QUẢN LÝ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRONG KỶ NGUYÊN SỐ: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ
PGS.TS Trần Đình Tuấn
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Email: [email protected]
Tóm tắt: Kỷ nguyên số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ điện toán đám mây và nền tảng số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, thị trường lao động mà còn đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp. Bài viết tập trung phân tích những vấn đề đặt ra đối với quản lý giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số, bao gồm đổi mới tư duy quản lý, phát triển đội ngũ quản lý, chuyển đổi mô hình đào tạo, bảo đảm chất lượng, xây dựng hệ sinh thái số và tăng cường kết nối với doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: quản lý giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số, kỷ nguyên số, giáo dục nghề nghiệp, quản trị số.

Thực hành nghề may
1. Đặt vấn đề
Kỷ nguyên số với sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi căn bản đối với hệ thống giáo dục và đào tạo trên toàn cầu. Trong bối cảnh đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số và khả năng thích ứng với thị trường lao động hiện đại.
Ở Việt Nam, giáo dục nghề nghiệp đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung đào tạo, phương thức tổ chức dạy học và mô hình quản lý. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý và đào tạo không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập như hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, năng lực số của đội ngũ quản lý và giảng viên còn hạn chế, dữ liệu quản lý phân tán, cơ chế phối hợp với doanh nghiệp chưa hiệu quả, mô hình quản trị chậm đổi mới. Những vấn đề đó đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện để đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với bối cảnh mới.
2. Những vấn đề đặt ra đối với quản lý giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số
2.1. Đổi mới tư duy quản lý giáo dục nghề nghiệp
Trong nhiều năm, quản lý giáo dục nghề nghiệp chủ yếu được thực hiện theo mô hình quản lý hành chính truyền thống, tập trung vào kiểm soát quy trình, hồ sơ và các thủ tục hành chính. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên số, mô hình này không còn phù hợp trước yêu cầu linh hoạt, mở và thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ và thị trường lao động.
Quản lý giáo dục nghề nghiệp hiện nay cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị số, lấy người học và nhu cầu của thị trường lao động làm trung tâm. Nhà quản lý không chỉ thực hiện chức năng điều hành mà còn phải đóng vai trò kiến tạo môi trường đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển hệ sinh thái học tập mở.
Điều này đòi hỏi đội ngũ quản lý phải có năng lực tư duy chiến lược, năng lực số, khả năng sử dụng dữ liệu trong quản trị và năng lực thích ứng với môi trường giáo dục số hóa.
2.2. Thách thức về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên
Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang gặp khó khăn về năng lực công nghệ và kỹ năng số của đội ngũ.
Một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế trong việc sử dụng các hệ thống quản trị số, phân tích dữ liệu và điều hành trên nền tảng công nghệ. Nhiều giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu về thiết kế bài giảng số, tổ chức dạy học trực tuyến, sử dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ mô phỏng trong đào tạo nghề.
Ngoài ra, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất khiến nhiều ngành nghề đào tạo trở nên lạc hậu nếu đội ngũ giảng viên không được thường xuyên cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mới.
2.3. Yêu cầu đổi mới chương trình và phương thức đào tạo
Kỷ nguyên số làm thay đổi cơ cấu việc làm và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp. Nhiều nghề truyền thống dần bị thay thế, trong khi các nghề mới liên quan đến công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển.
Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt và cập nhật thường xuyên. Nội dung đào tạo cần tích hợp kỹ năng số, kỹ năng mềm, tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng học tập suốt đời.
Bên cạnh đó, phương thức đào tạo cũng cần chuyển đổi mạnh mẽ từ dạy học truyền thống sang mô hình đào tạo kết hợp (blended learning), đào tạo trực tuyến, đào tạo trên nền tảng mô phỏng số và thực tế ảo. Việc cá thể hóa quá trình học tập thông qua dữ liệu học tập và trí tuệ nhân tạo cũng trở thành xu hướng tất yếu.
