THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ TOÀN DIỆN
Đồng Văn Mão - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Tóm tắt: Giáo dục trong kỷ nguyên số đang chứng kiến một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ, mang lại nhiều cơ hội đột phá như cá nhân hóa lộ trình học tập, nâng cao hiệu quả giảng dạy và quản lý thông qua công nghệ. Tuy nhiên, quá trình này cũng đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, năng lực số của giáo viên và học sinh, chi phí đầu tư, vấn đề bảo mật thông tin và sự phân hóa trong tiếp cận công nghệ. Để giải quyết những thách thức này, cần có chiến lược dài hạn, đầu tư đồng bộ, đào tạo lại nguồn nhân lực, và sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước, trường học, doanh nghiệp và xã hội.
Từ khóa: Giáo dục, kỷ nguyên số, thách thức, cơ hội, chuyển đổi số
1. Mở đầu
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà công nghệ số không chỉ thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mà còn đang làm thay đổi căn bản cách con người học tập, làm việc và tương tác với thế giới. Kỷ nguyên số được định hình bởi sự phát triển vượt bậc của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing) và thực tế ảo (VR/AR), đã tạo nên một bối cảnh mới, nơi giáo dục buộc phải thích ứng, thay đổi để tồn tại và phát triển.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy và quản lý, mà là một quá trình đổi mới toàn diện và sâu sắc từ triết lý, chương trình, phương pháp đến cách thức tổ chức hệ thống giáo dục, nhằm xây dựng một nền giáo dục mở, linh hoạt, cá thể hóa, học tập suốt đời và hội nhập quốc tế. Đây là xu thế toàn cầu và cũng là một đòi hỏi cấp thiết trong quá trình hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã xác định chuyển đổi số là một trong ba trụ cột của chiến lược phát triển quốc gia. Ngành giáo dục và đào tạo được xác định là lĩnh vực ưu tiên trong tiến trình này. Những chính sách lớn như Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Chương trình chuyển đổi số ngành giáo dục; Chiến lược phát triển giáo dục 2021 - 2030… đều thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc tận dụng cơ hội của công nghệ số để nâng cao chất lượng giáo dục, thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức, và hình thành một xã hội học tập.
Tuy nhiên, cùng với những cơ hội, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục cũng đối diện với nhiều thách thức, từ hạ tầng công nghệ, năng lực số của giáo viên, học sinh, đến hệ sinh thái giáo dục số chưa hoàn thiện, vấn đề an toàn thông tin, bất bình đẳng số giữa các vùng, miền…
2. Nội dung
2.1. Bối cảnh, yêu cầu, thời cơ chuyển đổi số trong giáo dục
2.1.1. Bối cảnh và yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục. Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, điều này đã đẩy nhanh sự hình thành và phát triển của học tập số (digital learning), giáo dục mở và từ xa (MOOCs, micro-credentials…), các mô hình giáo dục linh hoạt, cá nhân hóa học tập theo nhu cầu từng người học, trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục phân tích dữ liệu học tập để gợi ý phương pháp phù hợp, thiết kế bài học tự động, đánh giá kết quả học tập theo năng lực, internet vạn vật (IoT) và thực tế ảo (VR/AR) giúp học sinh trải nghiệm mô phỏng các tình huống học tập thực tiễn.
Nhiều quốc gia phát triển như Phần Lan, Singapore, Hàn Quốc, Úc, Canada... đã đưa chuyển đổi số trở thành chiến lược trọng tâm trong giáo dục quốc gia, gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, xã hội học tập và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Tại Việt Nam, công cuộc chuyển đổi số giáo dục diễn ra trong bối cảnh nhu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản quan trọng về chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020), chương trình chuyển đổi số ngành giáo dục đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022) và chiến lược phát triển giáo dục 2021 - 2030 nhấn mạnh việc "xây dựng nền giáo dục số" và phát triển năng lực số cho giáo viên, học sinh.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục. Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là một xu thế mà là một đòi hỏi tất yếu của thời đại. Ngành Giáo dục Việt Nam cần thực hiện chuyển đổi số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa, thay đổi cách dạy, cách học để phù hợp với người học thế hệ số (sinh ra trong môi trường công nghệ), xây dựng hệ sinh thái giáo dục số toàn diện, trong đó mọi chủ thể, từ cơ quan quản lý, trường học, giáo viên, người học, phụ huynh đến cộng đồng doanh nghiệp đều được kết nối, chia sẻ và phát triển, thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục, đảm bảo công bằng và bao trùm, đặc biệt với nhóm học sinh vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật, người lớn tuổi và thúc đẩy học tập suốt đời, giúp người dân có cơ hội học tập mọi lúc, mọi nơi, linh hoạt theo nhu cầu cá nhân và thay đổi của thị trường lao động.
Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số trong giáo dục không còn là lựa chọn, mà là một yêu cầu cấp thiết, là "chìa khóa" để mở ra cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo tính công bằng, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
2.1.2. Những cơ hội lớn của giáo dục trong kỷ nguyên số. Trong kỷ nguyên số, giáo dục đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có, không chỉ về mặt công nghệ mà còn về cách tiếp cận tri thức, cách tổ chức dạy học, quản trị nhà trường và nâng cao năng lực người học. Những cơ hội này mở ra triển vọng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, phù hợp với yêu cầu của xã hội tri thức và phát triển bền vững.
Chuyển đổi số mở rộng tiếp cận tri thức, thu hẹp khoảng cách giáo dục. Giáo dục trở nên dễ tiếp cận hơn bao giờ hết nhờ các nền tảng học tập trực tuyến (MOOCs, học liệu mở, thư viện số), giúp người học ở mọi nơi, mọi lúc đều có thể tiếp cận tri thức chất lượng cao. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật, người lớn tuổi… có thể học tập thông qua thiết bị cá nhân, giảm phụ thuộc vào cơ sở vật chất truyền thống, góp phần thực hiện giáo dục công bằng và bao trùm, tạo điều kiện cho mọi người học suốt đời.
Đổi mới phương pháp và mô hình dạy - học. Công nghệ số cho phép áp dụng các mô hình học tập tiên tiến như học tập kết hợp (blended learning); lớp học đảo ngược (flipped classroom); dạy học phân hóa, cá nhân hóa dựa trên dữ liệu học tập và trí tuệ nhân tạo. Các công cụ số như AI, chatbot, thực tế ảo (VR), mô phỏng 3D... hỗ trợ làm bài, sửa bài, luyện tập theo năng lực từng học sinh, tạo nên trải nghiệm học tập sinh động và hấp dẫn. Tăng cường học tập qua trải nghiệm số, dự án, hợp tác nhóm trực tuyến, góp phần phát triển năng lực tự học, tư duy phản biện, sáng tạo các phẩm chất của công dân toàn cầu.
Tối ưu hóa quản lý giáo dục và nhà trường thông minh. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục giúp tự động hóa công tác quản lý học sinh, điểm số, hồ sơ, lịch học; kết nối dữ liệu liên thông giữa các cơ sở giáo dục, các cấp quản lý, đảm bảo minh bạch và ra quyết định dựa trên dữ liệu; giảm tải công việc hành chính cho giáo viên, để họ có nhiều thời gian đầu tư cho chuyên môn, hướng đến xây dựng mô hình trường học thông minh, quản trị số, đánh giá số.
Phát triển năng lực số và chuẩn bị nguồn nhân lực cho xã hội tương lai. Người học không chỉ tiếp thu kiến thức, mà còn phát triển năng lực sử dụng công nghệ, xử lý thông tin, tương tác trong môi trường số những kỹ năng thiết yếu trong thế kỷ XXI. Cơ hội tiếp cận sớm với các ngành nghề mới như khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ giáo dục... từ phổ thông tới đại học. Gắn kết giữa giáo dục - doanh nghiệp - công nghệ, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo trong trường học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. Mỗi công dân có thể học tập linh hoạt, liên tục qua điện thoại, máy tính bảng, nền tảng số. Các chương trình học ngắn hạn, cấp chứng chỉ trực tuyến tạo điều kiện học tập liên tục, đáp ứng nhu cầu thay đổi nghề nghiệp, thích ứng với thị trường lao động linh hoạt, tạo tiền đề cho xây dựng xã hội học tập, nơi mỗi người dân đều có cơ hội học và làm chủ cuộc sống trong kỷ nguyên số.
Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế. Chuyển đổi số giúp tiếp cận các chương trình đào tạo quốc tế, liên kết học tập xuyên biên giới, hợp tác nghiên cứu toàn cầu. Chuẩn hóa năng lực giáo viên, học sinh theo các chuẩn mực quốc tế về kỹ năng số, năng lực ICT, ngôn ngữ số…Việt Nam có cơ hội nâng cao vị thế giáo dục trong khu vực nếu tận dụng tốt công nghệ và hội nhập số.
