1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO DỰA TRÊN DỮ LIỆU KHẢO SÁT TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP: TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM – SINGAPORE

03:49 | 12/03/2026
aA

 

Nguyễn Anh Tuấn, Lý Ngọc Quang, Võ Ngọc Hương Thảo

Email: [email protected]

Tóm tắt

            Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị giáo dục, việc khai thác dữ liệu khảo sát từ các bên liên quan ngày càng trở thành công cụ quan trọng nhằm cải tiến chất lượng đào tạo. Bài báo phân tích thực trạng tổ chức và khai thác dữ liệu khảo sát tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, tập trung vào các nhóm đối tượng gồm người học cuối khóa, cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp, doanh nghiệp sử dụng lao động và đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và phân tích tổng hợp dựa trên dữ liệu khảo sát từ 1.546 học sinh sinh viên, 1.169 cựu học sinh sinh viên, 82 nhà giáo và 22 cán bộ quản lý nhằm đánh giá quá trình thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo.

            Kết quả cho thấy tỷ lệ cựu học sinh sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt khoảng 82%, trong khi mức độ hài lòng của người học đối với hoạt động đào tạo đạt trên 85%. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu khảo sát hiện nay vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chuyển đổi số trong công tác khảo sát, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và thiết lập cơ chế sử dụng dữ liệu trong chu trình cải tiến chất lượng đào tạo.

Từ khóa: đảm bảo chất lượng; dữ liệu khảo sát; giáo dục nghề nghiệp; cải tiến chất lượng; quản trị dựa trên dữ liệu.

Nhận bài: 11/3/2026; Biên tập:11/3/2026; Duyệt đăng:12/3/2026.

1. Mở đầu

            Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, giáo dục nghề nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Để đạt được mục tiêu này, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngày càng chú trọng xây dựng và vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo theo hướng cải tiến liên tục. Một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ quá trình này là việc thu thập và khai thác dữ liệu phản hồi từ các bên liên quan như người học, cựu học sinh sinh viên, doanh nghiệp sử dụng lao động và đội ngũ cán bộ, giảng viên.

            Theo các mô hình đảm bảo chất lượng hiện đại, dữ liệu khảo sát không chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin phản hồi mà còn là cơ sở quan trọng để các cơ sở đào tạo đưa ra các quyết định quản lý, điều chỉnh chương trình đào tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động (Harvey & Green, 1993). Trong chu trình cải tiến chất lượng liên tục Pdca (Plan - Do - Check - Act), dữ liệu khảo sát được xem là nguồn thông tin đầu vào quan trọng cho giai đoạn đánh giá và cải tiến, giúp các cơ sở đào tạo nhận diện những điểm mạnh, hạn chế và xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.

            Trong những năm gần đây, Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore đã triển khai nhiều hoạt động khảo sát nhằm thu thập ý kiến phản hồi của các bên liên quan về chất lượng đào tạo. Các hoạt động này góp phần cung cấp những thông tin quan trọng phục vụ công tác đảm bảo và cải tiến chất lượng đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu khảo sát trong thực tiễn vẫn còn những hạn chế nhất định, đặc biệt trong phương thức phân tích dữ liệu và việc sử dụng kết quả khảo sát để hỗ trợ quá trình ra quyết định quản trị. Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp, việc khai thác dữ liệu khảo sát phục vụ quản trị chất lượng theo hướng quản trị dựa trên dữ liệu (data-driven management) vẫn còn ít được phân tích trong bối cảnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam.

            Trên cơ sở đó, bài báo này nhằm phân tích thực trạng tổ chức và khai thác dữ liệu khảo sát tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị và cải tiến chất lượng đào tạo nghề trong bối cảnh chuyển đổi số.

2. Cơ sở lý luận và pháp lý

2.1. Cơ sở lý luận

            Trong quản trị giáo dục hiện đại, dữ liệu phản hồi từ các bên liên quan được xem là nguồn thông tin quan trọng phục vụ quá trình đánh giá và cải tiến chất lượng đào tạo. Theo cách tiếp cận quản trị chất lượng tổng thể (Total Quality Management – TQM), chất lượng đào tạo cần được cải tiến liên tục thông qua việc thu thập và phân tích thông tin phản hồi từ người học, giảng viên, doanh nghiệp và các bên liên quan khác (Deming, 1986; Harvey & Green, 1993). Chu trình cải tiến liên tục PDCA (Plan – Do – Check – Act) nhấn mạnh vai trò của dữ liệu trong giai đoạn đánh giá (Check) và điều chỉnh (Act), qua đó giúp các cơ sở đào tạo xác định những điểm mạnh, hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo (Deming, 1986; Oecd, 2019).

            Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, hệ thống đảm bảo chất lượng ngày càng chú trọng việc thu thập và sử dụng dữ liệu phản hồi từ các bên liên quan nhằm cải tiến chương trình đào tạo và nâng cao hiệu quả đào tạo (Oecd, 2019; European Training Foundation, 2020). Các khảo sát về mức độ hài lòng của người học, cựu sinh viên và doanh nghiệp sử dụng lao động được xem là công cụ quan trọng của hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ. Thông tin thu thập từ các khảo sát này giúp các cơ sở đào tạo đánh giá mức độ phù hợp của chương trình đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động, đồng thời nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất và mức độ gắn kết với doanh nghiệp (Unesco-unevoc, 2021; Oecd, 2019).

            Trong bối cảnh chuyển đổi số và quản trị giáo dục hiện đại, xu hướng quản trị giáo dục dựa trên dữ liệu (data-driven management) ngày càng được chú trọng. Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được thu thập, phân tích và sử dụng một cách có hệ thống nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định, nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy cải tiến chất lượng đào tạo một cách liên tục và bền vững (Mandinach & Gummer, 2016; Datnow & Park, 2020; Schildkamp et al., 2019). Việc khai thác hiệu quả dữ liệu khảo sát từ các bên liên quan vì vậy được xem là một thành tố quan trọng trong hệ thống quản trị chất lượng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

2.2. Cơ sở pháp lý

            Hoạt động đảm bảo và cải tiến chất lượng trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 29 Luật Giáo dục nghề nghiệp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm thực hiện đánh giá chất lượng thông qua hai hình thức chủ yếu là tự đánh giá định kỳ nhằm rà soát, cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và tự đánh giá theo chu kỳ kiểm định để chuẩn bị cho hoạt động đánh giá ngoài và công nhận chất lượng. Kết quả đánh giá chất lượng được sử dụng để cải tiến hoạt động đào tạo, công khai thông tin và thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo (Luật Giáo dục nghề nghiệp, 2025).

            Quy định này cho thấy việc thu thập và khai thác dữ liệu phản hồi từ các bên liên quan, bao gồm người học, cựu học sinh sinh viên và doanh nghiệp sử dụng lao động, là một thành tố quan trọng của hệ thống đảm bảo chất lượng trong giáo dục nghề nghiệp. Do đó, việc sử dụng dữ liệu khảo sát để phục vụ quản trị và cải tiến chất lượng đào tạo không chỉ có cơ sở lý luận từ các mô hình quản trị chất lượng hiện đại mà còn phù hợp với yêu cầu của khung pháp lý về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu

            Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận mô tả nhằm phân tích thực trạng tổ chức và khai thác dữ liệu khảo sát phục vụ quản trị chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng bao gồm phân tích tài liệu, thống kê mô tả và phân tích - tổng hợp nhằm đánh giá quá trình thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu khảo sát trong hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.

            Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng để tổng hợp các nguồn thông tin thứ cấp liên quan đến hoạt động đảm bảo chất lượng và công tác khảo sát của nhà trường. Các tài liệu được phân tích bao gồm báo cáo khảo sát người học cuối khóa, khảo sát cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp, khảo sát doanh nghiệp sử dụng lao động và báo cáo tự đánh giá cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Việc phân tích các tài liệu này giúp xác định cách thức tổ chức khảo sát, nội dung khảo sát cũng như phương thức sử dụng kết quả khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo.

            Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ số như tần suất, tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình nhằm phản ánh xu hướng đánh giá của các nhóm đối tượng khảo sát. Các câu hỏi khảo sát được thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ để đo lường mức độ hài lòng của các nhóm đối tượng liên quan đối với hoạt động đào tạo của nhà trường. Ngoài ra, việc tổng hợp và so sánh các chỉ số khảo sát giữa các nhóm đối tượng cũng được thực hiện nhằm nhận diện những khía cạnh được đánh giá tích cực cũng như những nội dung cần được cải thiện trong quá trình tổ chức đào tạo.

            Trong năm học 2024 - 2025, hoạt động khảo sát được thực hiện đối với 22 cán bộ quản lý, 82 nhà giáo, 1.546 học sinh sinh viên đang học và 1.169 cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp. Tổng số mẫu khảo sát lớn giúp phản ánh tương đối toàn diện ý kiến phản hồi của các bên liên quan đối với hoạt động đào tạo của nhà trường.

            Trên cơ sở các kết quả phân tích dữ liệu khảo sát và các tài liệu liên quan, phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng khai thác dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo của nhà trường. Kết quả phân tích được sử dụng làm cơ sở để thảo luận và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu khảo sát trong hệ thống quản trị chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

4. Kết quả nghiên cứu

Bảng 1. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của CBQL, nhà giáo về quy chế tổ chức hoạt động của Trường

 

Năm học

Đối tượng khảo sát

Số phiếu lấy ý kiến

 

Kết quả khảo sát (%)

 

Rất không hài lòng

Không hài lòng

Phân vân

Hài lòng

Rất hài lòng

2024-2025

 

CBQL

22

0

0

0

3

13,6%

19

86,4%

Nhà giáo

82

0

0

0

12 14,6%

70  85,4%

 

 

Bảng 2. Bảng thống kê số lượng HSSV tốt nghiệp năm học 2024-2025; tỷ lệ HSSV phản hồi

 

STT

Ngành

Số sinh viên được khảo sát

Số sinh viên phản hồi

Tỷ lệ %

Số lượng

SV có việc làm

Tỷ lệ %

1

Nghề điện công nghiệp

222

211

95%

189

85%

2

Nghề cơ điện tử

142

138

97%

118

83%

3

Nghề điện tử

129

125

97%

106

82%

4

Nghề cắt gọt kim loại

171

156

91%

139

81%

5

Nghề Công nghệ ôtô

82

77

94%

73

89%

6

Nghề Bảo trì thiết bị cơ điện

79

73

92%

61

77%

7

Nghề Quản trị mạng máy tính

94

86

91%

77

82%

8

Nghề thiết kế đồ họa

121

108

89%

94

78%

9

Nghề kế toán doanh nghiệp

73

69

95%

62

85%

10

Nghề lắp ráp sửa chữa máy

tính

56

51

91%

44

79%

 

Tổng

1169

1093

93.47%

962

82%

 

Bảng 3. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của HSSV về chất lượng dịch vụ và giảng dạy.

Năm khảo sát

Tỷ lệ phản hồi

Số lượng (người) / Tỷ lệ

Hoàn toàn không đồng ý

Không đồng ý

Phân vân

Đồng ý

Hoàn toàn đồng ý

2025

1546

20

45

160

507

814

1,29%

2,91%

10,35%

32,79%

52,66%

 

4.1. Thực trạng tổ chức và xử lý dữ liệu khảo sát

            Trong những năm gần đây, Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore đã duy trì hoạt động khảo sát định kỳ nhằm thu thập ý kiến phản hồi của các bên liên quan về chất lượng đào tạo. Hoạt động này được triển khai đối với nhiều nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm người học cuối khóa, cựu học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp từ 6 đến 12 tháng, doanh nghiệp sử dụng lao động, cùng với đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và người lao động trong nhà trường. Việc khảo sát trên nhiều nhóm đối tượng giúp thu thập thông tin phản hồi đa chiều, qua đó phản ánh tương đối toàn diện hiệu quả đào tạo cũng như mức độ đáp ứng của chương trình đối với nhu cầu của thị trường lao động.

            Về phương thức thực hiện, hiện nay nhà trường chủ yếu sử dụng hình thức khảo sát bằng phiếu giấy. Sau khi thu thập, dữ liệu được nhập thủ công và tổng hợp thông qua phần mềm bảng tính Excel. Các chỉ số phân tích chủ yếu bao gồm tần suất lựa chọn, tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình đánh giá theo từng tiêu chí. Cách thức xử lý này giúp nhà trường nhanh chóng tổng hợp các chỉ số định lượng cơ bản, đồng thời cho phép so sánh mức độ hài lòng giữa các nhóm đối tượng.

