1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA ĐẢNG CHỐNG “LẬT SỬ”

11:39 | 10/05/2026
aA

 

Trần Hậu Tân, Nguyễn Xuân Thúy, Nguyễn Bá Vận

Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Sức mạnh nội sinh của Đảng bắt nguồn từ sự kết tinh bản lĩnh chính trị, trí tuệ, truyền thống cách mạng và niềm tin của Nhân dân trong suốt dòng chảy lịch sử cách mạng dân tộc. Sức mạnh ấy tạo nên khả năng tự bảo vệ, tự chỉnh đốn và không ngừng củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phát huy sức mạnh nội sinh của Đảng không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc, mà còn là nhân tố đặc biệt quan trọng để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, giữ vững nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực đưa đất nước phát triển vững chắc theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Sức mạnh nội sinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Đảng, lật sử.

1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “lật sử” trong tình hình mới

Lịch sử cách mạng Việt Nam là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ, hy sinh to lớn của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị luôn xem lịch sử là một mặt trận trọng yếu để chống phá cách mạng Việt Nam. Dưới chiêu bài “khách quan”, “phản biện”, “nghiên cứu đa chiều”, chúng tìm cách xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới làm lung lay nền tảng tư tưởng và niềm tin xã hội.

Bản chất của “lật sử” là một thủ đoạn chính trị cố ý xuyên tạc, bóp méo hoặc đảo ngược nội dung các sự kiện lịch sử đã được xác lập nhằm xóa bỏ hoặc thay đổi ký ức dân tộc để phục vụ âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [5, tr.255].

Lời dạy đó không chỉ thể hiện ý thức giữ gìn lịch sử dân tộc, mà còn khẳng định lịch sử là nền tảng tinh thần, là cội nguồn của lòng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mọi âm mưu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử cách mạng thực chất đều nhằm làm suy yếu nền tảng tinh thần của xã hội, gây hoài nghi về con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.

Một trong những thủ đoạn nguy hiểm hiện nay là mượn danh khoa học để đánh tráo bản chất lịch sử. Các đối tượng chống phá không phủ nhận lịch sử một cách cực đoan, trực diện, mà thường lựa chọn những chi tiết cục bộ, những hạn chế trong từng thời điểm lịch sử hoặc những tư liệu chưa được kiểm chứng đầy đủ để xuyên tạc bản chất của cả một giai đoạn cách mạng. Chúng cố tình sử dụng những khái niệm sai lệch nhằm làm thay đổi nhận thức xã hội về lịch sử dân tộc. Điển hình là việc xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành “nội chiến” hoặc “chiến tranh ủy nhiệm”, từ đó phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là cách diễn giải sai lệch bản chất lịch sử và bỏ qua thực tế can thiệp quân sự trực tiếp của đế quốc Mỹ tại Việt Nam.

Không dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn tập trung xuyên tạc các cột mốc và giá trị lịch sử có ý nghĩa nền tảng đối với cách mạng Việt Nam. Những sự kiện mang tầm vóc thời đại như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 hay Đại thắng mùa Xuân năm 1975 bị chúng bóp méo thành “sự may mắn”, “sai lầm lịch sử” hoặc “kết quả của hoàn cảnh quốc tế”. Mục đích cuối cùng là phủ nhận vai trò lãnh đạo mang tính tất yếu lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam.