2.4. Vấn đề xây dựng hạ tầng và hệ sinh thái số
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là hạ tầng công nghệ số ở nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn thiếu đồng bộ. Hệ thống mạng, thiết bị thực hành, phần mềm quản lý, cơ sở dữ liệu và nền tảng học tập trực tuyến chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện.
Nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa xây dựng được hệ sinh thái số kết nối giữa quản lý đào tạo, quản lý người học, quản lý nhân sự, kiểm định chất lượng và kết nối doanh nghiệp. Dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác hiệu quả phục vụ công tác quản trị. Trong khi đó, việc đầu tư hạ tầng số đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, vượt quá khả năng của nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là các trường ở địa phương và vùng khó khăn.
2.5. Bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong môi trường số
Sự phát triển của đào tạo trực tuyến và đào tạo số đặt ra nhiều thách thức đối với công tác kiểm định và bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Hiện nay, hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng trong giáo dục nghề nghiệp chủ yếu vẫn dựa trên mô hình đào tạo truyền thống, chưa theo kịp yêu cầu của môi trường học tập số. Các tiêu chí về dữ liệu học tập, năng lực số, học liệu số, mức độ tương tác trực tuyến và trải nghiệm học tập số chưa được quan tâm đầy đủ.
Ngoài ra, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong môi trường trực tuyến còn gặp nhiều khó khăn về tính xác thực, minh bạch và công bằng.
2.6. Tăng cường gắn kết giữa giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động
Trong kỷ nguyên số, nhu cầu nhân lực thay đổi rất nhanh theo sự phát triển của công nghệ và mô hình sản xuất mới. Vì vậy, giáo dục nghề nghiệp cần tăng cường kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp nhằm bảo đảm đào tạo gắn với thực tiễn và nhu cầu việc làm.
Tuy nhiên, hiện nay sự phối hợp giữa nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp vẫn còn hình thức, thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu và hợp tác lâu dài. Nhiều chương trình đào tạo chưa cập nhật kịp thời yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp mới của thị trường lao động số.
3. Giải pháp đột phá nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số
3.1. Đổi mới mô hình quản trị giáo dục nghề nghiệp theo hướng số hóa
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mô hình quản trị truyền thống dựa chủ yếu vào phương thức điều hành hành chính, giấy tờ thủ công và quản lý theo kinh nghiệm không còn đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục nghề nghiệp hiện đại. Vì vậy, đổi mới mô hình quản trị giáo dục nghề nghiệp theo hướng số hóa là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Mục tiêu của giải pháp là xây dựng mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu số, công nghệ số và nền tảng quản trị thông minh; bảo đảm hoạt động quản lý được thực hiện đồng bộ, minh bạch, linh hoạt và hiệu quả. Đồng thời, giải pháp hướng tới hình thành môi trường giáo dục nghề nghiệp số hóa toàn diện, lấy người học làm trung tâm và đáp ứng nhanh với sự biến động của thị trường lao động trong kỷ nguyên số.
Nội dung của giải pháp cần tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị số. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần thay đổi tư duy quản lý theo hướng hiện đại hóa, chuyển từ mô hình quản lý mang tính mệnh lệnh, kiểm soát sang mô hình quản trị số dựa trên dữ liệu và công nghệ. Quản trị số không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc mà còn là sự đổi mới toàn diện về phương thức điều hành, tổ chức hoạt động và ra quyết định. Các quyết định quản trị cần được thực hiện dựa trên dữ liệu số, thông tin thời gian thực và phân tích khoa học nhằm nâng cao tính chính xác và hiệu quả quản lý.
Thứ hai, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số đồng bộ. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung và đồng bộ phục vụ công tác quản lý nhà trường. Hệ thống dữ liệu cần bao gồm: Dữ liệu về người học; Dữ liệu về đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên; Dữ liệu chương trình đào tạo; Dữ liệu kết quả học tập và đánh giá kỹ năng nghề; Dữ liệu tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo; Dữ liệu kết nối doanh nghiệp và việc làm sau đào tạo. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính, đồng thời hỗ trợ phân tích và dự báo phục vụ công tác hoạch định chiến lược phát triển.