2.2. Những thách thức trong quá trình chuyển đổi số giáo dục
Hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ. Nhiều địa phương, nhất là vùng nông thôn, miền núi còn thiếu thiết bị, đường truyền mạng yếu, gây cản trở lớn cho việc triển khai dạy học trực tuyến. Chênh lệch trình độ tiếp cận công nghệ: Không phải tất cả giáo viên và học sinh đều có kỹ năng số cần thiết. Một bộ phận giáo viên chưa được đào tạo bài bản về công nghệ giáo dục hiện đại, gây ra sự lúng túng trong quá trình chuyển đổi. Vấn đề bảo mật và an toàn thông tin: Việc sử dụng công nghệ đồng nghĩa với việc phải đối mặt với nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá nhân, tấn công mạng và các vấn đề đạo đức trong môi trường số. Áp lực thay đổi chương trình và phương pháp giảng dạy: Chuyển đổi số không chỉ đòi hỏi sự đầu tư vào công nghệ mà còn là thay đổi tư duy, đổi mới phương pháp sư phạm, xây dựng lại nội dung giảng dạy theo hướng tích hợp và linh hoạt.
Khoảng cách số và bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Chênh lệch về hạ tầng công nghệ giữa các vùng miền, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo. Thiếu thiết bị học tập cá nhân (máy tính, điện thoại thông minh, kết nối internet) khiến nhiều học sinh không thể tham gia đầy đủ các hoạt động dạy học số. Tình trạng “trẻ em số” và “trẻ em ngoại vi số” diễn ra ngay trong cùng một hệ thống giáo dục, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng cơ hội học tập.
Năng lực số của giáo viên và học sinh còn hạn chế. Phần lớn giáo viên chưa được đào tạo bài bản về sử dụng các công cụ công nghệ dạy học (LMS, phần mềm hỗ trợ đánh giá, xây dựng bài giảng số…). Nhiều giáo viên còn tâm lý e ngại đổi mới, vẫn nặng về dạy chữ, thiếu kỹ năng tổ chức hoạt động học tích cực qua môi trường số. Học sinh tuy quen với thiết bị công nghệ nhưng thiếu kỹ năng học trực tuyến hiệu quả, dễ bị sao nhãng, thiếu tự chủ, hoặc bị lệ thuộc vào công nghệ giải trí.
Hệ sinh thái giáo dục số chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ. Các phần mềm, nền tảng số sử dụng trong các trường học rời rạc, phân tán, không có sự liên thông dữ liệu. Thiếu hệ học liệu số hóa phong phú, đa dạng, đạt chuẩn sư phạm, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và chương trình giáo dục Việt Nam. Chưa có hệ thống đánh giá học tập số được chuẩn hóa và công nhận rộng rãi để thay thế các hình thức kiểm tra truyền thống.
Thiếu khung pháp lý và chính sách đồng bộ hỗ trợ chuyển đổi số. Hệ thống văn bản pháp quy về học liệu số, dạy học trực tuyến, quản trị dữ liệu giáo dục, bảo mật thông tin… còn chậm ban hành hoặc thiếu cụ thể. Chưa có cơ chế tài chính ổn định, lâu dài để đầu tư cho chuyển đổi số tại các trường phổ thông, đặc biệt là trường công lập ở địa phương khó khăn. Chính sách đào tạo – bồi dưỡng giáo viên về công nghệ còn manh mún, thiếu tính hệ thống.
Vấn đề bảo mật, an toàn thông tin và đạo đức trong môi trường số. Dữ liệu giáo dục (hồ sơ học sinh, kết quả học tập, thông tin cá nhân…) dễ bị rò rỉ, tấn công mạng nếu thiếu giải pháp bảo mật hiệu quả. Tình trạng gian lận học thuật, đạo văn, học hộ, thi hộ… gia tăng khi thiếu kiểm soát trong môi trường học trực tuyến. Việc trẻ em tiếp xúc quá sớm với môi trường số, không có định hướng, dễ dẫn đến nghiện internet, lệch chuẩn hành vi hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nội dung không lành mạnh.
Thách thức về đổi mới tư duy quản lý và triết lý giáo dục. Nhiều cán bộ quản lý còn quen với mô hình điều hành giáo dục truyền thống, chưa sẵn sàng thay đổi theo cách quản trị mở, linh hoạt và dựa trên dữ liệu. Chuyển đổi số không chỉ là chuyển từ "giáo án giấy" sang "giáo án PowerPoint", mà là đổi mới triết lý giáo dục, chuyển từ "dạy để thi" sang "dạy để phát triển người học toàn diện", điều này cần thời gian và sự thay đổi toàn diện hệ tư duy trong toàn ngành.
Chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình mang tính cách mạng, nhưng cũng đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầu tư đồng bộ và thay đổi từ gốc rễ. Những thách thức nêu trên cho thấy rằng, để chuyển đổi số không trở thành phong trào hoặc hình thức, ngành Giáo dục cần có chiến lược tổng thể, gắn kết chặt chẽ giữa hạ tầng - con người - nội dung - chính sách - văn hóa học tập.
