tập môn GDH.

Kết quả khảo sát ở bảng 1 cho thấy:

KN vận dụng kiến thức trong quá trình đi thực tập SP đạt ở thứ bậc cao nhất (2.7); KN vận dụng kiến thức học tập môn GDH để học tập các môn học khác như: TLH, phương pháp dạy học bộ môn chuyên ngành, rèn luyện nghiệp vụ SP thường xuyên chiếm vị trí thứ hai (2.4); KN vận dụng kiến thức để giải bài tập (2.5); KN vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống sư phạm (2.2); cuối cùng là KN vận dụng kiến thức đã học giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội và trong công tác giáo dục(1.6). Như vậy, KN vận dụng thông tin trong và sau khi học môn GDH của SV còn nhiều hạn chế và chưa nhận thức đầy đủ việc vận dụng các KN này một cách tối ưu nhất. Trong khi SV muốn vận dụng kiến thức học môn GDH để dễ dàng trong việc đi thực tập và kiến tập nhưng các em lại chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện các KN còn lại. Đặc biệt, KN vận dụng tri thức để giải bài tập và để giải quyết các THSP, SV đạt thấp (bậc 3, 4 trong bảng thứ bậc). ) (Xem biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Thực trạng KN vận dụng thông tin của sinh viên trong học tập môn GDH

Khi chấm bài tập kiểm tra thường xuyên, chúng thấy SV làm bài không sâu sắc, hầu như SV chỉ cập nhật tri thức chỗ này, chỗ kia mà ít có vận dụng các tri thức đã có, đã hiểu để tự làm bài.

Ở KN vận dụng thông tin (một KN đặc trưng trong học tập môn GDH) để giải quyết các tình huống SP, SV lại càng không lưu ý lắm đến việc rèn luyện KN này. Trong khi dạy học phần Lý luận GD cho SV sư phạm, chúng tôi đã cố gắng chú trọng rất kỹ việc bồi dưỡng KNGQTHSP trong công tác GD học sinh như: cụ thể hóa trong các bài giảng lý thuyết, các tiết thực hành và kể cả trong công tác kiểm tra, đánh giá.

Để tìm hiểu sâu sắc hơn thực trạng này, chúng tôi có một bài tập nhỏ để khảo sát KN này của SV.

Nội dung và kết quả khảo sát bài tập giải quyết tình huống SP của chúng tôi như sau:

- Đối với bài tập, chúng tôi ra hai dạng, mỗi dạng tương ứng 5 điểm (2 câu, 10 điểm). Bài tập dành cho SV năm thứ II ĐHSP.

+ Kiểu bài tập tái hiện tri thức:

Trong tiết học Anh văn tại lớp 10 nọ, thầy V giáo viên chủ nhiệm, gọi em Thạch Thị S đứng lên đọc bài khóa. S là một HS học rất yếu đặc biệt là môn Anh văn. Cầm sách lên, ngập ngừng mãi mà S vẫn không đọc được.

Sốt ruột vì mất thời gian, bực mình thầy V la lớn:

- Sao mà ngu thế! Thôi đi về mà học tiếng Miên chứ học tiếng Anh cái nỗi gì!

- Cả lớp ngỡ ngàng vì S lại chính là người dân tộc Khơ me. Còn S nghe thầy lớn tiếng, mắc cỡ, mặt đỏ bừng gục xuống bàn suốt cả thời gian còn lại của tiết học. Hôm sau lại đến tiết Anh văn của thầy chủ nhiệm, chỗ ngồi của S bỏ trống. [1: 181]

à Tại sao em S bỏ tiết Anh văn của thầy V? Bài học nào rút ra từ việc xem xét tình huống này? Các tri thức của chương NTGD có liên quan có thể được khai thác qua việc xem xét vấn đề trong tình huống là những nguyên tắc nào? Tại sao? Có cách gì để em S không bỏ tiết.

+ Kiểu bài tập sáng tạo:

Trong giờ chủ nhiệm, giáo viên đang nghe lớp trưởng nhận xét về tình hình của lớp trong tuần thì ở cuối lớp bỗng phát ra một tiếng “bốp!” và một giọng nói bực bội của một học trò nào đó: “Sao mày lại đánh tao?”. Xuống tận nơi xem có chuyện gì xảy ra, cô chợt hiểu khi nhìn thấy dòng chữ được ghi trên lưng áo em vừa bị đánh: “Lưng nè, đánh đi!” [1: 279]

- Đối với những trò nghịch ngợm như thế, giáo viên nên ứng xử ra sao?