Thứ ba, triển khai hệ thống quản trị nhà trường thông minh. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần ứng dụng các nền tảng quản trị tích hợp nhằm kết nối đồng bộ các hoạt động của nhà trường trên môi trường số. Hệ thống quản trị thông minh cần bao gồm các phân hệ như: Quản lý đào tạo; Quản lý tuyển sinh; Quản lý nhân sự; Quản lý tài chính; Quản lý học liệu số; Quản lý kiểm định chất lượng; Quản lý kết nối doanh nghiệp; Hỗ trợ người học trực tuyến. Việc ứng dụng hệ thống quản trị thông minh giúp nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí vận hành và tăng cường khả năng giám sát, điều hành của nhà trường.
Thứ tư, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản trị giáo dục nghề nghiệp. Trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) có vai trò quan trọng trong đổi mới quản trị giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần từng bước ứng dụng AI trong: Phân tích nhu cầu học tập của người học; Dự báo xu hướng nghề nghiệp; Tư vấn tuyển sinh; Hỗ trợ xây dựng chương trình đào tạo; Theo dõi kết quả học tập; Đánh giá chất lượng đào tạo. Việc khai thác dữ liệu lớn giúp nhà trường đưa ra các quyết định quản trị chính xác hơn, đồng thời nâng cao khả năng dự báo nhu cầu nhân lực và xu hướng phát triển nghề nghiệp trong tương lai.
Thứ năm, xây dựng môi trường làm việc và văn hóa số trong nhà trường. Chuyển đổi số chỉ thực sự hiệu quả khi hình thành được môi trường làm việc số và văn hóa số trong toàn bộ cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nhà trường cần xây dựng thói quen làm việc trên nền tảng số, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số, họp trực tuyến và các hệ thống quản lý công việc trực tuyến. Đồng thời, cần xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo, tinh thần thích ứng công nghệ và ý thức bảo đảm an toàn thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và người học.
Để triển khai hiệu quả mô hình quản trị giáo dục nghề nghiệp theo hướng số hóa, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần thực hiện một số nội dung sau: Xây dựng chiến lược chuyển đổi số phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển của nhà trường; Thành lập bộ phận chuyên trách hoặc tổ công tác chuyển đổi số; Từng bước đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống máy chủ, phần mềm quản trị và nền tảng số; Tổ chức bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên; Xây dựng quy chế quản lý, khai thác và bảo mật dữ liệu số; Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ và các cơ sở giáo dục tiên tiến nhằm học hỏi kinh nghiệm quản trị số; Thực hiện chuyển đổi số theo lộ trình phù hợp, tránh triển khai dàn trải, hình thức.
Để giải pháp đạt hiệu quả, cần phải có sự chỉ đạo thống nhất và quyết tâm chính trị cao của lãnh đạo nhà trường; Có cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp; Bảo đảm nguồn lực tài chính phục vụ đầu tư hạ tầng và công nghệ; Có đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên có năng lực số; Bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng trong quá trình vận hành hệ thống số; Tạo được sự đồng thuận và tham gia tích cực của toàn thể cán bộ, giảng viên và người học trong quá trình chuyển đổi số.
Việc đổi mới mô hình quản trị giáo dục nghề nghiệp theo hướng số hóa không chỉ là giải pháp mang tính kỹ thuật mà còn là quá trình đổi mới toàn diện về tư duy quản lý, phương thức vận hành và văn hóa tổ chức. Đây là điều kiện quan trọng để giáo dục nghề nghiệp phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động trong kỷ nguyên số.