2.3. Định hướng và giải pháp chuyển đổi số trong giáo dục
2.3.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách. Chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình đổi mới toàn diện và lâu dài, đòi hỏi một hệ thống thể chế và chính sách đồng bộ, linh hoạt, hiện đại và kịp thời. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng giúp định hướng, điều tiết, hỗ trợ và tạo động lực cho các chủ thể giáo dục thực hiện chuyển đổi số một cách hiệu quả và bền vững. Một số giải pháp:
Phát triển hạ tầng công nghệ đồng bộ, đảm bảo kết nối mạng và thiết bị học tập cho mọi đối tượng. Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về năng lực công nghệ thông tin và phương pháp dạy học hiện đại. Tăng cường hợp tác công - tư, huy động nguồn lực xã hội hóa trong đầu tư cho chuyển đổi số. Xây dựng hệ sinh thái học tập số với nền tảng số quốc gia, thư viện học liệu mở, hệ thống đánh giá trực tuyến khoa học.
Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho giáo dục số. Ban hành và cập nhật hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với các hình thức dạy học mới như: học trực tuyến, học kết hợp (blended learning), giáo dục mở, giáo dục số, đánh giá trực tuyến…Cụ thể hóa các quy định liên quan đến chuẩn hóa nội dung học liệu số; Kiểm định chất lượng chương trình giáo dục số; Công nhận kết quả học tập qua các nền tảng số và hình thức phi chính quy (micro-learning, MOOC, chứng chỉ trực tuyến); Quyền sở hữu trí tuệ đối với học liệu số và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Hoàn thiện chính sách tài chính và đầu tư công cho chuyển đổi số. Thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước phù hợp cho các địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, nhằm phát triển hạ tầng công nghệ, thiết bị học tập, kho học liệu và năng lực số cho giáo viên, học sinh. Khuyến khích xã hội hóa và huy động nguồn lực từ doanh nghiệp công nghệ, tổ chức phi chính phủ, thông qua chính sách thu hút đầu tư, miễn giảm thuế, hợp tác công - tư (PPP). Tạo điều kiện cho các trường học được tự chủ trong việc lựa chọn giải pháp công nghệ, nền tảng số phù hợp, gắn với trách nhiệm và kiểm định chất lượng đầu ra.
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng năng lực số. Ban hành chuẩn năng lực số dành cho giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh ở từng cấp học, làm cơ sở cho việc tổ chức đào tạo, đánh giá và phát triển nghề nghiệp. Đưa nội dung công nghệ giáo dục, dạy học trực tuyến, kỹ năng số vào chương trình đào tạo sư phạm và bồi dưỡng thường xuyên. Có cơ chế công nhận tín chỉ học tập suốt đời qua các hình thức học số, mở rộng cơ hội cho người học linh hoạt trong lộ trình học tập cá nhân.
Chính sách dữ liệu và bảo mật thông tin giáo dục. Thiết lập hệ thống dữ liệu giáo dục quốc gia dùng chung, kết nối liên thông từ Trung ương đến địa phương, từ nhà trường đến cơ quan quản lý. Ban hành quy định rõ ràng về bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh, giáo viên, kiểm soát việc sử dụng AI trong giáo dục, đảm bảo đạo đức và quyền riêng tư trong môi trường học tập số. Tăng cường năng lực pháp lý, kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục trong việc bảo vệ hệ thống thông tin và ứng phó với các rủi ro an ninh mạng.
Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục số. Hỗ trợ các mô hình giáo dục sáng tạo, giáo dục khởi nghiệp ứng dụng công nghệ, xây dựng hệ sinh thái đổi mới giáo dục dựa trên công nghệ số. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển giải pháp học tập thông minh, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, qua đó tạo động lực đổi mới từ cơ sở. Có chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế về giáo dục số, chuyển giao công nghệ, chia sẻ tài nguyên học tập toàn cầu, thúc đẩy hội nhập.
Hoàn thiện thể chế và chính sách là bước đi nền tảng, mang tính dẫn đường cho toàn bộ tiến trình chuyển đổi số giáo dục. Thể chế cần đi trước một bước, vừa bảo đảm quyền lợi của người học, vừa tạo không gian đổi mới sáng tạo và phải có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tiễn giáo dục.
2.3.2. Đào tạo và bồi dưỡng năng lực số. Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ không thể thành công nếu nguồn nhân lực không đủ năng lực số để triển khai, vận hành và thích ứng. Do đó, việc đào tạo và bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và người học là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm tính bền vững và hiệu quả trong chuyển đổi số toàn diện.