            Kết quả tổng hợp dữ liệu đã hỗ trợ nhà trường nhận diện những nội dung được đánh giá tích cực cũng như những lĩnh vực cần cải thiện trong quá trình tổ chức đào tạo. Tuy nhiên, việc xử lý thông tin hiện nay chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả, chưa áp dụng các kỹ thuật phân tích dữ liệu chuyên sâu như phân tích tương quan, phân tích xu hướng hoặc phân tích mối quan hệ giữa các biến số. Điều này làm hạn chế khả năng khai thác thông tin từ dữ liệu khảo sát, đặc biệt trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và mức độ hài lòng của các bên liên quan.

4.2. Kết quả khảo sát về chất lượng đào tạo

            Kết quả khảo sát cho thấy nhiều tín hiệu tích cực về chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore. Dữ liệu trình bày ở Bảng 1 cho thấy mức độ hài lòng của cán bộ quản lý và nhà giáo đối với quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường ở mức rất cao. Cụ thể, 86,4% cán bộ quản lý và 85,4% nhà giáo đánh giá ở mức “rất hài lòng”, trong khi không có ý kiến không hài lòng. Kết quả này phản ánh sự đồng thuận của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên đối với cơ chế quản lý, tổ chức và điều hành hoạt động đào tạo của nhà trường, đồng thời cho thấy môi trường quản lý và làm việc tương đối ổn định trong hệ thống đào tạo.

            Kết quả khảo sát đối với cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp (Bảng 2) cho thấy tỷ lệ phản hồi đạt 93,47% và khoảng 82% người học có việc làm sau khi tốt nghiệp. Một số ngành đào tạo có tỷ lệ việc làm tương đối cao như Công nghệ ô tô (89%), Điện công nghiệp (85%) và Kế toán doanh nghiệp (85%). Kết quả này cho thấy chương trình đào tạo của nhà trường có sự gắn kết nhất định với nhu cầu của thị trường lao động và bước đầu đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động. Tỷ lệ việc làm của người học sau tốt nghiệp cũng là một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

            Đối với nhóm học sinh sinh viên đang học, kết quả khảo sát (Bảng 3) cho thấy phần lớn người học có đánh giá tích cực đối với hoạt động giảng dạy và các dịch vụ hỗ trợ đào tạo của nhà trường. Cụ thể, tỷ lệ người học lựa chọn mức “đồng ý” và “hoàn toàn đồng ý” chiếm khoảng 85,45%, trong khi tỷ lệ không đồng ý chỉ chiếm 4,2%. Điều này cho thấy đa số người học có mức độ hài lòng cao đối với hoạt động đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 10,35% sinh viên có ý kiến phân vân, cho thấy một số khía cạnh của quá trình đào tạo vẫn cần tiếp tục được rà soát và cải thiện nhằm nâng cao trải nghiệm học tập của người học.

            Nhìn chung, kết quả khảo sát từ các nhóm đối tượng khác nhau cho thấy chất lượng đào tạo của nhà trường được đánh giá tích cực ở nhiều khía cạnh, bao gồm tổ chức quản lý đào tạo, hoạt động giảng dạy và mức độ đáp ứng của chương trình đào tạo đối với nhu cầu thị trường lao động. Các kết quả này đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ hoạt động đảm bảo chất lượng và cải tiến chương trình đào tạo trong hệ thống quản trị chất lượng của nhà trường.

4.3. Những hạn chế trong khai thác dữ liệu khảo sát

            Mặc dù hoạt động khảo sát được tổ chức thường xuyên và thu thập được nhiều thông tin hữu ích, việc sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo của nhà trường vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục.

            Thứ nhất, phương pháp phân tích dữ liệu hiện nay còn tương đối đơn giản và chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả. Việc chưa áp dụng các phương pháp phân tích dữ liệu nâng cao khiến nhà trường gặp khó khăn trong việc xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cũng như dự báo xu hướng biến động của các chỉ số chất lượng.