Bằng ý đồ đen tối, các đối tượng chống phá đẩy mạnh chiến dịch “giải thiêng” nhằm hạ thấp các lãnh tụ, anh hùng dân tộc và biểu tượng cách mạng. Thông qua mạng xã hội, đặc biệt là các nền tảng xuyên biên giới như Facebook, TikTok, YouTube…, chúng phát tán các nội dung cắt ghép, suy diễn hoặc bóp méo đời tư, thân thế và động cơ cách mạng của các nhân vật lịch sử nhằm tạo tâm lý hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của giới trẻ đối với các giá trị truyền thống. Nguy hiểm hơn, chúng sử dụng thủ pháp “9 thật, 1 giả”, lấy các dữ kiện có thật làm cơ sở dẫn dụ, sau đó cài cắm những nội dung sai lệch ở những vấn đề cốt lõi nhằm tạo cảm giác “khách quan”, khiến người tiếp nhận khó nhận diện nếu thiếu bản lĩnh chính trị và khả năng kiểm chứng thông tin.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và bùng nổ truyền thông xã hội, “lật sử” ngày càng được thực hiện bằng phương thức tinh vi hơn. Các thế lực thù địch triệt để khai thác tâm lý ưa chuộng thông tin ngắn, nhanh chóng và dễ gây sự chú ý của một bộ phận giới trẻ để “giải trí hóa” các vấn đề chính trị, lịch sử. Những video ngắn, hình ảnh chế, phát ngôn gây sốc hoặc các nội dung mang tính bóp méo lịch sử được lan truyền với tốc độ rất nhanh nhằm bình thường hóa sự xuyên tạc và xúc phạm các giá trị lịch sử cách mạng. Đây thực chất là thủ đoạn tác động dần vào nhận thức xã hội, làm suy giảm “sức đề kháng” tư tưởng của thế hệ trẻ.

Đặc biệt, các thế lực phản động còn thực hiện thủ đoạn “nội công ngoại kích”, lợi dụng những cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, bất mãn, cơ hội hoặc “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để phát tán các quan điểm sai trái dưới danh nghĩa “người trong cuộc”, “nhân chứng lịch sử” hoặc “nhà nghiên cứu độc lập”. Sự nguy hiểm của thủ đoạn này nằm ở việc tạo ra vỏ bọc “khách quan”, làm cho một bộ phận người dân ngộ nhận rằng đó là “sự thật bị che giấu”, từ đó dẫn tới hoài nghi lịch sử, dao động niềm tin chính trị.

2. Sức mạnh nội sinh của Đảng - nền tảng cốt lõi đấu tranh chống “lật sử”

Sức mạnh nội sinh của Đảng được tạo nên từ bề dày lịch sử, bản lĩnh chính trị và nền tảng lý luận khoa học, được khẳng định bằng năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và khả năng quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, việc làm rõ nguồn gốc và giá trị sức mạnh nội sinh của Đảng có ý nghĩa quan trọng nhằm khẳng định cơ sở lịch sử, lý luận và thực tiễn trong đấu tranh phản bác các luận điệu “lật sử”, bảo vệ vững chắc con đường phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, cụ thể:

Thứ nhất, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng được lịch sử cách mạng kiểm nghiệm và khẳng định.

Lịch sử cách mạng Việt Nam trong hơn chín thập niên qua đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn khách quan của lịch sử dân tộc. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi với nhiều khuynh hướng và hình thức đấu tranh khác nhau. Từ phong trào Cần Vương mang hệ tư tưởng phong kiến đến các xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục hay Việt Nam Quốc dân đảng đều thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc và ý chí đấu tranh kiên cường. Tuy nhiên, các phong trào đó lần lượt thất bại do thiếu đường lối cứu nước đúng đắn và lực lượng chính trị đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo phong trào cách mạng trong điều kiện lịch sử mới. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo đầu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu khách quan phải có một tổ chức chính trị tiên phong đủ bản lĩnh và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930) đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước, mở ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử dân tộc. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có khả năng tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc và phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Việt Nam đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếp đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đó đã khẳng định năng lực lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng tiếp tục thể hiện bản lĩnh và năng lực lãnh đạo trong việc đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [4, tr.105]. Đây không chỉ là sự tổng kết thực tiễn phát triển đất nước qua 40 năm đổi mới, mà còn là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo và sức mạnh chính trị của Đảng trong thời kỳ mới.

Thực tiễn phát triển đất nước những năm gần đây tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2025, quy mô GDP danh nghĩa của Việt Nam đạt khoảng 485 tỷ USD, đứng trong nhóm các nền kinh tế có quy mô lớn trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những điểm sáng về giảm nghèo và phát triển con người. Các báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) ghi nhận Việt Nam là điểm sáng toàn cầu về giảm nghèo, với tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ khoảng 58% đầu thập niên 1990 xuống dưới 2% theo chuẩn nghèo đa chiều hiện nay. Những thành tựu đó là bằng chứng thực tiễn khách quan khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, nền tảng tư tưởng và năng lực phát triển lý luận là cội nguồn sức mạnh nội sinh của Đảng.