Xác định chuẩn năng lực số cho các đối tượng trong giáo dục. Xây dựng và ban hành Khung năng lực số dành cho giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh, sinh viên theo cấp độ, phù hợp với đặc điểm từng bậc học và yêu cầu của giáo dục trong thời đại số. Chuẩn năng lực cần bao gồm khả năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Thiết kế, tổ chức, đánh giá hoạt động học tập trực tuyến hoặc kết hợp; sử dụng công cụ số để cá nhân hóa việc học, hướng dẫn học sinh tra cứu, phân tích thông tin và phát triển tư duy phản biện, nhận biết và xử lý các vấn đề về an toàn thông tin, đạo đức số.
Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý. Đưa kỹ năng số, ứng dụng công nghệ giáo dục vào chương trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm, đảm bảo sinh viên sư phạm có đủ năng lực dạy học trong môi trường số ngay từ khi ra trường. Xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên đang giảng dạy, tập trung vào sử dụng các nền tảng học tập trực tuyến, phần mềm LMS, thiết kế bài giảng số, học liệu tương tác, quản lý lớp học số, đánh giá trực tuyến, tổ chức hoạt động học sinh chủ động, hợp tác, sáng tạo trên môi trường số. Khuyến khích phương thức bồi dưỡng linh hoạt: trực tuyến, học kết hợp, mô hình tự học có hướng dẫn, diễn đàn trao đổi nghề nghiệp ảo.
Tăng cường năng lực số cho người học. Tổ chức các chương trình giáo dục kỹ năng số cho học sinh, sinh viên từ cấp tiểu học đến đại học kỹ năng tìm kiếm, chọn lọc, đánh giá và sử dụng thông tin trên mạng, kỹ năng học tập trực tuyến hiệu quả và quản lý thời gian, kỹ năng bảo mật thông tin cá nhân, ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng.
Tích hợp các nội dung giáo dục công dân số vào chương trình chính khóa hoặc hoạt động trải nghiệm - hướng nghiệp. Phát triển các câu lạc bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo, các sân chơi STEM, AI, lập trình... để tạo môi trường rèn luyện kỹ năng số và khơi dậy tư duy sáng tạo.
Hỗ trợ kỹ năng số cho phụ huynh và cộng đồng. Phụ huynh là người đồng hành với học sinh trong quá trình học tập tại nhà, đặc biệt trong học trực tuyến. Vì vậy, cần tổ chức các lớp hướng dẫn sử dụng nền tảng học tập, cách hỗ trợ con học tại nhà, tuyên truyền nâng cao nhận thức về an toàn thông tin, đạo đức số cho gia đình và cộng đồng. Xây dựng các tài liệu hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu, bằng nhiều hình thức (video, tài liệu in, podcast…) để tiếp cận được với các nhóm đối tượng có trình độ công nghệ khác nhau.
Đào tạo và bồi dưỡng năng lực số là điều kiện tiên quyết và xuyên suốt trong chuyển đổi số giáo dục. Chỉ khi giáo viên làm chủ công nghệ, học sinh sử dụng công nghệ một cách hiệu quả, và cộng đồng cùng tham gia, thì chuyển đổi số mới thực sự trở thành một cuộc cách mạng về chất lượng giáo dục, chứ không dừng lại ở chuyển đổi công cụ giảng dạy.
2.3.3. Phát triển hạ tầng và hệ sinh thái số đồng bộ. Chuyển đổi số trong giáo dục không thể diễn ra hiệu quả nếu thiếu một hạ tầng kỹ thuật vững chắc và một hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ, tích hợp, mở và bền vững. Đây là nền móng quan trọng giúp kết nối các thành phần của hệ thống giáo dục, từ nhà trường, giáo viên, người học đến cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng xã hội.
Phát triển hạ tầng số hiện đại và đồng bộ. Bảo đảm hạ tầng mạng Internet tốc độ cao đến từng cơ sở giáo dục, kể cả tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Trang bị thiết bị công nghệ phù hợp cho nhà trường, phòng học và cá nhân người học máy tính, máy chiếu, bảng tương tác, thiết bị đầu cuối (máy tính bảng, điện thoại thông minh) cho học sinh khó khăn. Xây dựng phòng học thông minh, thư viện số, phòng STEM - AI tại các trường phổ thông, trung tâm GDTX, cơ sở đào tạo nghề. Có cơ chế bảo trì, bảo dưỡng, nâng cấp định kỳ để hạ tầng số vận hành ổn định và an toàn.