            Thứ hai, dữ liệu khảo sát chưa được quản lý trong một hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung. Các dữ liệu thường được lưu trữ rời rạc theo từng năm học hoặc từng đợt khảo sát, gây khó khăn cho việc tổng hợp, so sánh và phân tích trong dài hạn. Điều này làm hạn chế khả năng theo dõi sự thay đổi của các chỉ số chất lượng đào tạo qua nhiều năm.

            Thứ ba, cơ chế phản hồi và sử dụng kết quả khảo sát chưa được chuẩn hóa thành một quy trình quản lý thống nhất trong toàn trường. Trong một số trường hợp, kết quả khảo sát chưa được chuyển hóa thành các kế hoạch cải tiến cụ thể hoặc chưa gắn kết chặt chẽ với hoạt động đánh giá chất lượng chương trình đào tạo.

            Thứ tư, việc sử dụng phiếu khảo sát giấy làm tăng khối lượng công việc trong quá trình nhập liệu và xử lý dữ liệu, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ sai sót khi tổng hợp thông tin. Hình thức khảo sát này cũng hạn chế khả năng khai thác dữ liệu nhanh chóng, đặc biệt khi cần theo dõi xu hướng thay đổi của các chỉ số chất lượng.

            Những hạn chế trên cho thấy việc sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo tại nhà trường vẫn chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, từ đó đặt ra yêu cầu cần có các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số.

5. Thảo luận và đề xuất giải pháp

            Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hài lòng của các nhóm đối tượng liên quan đối với hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore ở mức cao, đồng thời tỷ lệ cựu học sinh sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt khoảng 82%. Những kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của chương trình đào tạo và cho thấy mức độ phù hợp nhất định giữa hoạt động đào tạo của nhà trường với nhu cầu của thị trường lao động. Trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động, tỷ lệ việc làm của người học sau tốt nghiệp được xem là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

            Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò quan trọng của dữ liệu khảo sát trong việc cung cấp thông tin phản hồi từ các bên liên quan, qua đó hỗ trợ quá trình đánh giá và cải tiến chất lượng đào tạo. Điều này phù hợp với các nghiên cứu quốc tế về quản trị giáo dục dựa trên dữ liệu, trong đó dữ liệu phản hồi từ người học và doanh nghiệp được xem là nguồn thông tin quan trọng hỗ trợ quá trình ra quyết định trong quản trị giáo dục (Datnow & Park, 2020; Schildkamp et al., 2019). Tương tự, Oecd (2019) cũng nhấn mạnh rằng hệ thống đảm bảo chất lượng trong giáo dục nghề nghiệp cần dựa trên các nguồn dữ liệu phản hồi từ người học và doanh nghiệp nhằm cải tiến chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

            Tuy nhiên, kết quả phân tích cũng cho thấy việc khai thác dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo tại nhà trường vẫn còn những hạn chế nhất định, đặc biệt trong phương thức thu thập dữ liệu, hệ thống lưu trữ và năng lực phân tích dữ liệu. Thực trạng này cũng phản ánh xu hướng chung của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam, trong đó hoạt động khảo sát đã được triển khai nhưng việc sử dụng dữ liệu trong quá trình ra quyết định quản trị vẫn chưa được thực hiện một cách hệ thống. Vì vậy, việc tăng cường chuyển đổi số trong công tác khảo sát, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và xây dựng cơ chế sử dụng dữ liệu trong chu trình cải tiến chất lượng trở thành yêu cầu quan trọng trong quản trị giáo dục nghề nghiệp hiện nay.

            Trên cơ sở những phân tích trên, nghiên cứu đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

5.1. Chuyển đổi số hoạt động khảo sát

Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, việc số hóa hoạt động khảo sát là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thu thập và quản lý dữ liệu. Nhà trường cần từng bước chuyển từ hình thức khảo sát giấy sang khảo sát trực tuyến thông qua các nền tảng như Google Forms, Microsoft Forms hoặc các hệ thống khảo sát chuyên dụng. Việc áp dụng khảo sát trực tuyến giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu và hạn chế sai sót trong quá trình nhập liệu. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung để lưu trữ và quản lý dữ liệu khảo sát theo nhiều năm học và nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Hệ thống dữ liệu này có thể được tích hợp với phần mềm quản lý đào tạo hoặc hệ thống quản trị nhà trường, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích xu hướng và hỗ trợ quá trình ra quyết định trong quản trị chất lượng đào tạo.