3.2. Phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên
Trong kỷ nguyên số, năng lực số trở thành một trong những năng lực cốt lõi của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên giáo dục nghề nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng học tập trực tuyến đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức quản lý, giảng dạy và tổ chức đào tạo nghề nghiệp. Nếu đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên không có năng lực số phù hợp sẽ khó thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp, dẫn đến nguy cơ tụt hậu về chất lượng đào tạo và hiệu quả quản trị nhà trường. Vì vậy, phát triển năng lực số cho đội ngũ là giải pháp mang tính nền tảng, quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp.
Mục tiêu của giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên có khả năng sử dụng hiệu quả công nghệ số trong quản lý, giảng dạy, nghiên cứu và hỗ trợ người học; từng bước hình thành đội ngũ nhân lực giáo dục nghề nghiệp có tư duy số, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại.
Giải pháp này gồm những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, xây dựng chuẩn năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng và ban hành khung năng lực số phù hợp với từng vị trí việc làm trong nhà trường. Đối với cán bộ quản lý, năng lực số cần tập trung vào: Năng lực quản trị số; Khai thác và phân tích dữ liệu; Điều hành trên nền tảng công nghệ; Quản lý hệ thống thông tin; Bảo đảm an toàn dữ liệu và an ninh mạng; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý giáo dục.
Đối với giảng viên, năng lực số cần bao gồm: Thiết kế bài giảng điện tử; Xây dựng học liệu số; Tổ chức dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp; Sử dụng công nghệ mô phỏng và thực tế ảo trong đào tạo nghề; Khai thác trí tuệ nhân tạo hỗ trợ giảng dạy; Đánh giá kết quả học tập trên nền tảng số. Việc xây dựng chuẩn năng lực số giúp nhà trường xác định rõ yêu cầu bồi dưỡng, đánh giá và phát triển đội ngũ trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng và đào tạo kỹ năng số. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực số theo hướng thường xuyên, liên tục và gắn với nhu cầu thực tiễn của từng nhóm đối tượng. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào: Kỹ năng sử dụng các nền tảng quản lý và giảng dạy trực tuyến; Kỹ năng khai thác dữ liệu số; Kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục; Kỹ năng xây dựng học liệu số; Kỹ năng bảo mật thông tin và an toàn số; Kỹ năng đổi mới phương pháp dạy học trong môi trường số. Việc bồi dưỡng cần được thực hiện theo nhiều hình thức như: Tập huấn trực tiếp; Tập huấn trực tuyến; Bồi dưỡng qua hệ thống LMS; Tự học có hướng dẫn; Sinh hoạt chuyên môn số; Học tập qua cộng đồng nghề nghiệp trực tuyến. Đồng thời, cần chú trọng phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng và khả năng thích ứng công nghệ của đội ngũ.
Thứ ba, thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong hoạt động quản lý và giảng dạy. Năng lực số chỉ thực sự được hình thành và phát triển thông qua quá trình ứng dụng thường xuyên trong thực tiễn. Do đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên thường xuyên sử dụng công nghệ số trong công việc như: Quản lý hồ sơ điện tử; Điều hành công việc trên môi trường số; Tổ chức lớp học trực tuyến; Thiết kế bài giảng tương tác; Sử dụng phần mềm mô phỏng nghề nghiệp; Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ học tập và đánh giá người học. Nhà trường cần khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo và trải nghiệm số của người học.
Thứ tư, xây dựng cộng đồng học tập số trong nhà trường. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần hình thành môi trường học tập và chia sẻ kinh nghiệm số giữa cán bộ quản lý và giảng viên. Thông qua các diễn đàn trực tuyến, nhóm chuyên môn số, kho học liệu dùng chung và mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên có thể hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp làm việc. Việc xây dựng cộng đồng học tập số không chỉ giúp nâng cao năng lực chuyên môn mà còn tạo động lực đổi mới sáng tạo trong toàn nhà trường.