Xây dựng hệ thống nền tảng số thống nhất và kết nối liên thông. Triển khai hệ thống quản lý học tập (LMS) dùng chung cho ngành giáo dục, có khả năng tích hợp với các phần mềm hiện hành (quản lý điểm, danh sách lớp, lịch học…). Thiết lập cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia, kết nối liên thông dữ liệu giữa các trường học, phòng/ban sở giáo dục, Bộ GD&ĐT và các ngành liên quan. Áp dụng mã định danh học sinh, giáo viên duy nhất toàn quốc, phục vụ học tập suốt đời, di chuyển vùng miền, chuyển cấp, kết nối dịch vụ số. Đảm bảo các hệ thống sử dụng chuẩn dữ liệu mở, có khả năng mở rộng, liên thông và bảo mật cao.
Phát triển kho học liệu số mở, đa dạng, chất lượng. Xây dựng kho học liệu số quốc gia bao gồm sách giáo khoa số, tài liệu tham khảo, học liệu tương tác, video bài giảng, mô phỏng số, học liệu được chuẩn hóa, thẩm định sư phạm và cập nhật thường xuyên, tích hợp khả năng tùy biến theo trình độ, vùng miền, nhu cầu cá nhân hóa học tập. Khuyến khích giáo viên, chuyên gia, tổ chức giáo dục sáng tạo học liệu mở (OER), chia sẻ trên nền tảng chung theo cơ chế công tác kiểm duyệt. Tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng, miễn phí hoặc chi phí thấp đối với mọi đối tượng, đặc biệt học sinh yếu thế.
Bảo đảm an toàn, bảo mật và dữ liệu giáo dục. Xây dựng hệ thống tường lửa, phần mềm chống xâm nhập, sao lưu dữ liệu, giám sát an toàn thông tin trong toàn hệ thống giáo dục. Có quy định rõ ràng về quyền riêng tư, quản lý, chia sẻ, khai thác dữ liệu giáo dục, theo đúng quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế. Tập huấn cán bộ kỹ thuật, giáo viên và học sinh về kỹ năng sử dụng công nghệ an toàn, ứng phó với rủi ro trên không gian mạng.
Tăng cường năng lực quản trị hệ sinh thái số giáo dục. Xây dựng năng lực quản lý và vận hành hạ tầng số cho đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật viên tại các cơ sở giáo dục. Áp dụng các công cụ phân tích dữ liệu (Learning Analytics, AI) để hỗ trợ đánh giá, ra quyết định trong dạy học và quản lý giáo dục. Tạo môi trường số tương tác, hỗ trợ học tập - giảng dạy - tư vấn - đánh giá liên tục, kết nối hiệu quả giữa nhà trường - giáo viên - người học - phụ huynh - doanh nghiệp - cơ quan quản lý.
Phát triển hạ tầng và hệ sinh thái số là điều kiện tiên quyết để tạo ra một môi trường học tập hiện đại, linh hoạt và bao trùm. Một hệ sinh thái số đồng bộ, kết nối và mở sẽ tạo nền tảng vững chắc để giáo dục chuyển mình từ “dạy chữ” sang “dạy người”, từ giáo dục truyền thống sang giáo dục khai phóng, cá nhân hóa và học tập suốt đời trong kỷ nguyên số.
2.3.4. Tăng cường hợp tác công - tư trong chuyển đổi số giáo dục. Chuyển đổi số trong giáo dục là một nhiệm vụ chiến lược, mang tính hệ thống và lâu dài, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn cả về tài chính, công nghệ, con người và quản lý. Trong bối cảnh nguồn lực công còn hạn chế, việc tăng cường hợp tác công - tư (Public–Private Partnership - PPP) là một giải pháp then chốt để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số giáo dục nhanh chóng và hiệu quả.
- Vai trò của hợp tác công - tư trong giáo dục số. Doanh nghiệp công nghệ có thế mạnh về nền tảng, giải pháp kỹ thuật, sản phẩm và dịch vụ số hiện đại, có thể hỗ trợ hệ thống giáo dục cập nhật công nghệ kịp thời. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường pháp lý thuận lợi, định hướng chiến lược và đảm bảo tính công bằng, bao trùm trong tiếp cận công nghệ. Nhà trường và cơ sở đào tạo là nơi triển khai thực tiễn, cần được trao quyền và hỗ trợ để chủ động hợp tác sáng tạo, thử nghiệm các mô hình mới. Xã hội và cộng đồng (phụ huynh, tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông) góp phần thúc đẩy nhận thức, tạo sự ủng hộ và giám sát quá trình đổi mới.