5.2. Nâng cao năng lực phân tích dữ liệu

Hiện nay việc phân tích dữ liệu khảo sát tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả. Để khai thác hiệu quả hơn nguồn dữ liệu này, nhà trường cần từng bước áp dụng các phương pháp phân tích dữ liệu nâng cao như phân tích tương quan, phân tích hồi quy hoặc phân tích xu hướng theo thời gian. Các phương pháp này giúp xác định những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến mức độ hài lòng của người học và doanh nghiệp, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và các điều kiện đảm bảo chất lượng. Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng năng lực phân tích dữ liệu cho đội ngũ cán bộ phụ trách công tác đảm bảo chất lượng nhằm nâng cao khả năng khai thác và sử dụng dữ liệu trong quá trình quản trị nhà trường.

5.3. Thiết lập quy trình phản hồi theo chu trình PDCA

Trong hệ thống quản lý chất lượng, dữ liệu khảo sát chỉ phát huy giá trị khi được sử dụng hiệu quả trong quá trình cải tiến hoạt động đào tạo. Vì vậy, nhà trường cần thiết lập quy trình chuẩn về thu thập, phân tích và phản hồi kết quả khảo sát theo chu trình cải tiến liên tục Pdca (Plan - Do - Check - Act). Theo đó, kết quả khảo sát cần được tổng hợp và báo cáo định kỳ cho Ban Giám hiệu, đồng thời chia sẻ đến các khoa chuyên môn và các đơn vị liên quan. Trên cơ sở các thông tin phản hồi, các đơn vị tiến hành thảo luận trong các cuộc họp chuyên môn để xác định các vấn đề cần cải tiến và xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Việc thiết lập quy trình phản hồi rõ ràng sẽ góp phần đưa dữ liệu khảo sát trở thành công cụ quan trọng trong hoạt động cải tiến chất lượng đào tạo.

5.4. Tích hợp dữ liệu khảo sát vào hệ thống đảm bảo chất lượng

Trong bối cảnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngày càng chú trọng đến kiểm định chất lượng, dữ liệu khảo sát cần được khai thác như một nguồn minh chứng quan trọng trong hệ thống đảm bảo chất lượng. Nhà trường cần tích hợp thông tin khảo sát vào các báo cáo tự đánh giá, hồ sơ kiểm định chất lượng và hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị. Việc liên kết dữ liệu khảo sát với các hoạt động đảm bảo chất lượng sẽ giúp tăng tính minh bạch và khách quan trong quá trình đánh giá hoạt động đào tạo. Đồng thời, dữ liệu này cũng có thể được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của các chỉ số chất lượng qua nhiều năm, từ đó hỗ trợ việc hoạch định chiến lược phát triển đào tạo của nhà trường.

5.5. Mở rộng nội dung và phạm vi khảo sát

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động, nội dung khảo sát cần được thiết kế theo hướng cập nhật các yêu cầu mới về năng lực của người lao động. Bên cạnh các tiêu chí truyền thống về chương trình đào tạo, điều kiện học tập và hoạt động giảng dạy, cần bổ sung các nội dung liên quan đến kỹ năng số, kỹ năng mềm, khả năng thích ứng với công nghệ mới và mức độ sẵn sàng làm việc trong môi trường doanh nghiệp. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi khảo sát đối với cựu sinh viên và doanh nghiệp sử dụng lao động thông qua các hình thức khảo sát trực tuyến trên thiết bị di động. Điều này giúp thu thập thông tin phản hồi đa chiều và kịp thời hơn, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho quá trình cải tiến chương trình đào tạo.

6. Kết luận

            Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị giáo dục, việc khai thác dữ liệu khảo sát từ các bên liên quan ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản trị chất lượng đào tạo. Thông qua việc phân tích dữ liệu khảo sát từ người học, cựu học sinh sinh viên, doanh nghiệp sử dụng lao động và đội ngũ cán bộ, giảng viên, nghiên cứu đã làm rõ vai trò của dữ liệu phản hồi trong việc đánh giá mức độ phù hợp của chương trình đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động.