- Kết quả chúng tôi thu được như sau:

* Phân tích về mặt định tính

Chúng tôi đã thất vọng vì một số SV làm bài và giải quyết tình huống theo kiểu cảm tính, chưa biết vận dụng tri thức đã học để giải quyết một cách khoa học các tình huống nhằm thuyết phục người nghe. SV nghĩ sao viết vậy, không vận dụng được một nguyên tắc hay một phương pháp GD nào vào quá trình xử lý cả. Khi được hỏi: “Tại sao bạn giải quyết THSP đó một cách máy móc như thế?” . Ngay lập tức, chúng tôi nhận được câu trả lời: “Do chưa gặp những tình huống ấy bao giờ nên chúng em chưa có kinh nghiệm để giải quyết. Vậy là chúng em nghĩ sao nói thế, miễn sao có đưa ra cách giải quyết là được rồi!”

Về mặt định lượng, chúng tôi thu được kết quả như sau

Bảng 1.2. Kết quả điểm bài tập xử lý tình huống của SV ĐHSP

trong học tập môn GDH

 

TT

 

Lớp

 

N

Kết quả (%)

Giỏi

(8.5à10)

Khá

(7à8)

TB

(5.5à6.5)

Y

(4à5)

Kém

(>4)

Từ TB trở lên

1

ĐHSP Vật lý K14

58

 

20.7

22.4

39.7

17.2

43.1

2

ĐHSP Toán K14

54

 

25.9

22.2

38.9

13.0

48.1

Từ kết quả xử lý bảng 1.2 cho thấy, KN vận dụng thông tin để giải quyết các THSP của SV đạt thấp (chưa đạt 50%). Kết quả của SV khoa Toán có cao hơn nhưng không đáng kể.

Qua kết quả nghiên cứu thực trạng nêu trên cho thấy việc đưa ra các biện pháp rèn luyện KN xử lý THSP để SV tham khảo và vận dụng là việc làm thiết thực.

2.3. Biện pháp rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm cho sinh viên sư phạm trường ĐH Quảng Nam

+ Biện pháp 1: SV cần nắm vững các nguyên tắc GD, nội dung GD, phương pháp GD để làm tốt các bài tập mang tính sáng tạo và tái hiện lại tri thức trong khi học môn GDH.

Việc giải quyết tình huống SP của SV thực chất là quá trình tư duy, đó chính là quá trình vận dụng tri thức đã biết để giải quyết vấn đề chưa biết. Để giải quyết tình huống hoặc làm các bài tập THSP một cách có hiệu quả và mang tính thuyết phục, đòi hỏi SV phải nắm vững các nguyên tắc GD, nội GD và phương pháp GD trong học phần Lý luận GD.

Trong quá trình học tập môn GDH, SV cần phải chú ý rèn luyện những bài tập giải quyết tình huống thông qua hai dạng khác nhau: Thứ nhất, đó là những tình huống có sẵn, đã được nêu cách xử lý và yêu cầu SV cho biết những tri thức nào đã học được vận dụng vào việc xử lý tình huống đó (kiểu bài tập tái hiện tri thức); thứ hai, là chỉ cho những những THSP mà chưa nêu cách giải quyết, buộc SV phải vận dụng một cách sáng tạo tri thức đã học để giải quyết (kiểu bài tập sáng tạo).

+ Biện pháp 2: Sinh viên phải biết sắp xếp các THSP theo từng nhóm để có cách giải quyết nhanh và hiệu quả nhất trong công tác GD.

Trên cơ sở kiến thức thu nhận được, SV phải biết sắp xếp, phân loại THSP thành các nhóm để dễ xử lý. Có thể sắp xếp các THSP thành các nhóm sau:

  1. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến việc tìm hiểu nắm vững tình hình học sinh.
  2. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến việc xây dựng tập thể học sinh tự quản.
  3. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến việc tổ chức các hoạt động GD toàn diện học sinh.
  4. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến việc đánh giá toàn diện học sinh.
  5. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến việc phối hợp với các lực lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để quản lý, GD học sinh.
  6. Nhóm THSP mà vấn đề chủ yếu trong tình huống có liên quan đến công tác xây dựng kế hoạch GD học sinh.

Sau đó, tùy mỗi tình huống mà SV có thể vận dụng trên cơ sở kiến thức đã học ở các chương trong học phần lý luận GD để xử lý tình huống SP một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.

