1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN HỆ ĐÀO TẠO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

07:02 | 30/04/2026
aA

 

Đại tá Hoàng Anh Tuấn,

Hệ trưởng Hệ 2, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng là nhiệm vụ cốt lõi trong đào tạo đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn tại Học viện Chính trị. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ giảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên” trong bối cảnh mới.

Từ khóa: đạo đức cách mạng, giáo dục chính trị, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, Học viện Chính trị.

1. Mở đầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ngày càng cao. Không chỉ vững vàng về chuyên môn, đội ngũ này còn phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng. Vì vậy, việc tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên hệ đào tạo giảng viên tại Học viện Chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Giảng viên khoa học xã hội và nhân văn không chỉ truyền thụ tri thức chuyên môn mà còn trực tiếp tham gia định hướng tư tưởng, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị sống cho người học. Nội dung giảng dạy của họ gắn chặt với các vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hóa – xã hội, do đó yêu cầu về bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng và đạo đức cách mạng mang tính chuẩn mực, nêu gương rất cao.

Mặc dù mọi giảng viên đều cần có phẩm chất đạo đức tốt, nhưng đối với giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, yếu tố đạo đức cách mạng và tính định hướng tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục chính trị và sự hình thành nhân cách của người học.

Mục đích nghiên cứu của bài báo là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên hệ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn tại Học viện Chính trị; đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

2. Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức cách mạng cho học viên hệ sư phạm ngành khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội

Đạo đức cách mạng là hệ thống các chuẩn mực, giá trị đạo đức gắn với lý tưởng cách mạng, được hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Giáo dục đạo đức cách mạng nhằm hình thành ở người học thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, lối sống lành mạnh và tinh thần trách nhiệm cao.

Đối với học viên hệ đào tạo giảng viên, giáo dục đạo đức cách mạng không chỉ là nội dung học tập mà còn là yêu cầu bắt buộc trong quá trình tự rèn luyện, nhằm đảm bảo họ trở thành những người truyền bá tri thức và giá trị tư tưởng đúng đắn cho xã hội.

Các nhà khoa học và nhà giáo dục học đã tiếp cận đạo đức của giảng viên từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng đây là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng giáo dục và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách người học.

John Dewey cho rằng giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà là quá trình hình thành nhân cách thông qua trải nghiệm. Theo ông, đạo đức của giảng viên thể hiện ở tinh thần dân chủ trong giảng dạy; Tôn trọng người học; Khuyến khích tư duy độc lập và trách nhiệm xã hội. Giảng viên đại học phải đóng vai trò là người hướng dẫn, đồng hành, thay vì chỉ là người truyền đạt tri thức.

Paulo Freire là một trong những nhà lý luận giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ XX, nổi tiếng với tư tưởng giáo dục mang tính nhân văn và giải phóng con người. Ông nhấn mạnh đạo đức của người giảng viên gắn liền với trách nhiệm xã hội và sự giải phóng con người. Ông phê phán mô hình giáo dục nhồi nhét kiến thức. Ông đề cao tính đối thoại trong giảng dạy; tôn trọng người học như chủ thể; trách nhiệm đạo đức trong việc chống lại bất công xã hội. Theo Freire, giảng viên phải có ý thức chính trị và đạo đức rõ ràng trong hoạt động giáo dục.

Theo UNESCO, đạo đức nghề nghiệp của giảng viên đại học bao gồm: Tôn trọng chân lý khoa học và tự do học thuật; Công bằng, khách quan trong đánh giá người học; Trách nhiệm xã hội và đóng góp cho cộng đồng; Tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp quốc tế

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò đạo đức của người thầy. Người cho rằng, người thầy không chỉ truyền đạt tri thức mà còn phải là tấm gương về đạo đức cho người học noi theo. Theo Người, đạo đức cách mạng của người giảng viên thể hiện ở các phẩm chất như trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư. Đây là nền tảng lý luận quan trọng để xây dựng chuẩn mực đạo đức của giảng viên trong các nhà trường ở Việt Nam, đặc biệt là trong môi trường quân đội.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, trong đó đội ngũ nhà giáo giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục. Vì vậy, đạo đức của người giảng viên được Đảng đặc biệt quan tâm và đặt ở vị trí trung tâm trong xây dựng đội ngũ. Theo các văn kiện của Đảng, đạo đức của người giảng viên trước hết phải gắn với phẩm chất chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc, định hướng cho toàn bộ hoạt động giảng dạy và nghiên cứu.