            Kết quả nghiên cứu tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore cho thấy hoạt động khảo sát đã được triển khai tương đối thường xuyên và bước đầu cung cấp nguồn thông tin quan trọng phục vụ công tác đảm bảo và cải tiến chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng vẫn còn một số hạn chế, đặc biệt trong phương thức thu thập, hệ thống lưu trữ và năng lực phân tích dữ liệu.

            Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo, bao gồm tăng cường chuyển đổi số trong công tác khảo sát, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và thiết lập cơ chế sử dụng dữ liệu trong chu trình cải tiến chất lượng. Những kết quả này góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc phát triển mô hình quản trị chất lượng đào tạo dựa trên dữ liệu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Deming, W. E. (1986). Out of the crisis. MIT Press.
  2. Datnow, A., & Park, V. (2020). Data-driven leadership. Jossey-Bass.
  3. European Training Foundation. (2020). Quality assurance in vocational education and training. Publications Office of the European Union.
  4. Harvey, L., & Green, D. (1993). Defining quality. Assessment & Evaluation in Higher Education, 18(1), 9–34. https://doi.org/10.1080/0260293930180102
  5. Mandinach, E. B., & Gummer, E. S. (2016). What does it mean for teachers to be data literate? Teachers College Record, 118(11), 1–28.
  6. OECD. (2019). Quality assurance in vocational education and training. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/2c8c8b8c-en
  7. Quốc hội. (2025). Luật Giáo dục nghề nghiệp (Luật số 124/2025/QH15). Hà Nội, Việt Nam.
  8. Schildkamp, K., Poortman, C., & Handelzalts, A. (2019). Data-based decision making in education. Springer.
  9. Trường Cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore. (2025). Báo cáo tự đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp năm 2025. TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
  10. UNESCO-UNEVOC. (2021). Quality assurance in TVET: Supporting improvement in vocational education and training. UNESCO-UNEVOC International Centre.

 

 

DATA-DRIVEN QUALITY MANAGEMENT IN VOCATIONAL EDUCATION:EVIDENCE FROM SURVEY DATA AT VIETNAM-SINGAPORE VOCATIONAL COLLEGE

 

Nguyen Anh Tuan, Ly Ngoc Quang, Vo Ngoc Huong Thao

Email: [email protected]

 

 

Abstract

            In the context of vocational education reform and the promotion of digital transformation in educational management, the use of survey data from stakeholders has become an important tool for improving training quality. This study analyzes the current practices of organizing and utilizing survey data at Vietnam – Singapore Vocational College. The survey targets include final-year students, alumni after graduation, employers, and administrators and lecturers. The study employs descriptive statistics based on survey data from 1,546 students, 1,169 alumni, 82 lecturers, and 22 administrators, combined with document analysis and synthesis methods to evaluate the processes of collecting, processing, and using survey data in training quality management.

            The findings indicate that the graduate employment rate reaches approximately 82%, while student satisfaction with training activities exceeds 85%. However, the utilization of survey data remains limited, mainly relying on descriptive statistics and lacking a centralized data management system. The study proposes several solutions, including promoting digital transformation in survey management, enhancing data analysis capacity, and establishing mechanisms to integrate survey results into the continuous quality improvement process in vocational education institutions.

Keywords: quality assurance; survey data; vocational education; quality improvement; data-driven management.

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
VẬN DỤNG PHƯƠNG CHÂM “HAI KIÊN ĐỊNH, HAI ĐẨY MẠNH VÀ HAI NGĂN NGỪA” TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
Lê Minh Tân Hệ 1, Học viện Chính trị   Tóm tắt: Học viện Chính trị là một trong những trung tâm hàng đầu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự của quân đội và quốc gia. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong giai đoạn hiện nay, khi mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên chống phá Đảng và nhà nước ta, thì việc vận dụng phương châm “hai kiên định, hai đẩy mạnh và hai ngăn ngừa” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng; Học viện Chính trị; hai kiên định; hai đẩy mạnh; hai ngăn ngừa; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).