- Các lĩnh vực ưu tiên trong hợp tác công - tư giáo dục số. Phát triển hạ tầng và trang thiết bị công nghệ: Doanh nghiệp hỗ trợ cung cấp thiết bị (máy tính, máy tính bảng, hệ thống mạng…), đặc biệt tại các địa phương còn khó khăn, thí điểm mô hình “doanh nghiệp tài trợ - trường học triển khai” với cơ chế kiểm định, đánh giá minh bạch.
Xây dựng nền tảng số và kho học liệu: Hợp tác thiết kế nền tảng học tập (LMS, hệ thống đánh giá số, ngân hàng đề thi thông minh), phát triển học liệu mở (OER), bài giảng trực tuyến, mô phỏng số, trò chơi học tập do doanh nghiệp công nghệ phối hợp với chuyên gia sư phạm sản xuất.
Bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, học sinh: Doanh nghiệp tham gia tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số, tư duy số, kỹ năng an toàn mạng… miễn phí hoặc đồng tài trợ; xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo không gian số học đường tại các trường học, kết nối học sinh với công nghệ thực tiễn.
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong giáo dục, hợp tác tổ chức các cuộc thi STEM, lập trình, AI cho học sinh, sinh viên, hỗ trợ các ý tưởng đổi mới giáo dục từ học sinh - giáo viên thành sản phẩm giáo dục công nghệ thực tế.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy hợp tác công - tư hiệu quả. Ban hành khung pháp lý rõ ràng về đầu tư công - tư trong lĩnh vực giáo dục, đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và tính minh bạch cho các bên. Có chính sách ưu đãi (giảm thuế, cấp phép nhanh, công nhận kết quả hợp tác…) cho các doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình chuyển đổi số giáo dục. Thiết lập kênh đối thoại thường xuyên giữa Bộ GD&ĐT, các địa phương và doanh nghiệp công nghệ, tạo sự kết nối chặt chẽ giữa nhu cầu thực tiễn và giải pháp công nghệ.
Chuyển đổi số giáo dục là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mô hình hợp tác công - tư không chỉ giúp chia sẻ nguồn lực, mà còn tạo ra giá trị cộng hưởng, thúc đẩy sáng tạo, tăng hiệu quả đầu tư và đảm bảo tính thực tiễn trong triển khai. Khi được xây dựng trên nền tảng minh bạch, bình đẳng và hướng đến lợi ích giáo dục lâu dài, hợp tác công - tư sẽ là động lực quan trọng trong quá trình hiện đại hóa giáo dục Việt Nam.
2.3.5. Xây dựng văn hóa học tập suốt đời trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh chuyển đổi số và xã hội tri thức, học tập suốt đời không còn là lựa chọn mà trở thành một năng lực thiết yếu của mỗi cá nhân để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, nghề nghiệp và cuộc sống. Kỷ nguyên số mang lại nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển văn hóa học tập suốt đời, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi phải đổi mới tư duy giáo dục và tổ chức xã hội học tập một cách căn bản.
Ý nghĩa của học tập suốt đời trong kỷ nguyên số. Không ai có thể học một lần cho cả cuộc đời, bởi tri thức nhân loại thay đổi nhanh chóng, công việc, kỹ năng và môi trường sống luôn biến động. Công nghệ số tạo điều kiện để học mọi lúc, mọi nơi, theo nhu cầu cá nhân, điều kiện thuận lợi chưa từng có để phổ cập học tập suốt đời. Học tập suốt đời là trụ cột của xã hội học tập, là yếu tố then chốt để xây dựng nền kinh tế tri thức, công dân số và quốc gia phát triển bền vững.
Xây dựng môi trường thuận lợi cho học tập suốt đời trên nền tảng số. Phát triển nền tảng học tập mở, thư viện số, cổng học liệu quốc gia, tích hợp các khóa học miễn phí, chứng chỉ ngắn hạn, video học tập… phù hợp với mọi độ tuổi. Hỗ trợ người dân tiếp cận học tập bằng thiết bị di động, ứng dụng thông minh (app học tập, chatbot hỗ trợ học, AI gia sư…). Thiết kế các lộ trình học tập linh hoạt, mô-đun hóa, công nhận tín chỉ rời rạc giúp người học có thể học theo năng lực, thời gian và mục tiêu cá nhân.
Phát triển kỹ năng và thói quen tự học trong môi trường số. Tăng cường giáo dục năng lực tự học cho học sinh ngay từ phổ thông: kỹ năng tìm kiếm thông tin, quản lý thời gian, đặt mục tiêu học tập, đánh giá bản thân...Khuyến khích học sinh, sinh viên chủ động tự học qua nền tảng mở (MOOCs, Coursera, edX, Udemy…), xây dựng blog học tập, nhóm học trực tuyến. Xây dựng hình mẫu người học chủ động, người lao động biết học hỏi để lan tỏa giá trị học tập trong cộng đồng.