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, sự thống nhất về tư tưởng và phương hướng hành động. Đây là cơ sở cốt lõi tạo nên sức mạnh tư tưởng, sức chiến đấu và khả năng định hướng phát triển đất nước trong mọi giai đoạn lịch sử. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam. Sau này, cùng với quá trình phát triển của cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Việc kiên định nền tảng tư tưởng không chỉ bảo đảm sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà còn tạo cơ sở lý luận khoa học để Đảng hoạch định đường lối phát triển đất nước phù hợp với quy luật khách quan và xu thế vận động của thời đại. Một trong những biểu hiện nổi bật sức mạnh nội sinh của Đảng đó là năng lực vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng đều chú trọng bổ sung và phát triển nhận thức lý luận nhằm giải quyết những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Nhờ đó, nền tảng tư tưởng của Đảng không ngừng được làm giàu bằng thực tiễn sinh động của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từng bước hình thành và phát triển hệ thống lý luận về đường lối đổi mới. Theo đó, nhiều vấn đề lý luận mới được bổ sung và phát triển như: xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; phát triển kinh tế số, xã hội số; đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển nhanh và bền vững. Những nhận thức lý luận đó phản ánh quá trình đổi mới tư duy của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tri thức nhân loại.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới” [4, tr.372]. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng, thể hiện sự bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng trong điều kiện mới. Việc xác định “lý luận về đường lối đổi mới” là một nội dung cần tiếp tục phát triển cho thấy Đảng không chỉ kiên định với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn luôn coi trọng tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy lý luận để hoàn thiện con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thời đại. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy một chính đảng chỉ có thể giữ vững vai trò lãnh đạo khi có khả năng tự giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy, Đảng luôn quán triệt quan điểm lấy thực tiễn làm cơ sở kiểm nghiệm chân lý, coi tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận là nhiệm vụ thường xuyên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền. Việc không ngừng bổ sung, phát triển lý luận không chỉ thể hiện tư duy đổi mới và bản lĩnh khoa học của Đảng mà còn tạo nên khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước.

Thứ ba, năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân là biểu hiện sức mạnh nội sinh của Đảng.

Một trong những biểu hiện quan trọng sức mạnh nội sinh của Đảng là bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng. Trước những biến động phức tạp của thế giới, khu vực và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới và lợi ích quốc gia - dân tộc” [1]. Điều đó cho thấy đấu tranh chống “lật sử” thực chất là đấu tranh bảo vệ nền tảng chính trị, tư tưởng và con đường phát triển của đất nước.

Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn thể hiện bản lĩnh chính trị của một đảng cầm quyền chân chính khi nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và kiên quyết sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm nảy sinh trong quá trình lãnh đạo đất nước. Đây là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh và năng lực tự bảo vệ của Đảng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá. Thực tiễn cho thấy sức mạnh của Đảng không nằm ở việc che giấu khuyết điểm mà ở năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự thanh lọc và tự hoàn thiện, nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Những năm gần đây, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng triển khai quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, kể cả đối với cán bộ cấp cao. Việc xử lý nghiêm các tổ chức đảng và cán bộ sai phạm cho thấy quyết tâm chính trị rất lớn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và làm trong sạch bộ máy. Điều đó tiếp tục khẳng định năng lực tự chỉnh đốn và bản lĩnh chính trị của một đảng cầm quyền chân chính. Chính khả năng tự đổi mới, tự chỉnh đốn và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái từ bên trong đã góp phần củng cố sức mạnh chính trị và nâng cao uy tín lãnh đạo của Đảng trong xã hội.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy mọi thắng lợi của Đảng đều bắt nguồn từ sự gắn bó mật thiết với Nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, “thế trận lòng dân” là nền tảng xã hội quan trọng tạo nên sức mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các giá trị lịch sử cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [6, tr.434]. Quan điểm đó thể hiện sâu sắc bản chất của chế độ và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Khi Nhân dân nhận thức đúng về lịch sử dân tộc và những giá trị của cách mạng Việt Nam, chính Nhân dân trở thành lực lượng xã hội quan trọng trong bảo vệ sự thật lịch sử và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong thời đại số và hội nhập quốc tế sâu rộng, năng lực lãnh đạo của Đảng tiếp tục được thể hiện thông qua khả năng thích ứng với môi trường truyền thông mới, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và phát triển nền kinh tế tri thức. Quá trình phát triển kinh tế số, xã hội số và hội nhập quốc tế không chỉ phản ánh tư duy đổi mới trong lãnh đạo đất nước mà còn góp phần nâng cao trình độ dân trí, khả năng tiếp cận thông tin và sức đề kháng xã hội trước các luồng thông tin sai trái, xuyên tạc. Điều đó cho thấy Đảng không chỉ giữ vai trò lãnh đạo trong bảo vệ những giá trị lịch sử đã được khẳng định mà còn tiếp tục kiến tạo những giá trị phát triển mới cho tương lai đất nước. Chính thực tiễn đổi mới và phát triển không ngừng của đất nước là cơ sở khách quan bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

3. Giải pháp phát huy sức mạnh nội sinh của Đảng trong đấu tranh chống “lật sử” thời kỳ mới

Đấu tranh chống “lật sử” là yêu cầu quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ con đường phát triển của dân tộc. Trong bối cảnh mới, việc phát huy sức mạnh nội sinh của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao sức đề kháng tư tưởng, củng cố “thế trận lòng dân” và bảo vệ chân lý lịch sử cách mạng Việt Nam. Để phát huy sức mạnh nội sinh của Đảng trong đấu tranh chống “lật sử”, thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung giải pháp sau:

Một là, tiếp tục giữ vững và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao năng lực nhận diện và phản bác các luận điệu “lật sử”.

Trong giai đoạn hiện nay, cuộc đấu tranh chống “lật sử” phải dựa trên cơ sở khoa học và hệ thống tư liệu khách quan. Thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng chính là minh chứng thuyết phục cho tính đúng đắn của con đường phát triển đất nước. Quá trình đó đòi hỏi sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phải vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước và bối cảnh thời đại. Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và làm sáng rõ những vấn đề lịch sử, lý luận nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước. Cùng với việc phát triển lý luận, cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, gần gũi, dễ tiếp cận và phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của các tầng lớp xã hội, nhất là thế hệ trẻ trong môi trường số. Việc kết hợp giữa giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc với ứng dụng công nghệ số, truyền thông đa nền tảng và các hình thức truyền tải trực quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lan tỏa các giá trị lịch sử cách mạng Việt Nam trong đời sống xã hội. Để nâng cao hiệu quả đấu tranh tư tưởng, trước hết phải xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận, cán bộ giảng dạy lý luận chính trị và báo cáo viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và khả năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận lịch sử và con đường phát triển của đất nước.

Hai là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố tính chính danh và sức thuyết phục của Đảng trước Nhân dân.

Sức mạnh nội sinh của Đảng được quyết định bởi năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và khả năng giữ vững bản chất cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện không chỉ là yêu cầu thường xuyên của công tác cầm quyền mà còn là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin xã hội, nâng cao uy tín chính trị và tăng cường sức đề kháng của Đảng trước các quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử. Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả đối với cán bộ cấp cao. Đồng thời, cần đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, lấy phẩm chất chính trị, năng lực thực tiễn, hiệu quả công tác và uy tín trong Nhân dân làm tiêu chí đánh giá, sử dụng cán bộ. Cùng với đó, phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu, tăng cường đối thoại với Nhân dân và kịp thời giải quyết những vấn đề dân sinh bức xúc. Khi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, uy tín chính trị, tính chính danh và sức thuyết phục của Đảng trước Nhân dân sẽ tiếp tục được củng cố vững chắc.