Thứ năm, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức công nghệ. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, cơ sở sản xuất và các tổ chức đào tạo nhằm cập nhật công nghệ mới và nâng cao năng lực thực tiễn cho đội ngũ. Thông qua hợp tác, giảng viên có điều kiện tiếp cận: Công nghệ sản xuất hiện đại; Hệ thống tự động hóa; Phần mềm chuyên ngành; Công nghệ AI và dữ liệu lớn; Thiết bị đào tạo thông minh. Đây là cơ sở quan trọng giúp đội ngũ giảng viên nâng cao năng lực nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong nền kinh tế số.
Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp như sau: Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực số của đội ngũ; Xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số theo từng giai đoạn; Ban hành chuẩn năng lực số phù hợp với từng vị trí việc làm; Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số định kỳ; Tạo điều kiện để đội ngũ tham gia các khóa học trực tuyến trong và ngoài nước; Đầu tư hạ tầng công nghệ và thiết bị phục vụ ứng dụng số; Xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy; Đưa tiêu chí năng lực số vào đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý và giảng viên.
Để giải pháp đạt hiệu quả, cần phải có sự quan tâm và chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo nhà trường; Có cơ chế chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng năng lực số; Bảo đảm kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng và đầu tư công nghệ; Có hệ thống hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu đào tạo số; Xây dựng môi trường làm việc khuyến khích đổi mới sáng tạo; Tạo động lực cho đội ngũ chủ động học tập và thích ứng công nghệ mới.
Phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài của giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số. Đây là yếu tố then chốt quyết định chất lượng quản trị, chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay.
3.3. Đẩy mạnh xây dựng hạ tầng và học liệu số
Hạ tầng công nghệ và học liệu số là nền tảng quan trọng bảo đảm cho quá trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp. Trong kỷ nguyên số, việc tổ chức dạy học, quản lý đào tạo, kiểm tra đánh giá và kết nối người học đều phụ thuộc lớn vào hệ thống công nghệ và tài nguyên học tập số. Tuy nhiên, hiện nay nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn thiếu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; hệ thống mạng, thiết bị thực hành số, phần mềm đào tạo và học liệu điện tử chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nghề nghiệp. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý nhà trường.
Mục tiêu của giải pháp là xây dựng hạ tầng số hiện đại, đồng bộ và phát triển hệ thống học liệu số phong phú, phục vụ hiệu quả hoạt động quản lý, giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Giải pháp này bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ số đồng bộ. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần ưu tiên đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện. Hạ tầng công nghệ cần bao gồm: Hệ thống mạng Internet tốc độ cao; Hệ thống wifi phủ rộng trong toàn trường; Trung tâm dữ liệu và máy chủ lưu trữ; Hệ thống điện toán đám mây; Phòng học thông minh; Phòng thực hành mô phỏng số; Thiết bị đào tạo ứng dụng công nghệ thực tế ảo và thực tế tăng cường; Hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS). Việc đầu tư hạ tầng số cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, hiện đại và có khả năng kết nối liên thông giữa các bộ phận trong nhà trường.
Thứ hai, xây dựng và phát triển học liệu số. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đẩy mạnh xây dựng kho học liệu số phục vụ hoạt động dạy học và tự học của người học. Học liệu số cần đa dạng về hình thức như: Bài giảng điện tử; Video hướng dẫn thực hành nghề; Giáo trình điện tử; Mô hình mô phỏng số; Hệ thống câu hỏi kiểm tra trực tuyến; Thư viện số; Ngân hàng dữ liệu nghề nghiệp. Nội dung học liệu số cần được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, dễ cập nhật và phù hợp với đặc thù đào tạo nghề nghiệp. Đồng thời, cần khuyến khích giảng viên tham gia xây dựng học liệu số và chia sẻ tài nguyên dùng chung trong toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp.
Thứ ba, phát triển nền tảng học tập số và đào tạo trực tuyến. Nhà trường cần triển khai các nền tảng học tập trực tuyến nhằm hỗ trợ tổ chức đào tạo kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến. Hệ thống học tập số cần bảo đảm tính ổn định và bảo mật; Khả năng tương tác cao; Hỗ trợ học tập mọi lúc, mọi nơi; Quản lý tiến độ học tập; Theo dõi và đánh giá kết quả học tập của người học. Đối với các ngành nghề kỹ thuật, cần tăng cường ứng dụng công nghệ mô phỏng số, thực tế ảo và thực tế tăng cường để hỗ trợ thực hành nghề trong môi trường số.
Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái số trong giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái số kết nối đồng bộ giữa quản lý đào tạo; Học liệu số; Quản lý người học; Quản lý giảng viên; Kiểm định chất lượng; Kết nối doanh nghiệp; Hỗ trợ việc làm. Hệ sinh thái số giúp tăng cường khả năng chia sẻ dữ liệu, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo môi trường học tập hiện đại cho người học.
Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp: Xây dựng kế hoạch đầu tư hạ tầng số theo từng giai đoạn; Huy động nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội hóa giáo dục; Thành lập bộ phận chuyên trách về công nghệ và chuyển đổi số; Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng xây dựng học liệu số cho giảng viên; Ban hành quy định quản lý, khai thác và chia sẻ học liệu số; Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong xây dựng nền tảng số.
Điều kiện thực hiện giải pháp này cần phải có cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ; Bảo đảm nguồn lực tài chính phục vụ chuyển đổi số; Có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nghệ thông tin; Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong nhà trường; Bảo đảm an toàn dữ liệu và an ninh mạng.
3.4. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm chất lượng trong môi trường số
Trong môi trường giáo dục số, công tác bảo đảm chất lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính hiệu quả, minh bạch và độ tin cậy của quá trình đào tạo nghề nghiệp. Sự phát triển của đào tạo trực tuyến, học tập số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hệ thống kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu của giải pháp là xây dựng cơ chế bảo đảm chất lượng phù hợp với môi trường số, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế.
Nội dung của giải pháp như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống tiêu chí bảo đảm chất lượng trong môi trường số. Cần xây dựng và bổ sung các tiêu chí đánh giá chất lượng phù hợp với mô hình giáo dục nghề nghiệp số hóa. Các tiêu chí cần tập trung vào: Chất lượng hạ tầng số; Mức độ ứng dụng công nghệ trong đào tạo; Chất lượng học liệu số; Năng lực số của giảng viên; Mức độ tương tác trực tuyến; Hiệu quả học tập của người học trên nền tảng số; Mức độ hài lòng của người học và doanh nghiệp.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá và kiểm định chất lượng. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần ứng dụng công nghệ số trong quản lý và đánh giá chất lượng đào tạo. Việc kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện thông qua: Hệ thống thi trực tuyến; Ngân hàng đề thi số; Phân tích dữ liệu học tập; Hệ thống giám sát học tập trực tuyến; Công cụ đánh giá kỹ năng nghề trên môi trường số. Đồng thời, cần ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để theo dõi quá trình học tập, phân tích mức độ tiến bộ và hỗ trợ người học kịp thời.
Thứ ba, xây dựng văn hóa chất lượng trong môi trường số. Nhà trường cần hình thành ý thức trách nhiệm và văn hóa chất lượng trong toàn bộ đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và người học. Mỗi thành viên trong nhà trường cần chủ động tham gia hoạt động tự đánh giá, cải tiến chất lượng và đổi mới phương pháp làm việc trên môi trường số.
Thứ tư, tăng cường kiểm định chất lượng và công khai thông tin. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần thực hiện kiểm định chất lượng định kỳ và công khai kết quả đào tạo trên môi trường số. Việc minh bạch thông tin giúp nâng cao uy tín nhà trường, tạo niềm tin cho người học và doanh nghiệp.
Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp: Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng số; Ban hành bộ tiêu chí bảo đảm chất lượng trong môi trường số; Tổ chức tập huấn về kiểm định chất lượng số; Đầu tư phần mềm đánh giá và quản lý chất lượng; Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo trực tuyến.