+ Biện pháp 3: Sinh viên cần tích cực tìm tòi, phát hiện những kinh nghiệm về công tác GD học sinh ngay khi còn học ở trường Đại học.

Có kinh nghiệm về công tác GD nhân cách học sinh là mục tiêu của quá trình học tập của SV sư phạm. Vì thế, khi còn học ở trường SP, SV phải tích cực tham gia học tập đầy đủ môn Giáo dục học và Tâm lý học. Trong quá trình học tập, cần chú ý lắng nghe những tình huống mà GV nêu ra, biết phân tích và vận dụng những tri thức đã học để giải quyết tốt tình huống.

Mặt khác, trong quá trình học tập tại trường, SV phải tham dự đầy đủ các hoạt động ngoại khóa như: Hội thi nghiệp vụ sư phạm; rèn luyện kỹ năng SP cho SV sư phạm.

Ngoài ra, trong quá trình tham gia kiến tập, thực tập sư phạm, SV có thêm thời gian để tiếp cận, cọ xát với các hoạt động GD diễn ra trong thực tiễn nhà trường phổ thông và ngoài xã hội, vì vậy mà SV có điều kiện trải nghiệm, học hỏi và tích lũy thêm kiến thức để làm hành trang sau khi ra trường.

Biện pháp 4: SV phải luôn ý thức KNGQTHSP là KN quan trọng, nó chính là năng lực nghiệp vụ SP không thể thiếu được của bất kỳ một giáo viên nào khi tham gia đứng lớp.

Ý thức được điều này, ngay từ khi còn học ở trường Đại học, SV phải không ngừng rèn luyện, tự trang bị cho mình những tri thức và kinh nghiệm cần thiết để tự mình có thể làm tốt công tác GD học sinh sau này ở trường phổ thông.

Biện pháp 5: Nhà trường cần tăng cường tổ chức Hội thi nghiệp vụ sư phạm (NVSP) cấp khoa, cấp trường để tất cả SV được tham gia.

Hội thi NVSP là một hoạt động chuyên môn rất quan trọng ở các trường SP. Thông qua hội thi, SV sẽ được trải nghiệm với những kiến thức NVSP, các cách GQTHSP khác nhau, điều đó sẽ giúp SV bản lĩnh hơn và tạo tâm thế tốt trước khi các em trở thành người GV thực thụ.

3. Kết luận

Trên đây là một số biện pháp SP mà chúng tôi mạnh dạn đề xuất với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy học môn GDH và có được cơ sở để giúp SV làm tốt công tác GD học sinh ở trường phổ thông sau này. Việc rèn luyện KNGQTHSP cho SV sư phạm trường ĐH Quảng Nam là việc làm thiết thực mà Nhà trường và mỗi giảng viên khoa Tâm lý – Giáo dục đều phải chú ý. Bởi lẽ, có KN giải quyết các THSP thì SV mới vững vàng, tự tin trong nghề nghiệp tương lai của mình. Tuy nhiên, tùy theo nội dung bài học, đối tượng học sinh, đặc điểm vùng miền mà mỗi SV có thể lựa chọn cho mình những biện pháp SP khác nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bùi Thị Mùi (2005), Tình huống sư phạm trong công tác giáo dục học sinh phổ thông, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.

[2]. Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định (2007), Giáo dục học – Tập 1, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.

[3]. Phạm Trung Thanh (chủ biên), Nguyễn Thị Lý (2005), Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.

Title: SOLVING SKILLS PATTERNS CASE PEDAGOGY

UNIVERSITY STUDENTS OF QUANG NAM

Abstract: Education subject in pedagogical schools have an important role in the formation and development of skills general learning skills, problem solving pedagogy in particular. Recently, pedagogical situations so much attention of the researchers in the field of teacher training at the university. To resolve the tensions in the relationship between the educator and the offender and a number of other situations occurring in the educational process, requires educators to quickly react and detect correct the situation, find out the optimal measures to address that situation in order to keep good relations, formation and development of personality education and team building strong offender. This article will address some of the problems of pedagogical situations, reality-solving skills pedagogical situations, the skill training measures to resolve the situation for the student teachers' pedagogical University Square Male.

Key words: Pedagogical situations; skill; student; solution; solving skills pedagogical situations.

TS. Nguyễn Thị Kim Liên, Trường Đại học Quảng Nam

Ý kiến bạn đọc
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).