Bên cạnh đó, Đảng nhấn mạnh người giảng viên phải có đạo đức nghề nghiệp trong sáng, thể hiện ở tinh thần trách nhiệm cao trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học; trung thực, khách quan, tôn trọng chân lý khoa học; tận tụy với người học, công bằng trong đánh giá. Đặc biệt, Đảng yêu cầu đội ngũ giảng viên phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, thực sự là tấm gương để người học noi theo. Điều này được thể hiện rõ trong các quan điểm về xây dựng đội ngũ nhà giáo “vừa hồng, vừa chuyên”, trong đó “hồng” (đạo đức, phẩm chất chính trị) là nền tảng.

Ngoài ra, trong bối cảnh hiện nay, Đảng còn nhấn mạnh đến yêu cầu chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục như bệnh thành tích, gian lận học thuật, thiếu trung thực trong nghiên cứu khoa học.

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, các nhà trường quân đội có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, sĩ quan – lực lượng nòng cốt của quân đội. Do đó, yêu cầu về đạo đức đối với giảng viên trong các nhà trường này có những nét đặc thù, cao hơn so với mặt bằng chung.

Quân ủy Trung ương xác định đội ngũ giảng viên phải hội tụ đầy đủ các phẩm chất của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, đồng thời là nhà giáo mẫu mực. Cụ thể:

Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Giảng viên nhà trường quân đội phải có bản lĩnh chính trị kiên định, không dao động trước mọi khó khăn, thách thức; tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống mẫu mực. Giảng viên phải thực hiện nghiêm các chuẩn mực đạo đức quân nhân, có lối sống giản dị, khiêm tốn, đoàn kết; chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước.

Thứ ba, gắn đạo đức với trách nhiệm trong giảng dạy và giáo dục. Không chỉ truyền thụ kiến thức, giảng viên còn trực tiếp giáo dục, rèn luyện học viên về phẩm chất chính trị, ý chí chiến đấu, tinh thần sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ.

Thứ tư, nêu cao tính nêu gương. Trong môi trường quân đội, tính nêu gương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mỗi giảng viên phải là hình mẫu về tác phong, kỷ luật, phương pháp công tác để học viên học tập và noi theo.

Thứ năm, trung thực khoa học và trách nhiệm học thuật. Giảng viên phải bảo đảm tính khoa học, chính xác trong giảng dạy; chống mọi biểu hiện sao chép, thiếu trung thực trong nghiên cứu; góp phần xây dựng môi trường học thuật lành mạnh trong quân đội.

Từ các quan điểm trên có thể rút ra rằng, đạo đức của giảng viên không chỉ là phẩm chất cá nhân mà còn là yêu cầu chính trị – xã hội. Đạo đức của giảng viên bao gồm các nội dung cơ bản về phẩm chất chính trị, tư tưởng; đạo đức nghề nghiệp; trung thực khoa học; trách nhiệm xã hội; tính nêu gương.

Đối với giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường quân đội, những yêu cầu này càng được nâng cao, đặc biệt ở phương diện bản lĩnh chính trị và vai trò định hướng tư tưởng. Đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị và tính nêu gương của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường quân đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây chính là cơ sở lý luận trực tiếp để xác định nội dung, yêu cầu và giải pháp giáo dục, rèn luyện đạo đức cho học viên hệ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn.

3. Thực trạng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên

3.1. Kết quả đạt được

Trong những năm qua, Học viện Chính trị đã chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức cho học viên. Nội dung giảng dạy được cập nhật, phương pháp đào tạo từng bước đổi mới, gắn lý luận với thực tiễn. Nhiều học viên có nhận thức đúng đắn về vai trò của đạo đức cách mạng, tích cực tham gia các hoạt động rèn luyện.

Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, lãnh đạo, chỉ huy Hệ Sư phạm đã tích cực chủ động nghiên cứu quán triệt và triển khai thực hiện các văn bản của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng. Trong đó, tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị ban hành. Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan của việc xây dựng đạo đức cách mạng hiện nay, đồng thời thể hiện sự phát triển tư duy của Đảng ta về đạo đức cách mạng góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ. Quy định số 144 là sự tiếp nối tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng, đồng thời góp phần cụ thể hóa nhiệm vụ xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Quy định 144 đã thể hiện đầy đủ, toàn diện những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cả về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần yêu nước, tôn trọng nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần đoàn kết, sáng tạo, gương mẫu, khiêm tốn của cán bộ, đảng viên. Quy định số 144 không chỉ là yêu cầu để giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng mà còn là tiêu chí để đánh giá bản lĩnh, trách nhiệm, lòng trung thành, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính gương mẫu, kỷ cương, đoàn kết, sáng tạo và sự cống hiến hy sinh, nỗ lực phấn đấu vươn lên trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế đáng chú ý. Nhận thức và động cơ rèn luyện chưa đồng đều. Một bộ phận học viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của đạo đức cách mạng đối với nghề nghiệp tương lai; còn biểu hiện học tập đối phó, thiếu ý thức tự giác tu dưỡng lâu dài.

Nội dung giáo dục chậm đổi mới. Một số nội dung còn nặng về lý luận, thiếu tính cập nhật và chưa gắn chặt với thực tiễn hoạt động giảng dạy, nghiên cứu cũng như môi trường quân đội.

Phương pháp giáo dục chưa phát huy tính chủ động của người học. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức còn mang tính một chiều, thiếu các hình thức trải nghiệm, tình huống thực tiễn, đối thoại và phản biện.

Hiệu quả nêu gương chưa thật sự rõ nét. Nêu gương lẫn nhau trong lớp, trong toàn khóa, toàn hệ chưa được thực hiện thường xuyên. Trong một số trường hợp, việc nêu gương của cán bộ, giảng viên chưa tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ, ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất đạo đức của học viên.

Công tác kiểm tra, đánh giá còn hình thức. Việc đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức chưa toàn diện, còn nặng về định tính, thiếu tiêu chí cụ thể và công cụ đo lường hiệu quả.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.

Nguyên nhân khách quan: Tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế làm xuất hiện nhiều giá trị đa dạng, trong đó có những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến nhận thức, lối sống của học viên. Sự bùng nổ thông tin, đặc biệt trên không gian mạng, khiến việc định hướng tư tưởng, giá trị đạo đức gặp nhiều khó khăn.

Nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, cán bộ quản lý chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục đạo đức; chưa coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm. Nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục chậm được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận học viên còn hạn chế; chưa hình thành động cơ phấn đấu bền vững. Cơ chế phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường chưa thật chặt chẽ; môi trường giáo dục chưa phát huy đầy đủ vai trò định hướng, hỗ trợ.

Những hạn chế và nguyên nhân nêu trên đặt ra yêu cầu cần có các giải pháp đồng bộ, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên trong thời gian tới.

4. Giải pháp tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên Hệ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự

Trong thời gian qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đào tạo một cách cơ bản, toàn diện, chuẩn hóa. Cùng với quá trình truyền thụ kiến thức, còn rất chú trọng đến việc giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, người quân nhân cách mạng cho học viên. Tuy nhiên, để tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Quy định 144, đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng cho học viên Hệ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, cần coi trọng một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng cho học viên.

Lãnh đạo, chỉ huy Hệ, các lớp cần nhận thức và quán triệt sâu sắc việc giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng cho học viên, coi đây là một nhiệm vụ chính trị trung tâm, được xác định trong nghị quyết lãnh đạo của cấp mình; có chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp, sát đúng, tính khả thi cao. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi tổ chức, lực lượng và đội ngũ học viên nắm vững quan điểm, chủ trương, phương châm, phương pháp giáo dục, mục tiêu, yêu cầu đào tạo, trọng tâm là những chuẩn mực đạo đức của người cán bộ đảng viên, cán bộ quân đội, nhất là nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của việc giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định 144 của Bộ Chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là, thực hiện đa dạng, linh hoạt các hình thức giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho học viên