Hỗ trợ người lớn, người lao động, người yếu thế học tập suốt đời. Mở rộng các chương trình học trực tuyến, ngắn hạn, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng nghề (reskilling - upskilling) cho người lao động trung niên, người làm nghề tự do, nông dân, lao động phi chính thức. Tổ chức các khóa học số cho người khuyết tật, người già, phụ nữ ở vùng khó khăn, đảm bảo tiếp cận giáo dục bình đẳng trong thời đại số. Phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên kết nối với nền tảng học tập trực tuyến toàn quốc.
Xây dựng hệ giá trị và nhận thức xã hội về học tập suốt đời. Đưa thông điệp “học để làm người, học để làm việc, học để thích ứng, học để sống tốt” trở thành tư tưởng chủ đạo trong giáo dục thời đại mới. Lồng ghép nội dung giáo dục về tư duy học tập suốt đời, công dân học tập, trách nhiệm học tập với xã hội vào chương trình các cấp học. Đẩy mạnh truyền thông, xây dựng hình ảnh “xã hội học tập thông minh - công dân số học tập suốt đời”, khơi dậy động lực học tập trong toàn dân.
Xây dựng văn hóa học tập suốt đời trong kỷ nguyên số không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục, mà là trách nhiệm toàn xã hội. Văn hóa này cần được bồi đắp từ trong mỗi nhà trường, gia đình, doanh nghiệp đến cộng đồng. Khi học tập trở thành lối sống, nhu cầu tự nhiên và quyền của mỗi người dân, thì chuyển đổi số trong giáo dục mới thực sự mang lại giá trị sâu xa và bền vững.
3. Kết luận
Từ thực tiễn triển khai chuyển đổi số tại Việt Nam, có thể khẳng định, chuyển đổi số mang đến những cơ hội lớn cho giáo dục, tuy nhiên, quá trình này cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức phức tạp như: Bất bình đẳng số, năng lực con người chưa đáp ứng yêu cầu, hạ tầng còn thiếu đồng bộ, thể chế chưa theo kịp và văn hóa học tập chưa chuyển đổi tương thích với thời đại số.
Để tận dụng hiệu quả cơ hội và vượt qua thách thức, chuyển đổi số giáo dục cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm, liên ngành và liên lĩnh vực, trong đó cần hoàn thiện thể chế và chính sách phù hợp với giáo dục số, bảo đảm hành lang pháp lý, nguồn lực đầu tư, quản lý dữ liệu và bảo vệ người học trong môi trường mạng. Đào tạo và bồi dưỡng năng lực số cho toàn bộ đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh, người lao động và cộng đồng nhằm bảo đảm tính chủ động, sáng tạo và thích ứng. Phát triển hạ tầng và hệ sinh thái số giáo dục một cách đồng bộ, hiện đại, an toàn và mở - tạo điều kiện cho dạy học thông minh, quản trị nhà trường số và học tập cá nhân hóa. Thúc đẩy hợp tác công - tư và xã hội hóa chuyển đổi số để huy động các nguồn lực công nghệ, tài chính, sáng tạo từ doanh nghiệp, tổ chức và cộng đồng xã hội. Xây dựng văn hóa học tập suốt đời trên nền tảng số, đưa việc học trở thành thói quen, nhu cầu, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người trong suốt cuộc đời.
Chuyển đổi số trong giáo dục không phải là đích đến, mà là một hành trình lâu dài đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ, phối hợp đồng bộ và đổi mới tư duy trong toàn hệ thống. Chỉ khi đặt người học vào trung tâm, lấy giá trị nhân văn và phát triển bền vững làm mục tiêu, chúng ta mới có thể xây dựng một nền giáo dục hiện đại, công bằng và bao trùm sẵn sàng cho tương lai số của dân tộc.
Tài liệu tham khảo chính
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Chương trình chuyển đổi số ngành giáo dục đến năm 2025, định hướng đến 2030.
2. Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
3. Phạm Tất Dong (2021), Giáo dục người lớn trong thời đại số, NXB Giáo dục Việt Nam.
4. UNESCO (2022), Các thách thức này bao gồm: eimagining our futures together: A new social contract for education.
5. OECD (2021), Digital Education Outlook 2021: Pushing the Frontiers with AI, Blockchain and Robots.
6. Nguyễn Thị Kim Dung (2023), "Chuyển đổi số giáo dục: Từ chính sách đến thực tiễn", Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 45.
7. Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.