Ba là, phát huy sức mạnh “thế trận lòng dân” trong bảo vệ lịch sử cách mạng và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thực tiễn đã chứng minh mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ Nhân dân, dựa vào Nhân dân và vì lợi ích của Nhân dân; vì vậy, “thế trận lòng dân” chính là nền tảng xã hội tạo nên sức mạnh nội sinh bền vững của Đảng trong đấu tranh chống “lật sử”. Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, giải quyết kịp thời các vấn đề dân sinh bức xúc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân thông qua đối thoại, lắng nghe và xử lý hiệu quả những kiến nghị chính đáng từ cơ sở. Cần nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng theo hướng gắn tri thức lịch sử với trải nghiệm thực tiễn, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân. Phải phát huy vai trò của nhà trường, gia đình, tổ chức chính trị - xã hội, báo chí, văn học - nghệ thuật, bảo tàng và di tích lịch sử trong lan tỏa các giá trị lịch sử cách mạng bằng hình thức sinh động, gần gũi và phù hợp với thế hệ trẻ. Nhận thức đúng về lịch sử sẽ củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Khi Nhân dân được trực tiếp thụ hưởng thành quả phát triển đất nước, họ sẽ trở thành lực lượng xã hội quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, nâng cao năng lực đấu tranh trên không gian mạng, làm chủ thông tin và định hướng dư luận xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đa nền tảng, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc môi trường thông tin xã hội; vì vậy, nâng cao năng lực đấu tranh trên không gian mạng trở thành yêu cầu quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và các giá trị lịch sử cách mạng. Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và định hướng thông tin trên môi trường số; xây dựng lực lượng chuyên trách đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, am hiểu công nghệ và có khả năng phản ứng nhanh trước các vấn đề phát sinh. Đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, trực quan, hiện đại, phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng trên nền tảng số. Chú trọng xây dựng các sản phẩm truyền thông có chất lượng và sức lan tỏa cao nhằm truyền tải chính xác giá trị lịch sử cách mạng Việt Nam và thành tựu phát triển đất nước. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động báo chí, xuất bản, giáo dục và truyền thông; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong phát hiện, xử lý và ngăn chặn thông tin sai trái, xuyên tạc lịch sử. Đồng thời, cần trang bị kỹ năng số và năng lực kiểm chứng thông tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thanh niên, qua đó hình thành “sức đề kháng” xã hội trước các luồng thông tin độc hại. Khi chủ động làm chủ không gian mạng và định hướng hiệu quả dư luận xã hội, các quan điểm xuyên tạc lịch sử sẽ khó có điều kiện lan rộng và tác động tiêu cực đến nhận thức cộng đồng.

Năm là, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả phát triển đất nước, khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, chính sách và hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới. Quá trình đó đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức nhằm tạo động lực tăng trưởng mới. Cần chú trọng phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. Việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tạo nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi thành quả đổi mới tiếp tục được khẳng định bằng sự phát triển toàn diện của đất nước và đời sống Nhân dân ngày càng được nâng cao, đó sẽ là minh chứng thực tiễn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về con đường cách mạng Việt Nam.

Tóm lại, lịch sử cách mạng Việt Nam là kết tinh của ý chí độc lập dân tộc, khát vọng phát triển và sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc qua những bước ngoặt lớn của thời đại. Trong điều kiện mới, cuộc đấu tranh chống “lật sử” cần được đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cả trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa và không gian mạng. Điều đó đòi hỏi sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa xây dựng và bảo vệ, giữa phát triển đất nước với củng cố niềm tin xã hội. Chỉ khi khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần trách nhiệm và ý thức bảo vệ các giá trị lịch sử trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân mới có thể tạo dựng nền tảng tinh thần vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Suy cho cùng, mọi mưu đồ “lật sử” chỉ có thể bị đẩy lùi khi sức mạnh nội sinh của Đảng tiếp tục được bồi đắp bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn và niềm tin bền vững của Nhân dân đối với con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn./.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (2011), “Nên học sử ta”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2011), “Bài nói tại hội nghị cung cấp toàn quân”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).