Kết hợp chặt chẽ giữa công tác giáo dục chính trị, giáo dục truyền thống, giáo dục pháp luật với sinh hoạt chính trị tư tưởng; sinh hoạt ngày Đảng, ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, ngày Pháp luật, hội thảo, thông tin khoa học, tọa đàm, mạn đàm; bên cạnh đó cần triển khai có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua, tạo sức lan tỏa lớn, cổ vũ, động viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cá nhân; quan tâm triển khai có hiệu quả Quy định 144 của Bộ Chính trị gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Kết luận 21 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, tạo thành phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong việc giáo dục, rèn luyện chuẩn mực đạo đức cách mạng cho mỗi học viên.

Ba là, cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, rõ ràng để triển khai các chuẩn mực đạo đức cách mạng sát với từng đơn vị và đối tượng học viên, bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, chất lượng.

Trên cơ sở Quy định số 144-QĐ/TW, các cấp ủy cần cụ thể hóa thành các tiêu chí, tiêu chuẩn đạo đức phù hợp với đối tượng học viên để làm cơ sở cho học viên tự giác, tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong học tập, rèn luyện và công tác hằng ngày; làm cho mỗi học viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định trước những khó khăn, thách thức, có tinh thần kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Gắn việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức với công tác giáo dục, đào tạo, từ đó, khuyến khích học viên rèn luyện phẩm chất đạo đức và định kỳ xem xét, đánh giá sự rèn luyện đó bằng các tiêu chí cụ thể, nhất là trong nhận xét và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng.

Bốn là, phát huy vai trò tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi học viên, nhất là vai trò gương mẫu của cấp ủy, cán bộ lớp

Ra sức tu dưỡng, rèn luyện phát huy các giá trị cốt lõi hình thành nên đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, trước hết người cán bộ, đảng viên phải một lòng theo Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào, từ đó sẽ tiến đến chí công vô tư. Có chí công vô tư thì lòng dạ mới trong sáng, đầu óc mới sáng suốt để làm những việc ích nước, lợi dân như cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, trí, tín, dũng. Mỗi cá nhân phải tự xây dựng cho mình kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện, xác định mục tiêu cụ thể, rõ ràng có xác nhận của cấp ủy, chỉ huy Hệ. Trong từng thời gian, hàng tháng, quý, năm tự đánh giá, nhìn nhận lại kết quả của bản thân để có giải pháp khắc phục những hạn chế và đây cũng chính là tiêu chí quan trọng quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ từng cán bộ, đảng viên hàng năm.

Năm là, thực hiện hiệu quả việc phê bình và tự phê bình

Mục đích của phê bình là giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để ngày càng tiến bộ; để cải thiện phương pháp làm việc tốt hơn và hiệu quả hơn và góp phần tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Để nguyên tắc tự phê bình và phê bình được thực hiện tốt, mỗi học viên cần hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình để trong các hoạt động của mỗi tổ chức, ý thức tự phê bình và phê bình luôn được chú trọng; qua đó, không chỉ giúp nhau sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, mà quan trọng hơn là kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, để góp phần củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng Nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải là những người gương mẫu, đi đầu trong tự phê bình và phê bình, luôn có thái độ nghiêm túc, chân thành trong kiểm điểm, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của mình, của các cấp ủy viên và các đảng viên để cùng nhau sửa chữa khuyết điểm, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên chủ động, tự giác thực hiện tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng cũng như trong các hoạt động khác.

Sáu là, tạo môi trường làm việc lành mạnh, quan tâm thực hiện tốt công tác chính sách, tạo điều kiện cho học viên yên tâm phấn đấu, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng

Xây dựng môi trường học tập, công tác thật sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, cởi mở, tạo mọi điều kiện cho mỗi học viên phấn đấu, trưởng thành; củng cố niềm tin và thái độ chân thành, trung thực giữa đồng chí, đồng đội, cán bộ và học viên, cấp trên và cấp dưới; đảm bảo sự công bằng, khách quan, mọi người được tôn trọng và đối xử bình đẳng, được quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện để ai cũng có điều kiện cống hiến và phát triển về mọi mặt. Quan tâm bảo đảm tốt chế độ, chính sách cho học viên, bảo đảm cho học viên luôn yên tâm học tập, công tác và phấn đấu. Định kỳ hoặc đột xuất, cần kiểm tra việc thực hiện quy định và đạo đức của học viên, qua đó, chấn chỉnh ngay các biểu hiện chưa phù hợp, lệch lạc hoặc có thể điều chỉnh các quy định, chỉ đạo, định hướng, đồng thời cũng có thể xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Trong đó, cần quan tâm các hành vi vi phạm tiêu chí liên quan đến uy tín, hình ảnh của người quân nhân cách mạng, học viên sĩ quan trong quan hệ với nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cá nhân, các hành vi liên quan đến tiêu cực.

Có thể nói, việc đề ra giải pháp thực hiện Quy định số 144-QĐ/TW cần gắn chặt chẽ với điều kiện cụ thể của các đơn vị và đối tượng học viên trong từng thời điểm. Bản thân Quy định số 144-QĐ/TW tuy đã nêu khá rõ nội hàm của 5 điều về chuẩn mực đạo đức cách mạng, 19 tiêu chí để đánh giá việc thực hiện các chuẩn mực này, nhưng vẫn cần được triển khai cụ thể chặt chẽ ở từng cơ quan, đơn vị, phù hợp với từng đối tượng, góp phần xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tiêu biểu, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”.

Bảy là, tăng cường kiểm tra, giám sát

Định kỳ hoặc đột xuất, cần kiểm tra việc thực hiện quy định và đạo đức của học viên, qua đó, chấn chỉnh ngay các biểu hiện chưa phù hợp, lệch lạc hoặc có thể điều chỉnh các quy định, chỉ đạo, định hướng, đồng thời cũng có thể xử lý kịp thời các vấn đề mới phát sinh. Việc kiểm tra cần được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ cả ở khâu triển khai, chỉ đạo, thực hiện, xử lý vi phạm. Đảng ủy Hệ, cấp ủy, chi bộ lớp cần có cơ chế phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm chuẩn mực đạo đức. Trong đó, cần quan tâm các hành vi vi phạm tiêu chí liên quan đến uy tín, hình ảnh của người quân nhân cách mạng, học viên sĩ quan trong quan hệ với nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cá nhân, các hành vi liên quan đến tiêu cực.

5. Kết luận

Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho học viên hệ đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Chính trị không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đội ngũ giảng viên trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cả về nhận thức, nội dung, phương pháp và cơ chế tổ chức thực hiện. Những hạn chế đó chịu tác động tổng hợp của cả yếu tố khách quan và chủ quan, đòi hỏi phải được nhìn nhận một cách toàn diện và giải quyết bằng hệ thống giải pháp đồng bộ.

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, bài báo đã xác định rõ: phẩm chất đạo đức của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong nhà trường quân đội là một chỉnh thể thống nhất, trong đó phẩm chất chính trị – tư tưởng giữ vai trò định hướng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống là biểu hiện trực tiếp, còn ý thức tự tu dưỡng là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững. Đây cũng chính là cơ sở để xây dựng nội dung, tiêu chí và phương pháp giáo dục đạo đức cho học viên.

Các giải pháp được đề xuất như nâng cao nhận thức, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, phát huy vai trò tự rèn luyện, tăng cường nêu gương và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, đánh giá… nếu được triển khai nghiêm túc, đồng bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cách mạng trong Học viện.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn theo hướng lượng hóa các tiêu chí đánh giá đạo đức, tăng cường khảo sát thực tiễn và ứng dụng các mô hình giáo dục hiện đại, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Hà Nội.

[2]. Bộ Quốc phòng (2023), Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD trong Quân đội giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo”

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2026

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2026

[6]. Quân ủy Trung ương (2022), về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng xây dựng Quân đội trong tình hình mới; Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022,

[7]. Quốc hội (2025), Luật Nhà giáo, Luật số 73/2025/QH15, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/2025

[8]. Trần Đình Tuấn (20212), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

 

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).