Điều kiện thực hiện giải pháp cần phải có cơ chế pháp lý phù hợp với giáo dục số; Có đội ngũ chuyên trách về bảo đảm chất lượng; Có hệ thống dữ liệu đầy đủ và chính xác; Có hạ tầng công nghệ đáp ứng yêu cầu quản lý chất lượng.
3.5. Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp
Trong kỷ nguyên số, thị trường lao động thay đổi nhanh chóng theo sự phát triển của công nghệ và mô hình sản xuất mới. Điều này đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp phải gắn chặt với doanh nghiệp nhằm bảo đảm đào tạo sát thực tiễn và đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động. Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp giúp nâng cao chất lượng đào tạo, tạo cơ hội thực hành nghề nghiệp cho người học và thúc đẩy đổi mới chương trình đào tạo theo yêu cầu thực tế. Mục tiêu của giải pháp là xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ, bền vững giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình đào tạo và sử dụng nhân lực.
Nội dung của giải pháp bao gồm:
Thứ nhất, phối hợp xây dựng chương trình đào tạo. Doanh nghiệp cần tham gia cùng nhà trường trong quá trình xây dựng và cập nhật chương trình đào tạo nhằm bảo đảm nội dung đào tạo phù hợp với công nghệ sản xuất và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp mới. Chương trình đào tạo cần tăng cường kỹ năng nghề thực tiễn; Kỹ năng số; Kỹ năng mềm; Kỹ năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.
Thứ hai, tăng cường đào tạo gắn với thực tiễn doanh nghiệp. Nhà trường cần phối hợp với doanh nghiệp tổ chức thực hành nghề; Thực tập sản xuất; Học kỳ doanh nghiệp; Đào tạo theo đơn đặt hàng; Đào tạo tại doanh nghiệp.
Việc học tập trong môi trường sản xuất thực tế giúp người học nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với công việc sau khi tốt nghiệp.
Thứ ba, phối hợp phát triển đội ngũ giảng viên. Doanh nghiệp cần hỗ trợ nhà trường trong việc bồi dưỡng giảng viên thông qua tham quan thực tế sản xuất; Thực tập nghề tại doanh nghiệp; Chuyển giao công nghệ; Tập huấn công nghệ mới. Điều này giúp giảng viên cập nhật kiến thức và nâng cao năng lực nghề nghiệp.
Thứ tư, hợp tác trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Nhà trường và doanh nghiệp cần phối hợp nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị đào tạo và phát triển mô hình đào tạo nghề hiện đại. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục nghề nghiệp.
Cách thức tổ chức thực hiện giải pháp: Ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa nhà trường và doanh nghiệp; Thành lập hội đồng tư vấn doanh nghiệp; Xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên; Tổ chức các chương trình thực tập và tuyển dụng; Phát triển mô hình đào tạo kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp.
Điều kiện thực hiện giải pháp cần phải có cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề; Có sự chủ động của nhà trường trong kết nối doanh nghiệp; Có cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các bên; Có hệ thống pháp lý bảo đảm trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp trong hợp tác đào tạo.
Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số.
4. Kết luận
Kỷ nguyên số đang tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với giáo dục nghề nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới, công tác quản lý giáo dục nghề nghiệp cần được đổi mới toàn diện theo hướng hiện đại, số hóa và linh hoạt. Việc xây dựng mô hình quản trị số, phát triển năng lực số cho đội ngũ, đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường hạ tầng công nghệ và gắn kết với doanh nghiệp là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong thời gian tới.
GDNN là một bộ phận của khoa học giáo dục, là lĩnh vực lớn, chứa đựng nhiều vấn đề khó khăn, bất cập đang được toàn xã hội quan tâm. Để giải quyết những khó khăn, bất cập đó cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Bài viết này đã đề xuất hệ thống các giải pháp quản lý nhà nước và quản trị nhà trường đối với quá trình đào tạo ở các cơ sở GDNN trong kỷ nguyên số. Mỗi giải pháp tác động vào một khâu, một mắt xích trong hệ thống GDNN. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh hiện nay phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đây.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Bi thư (2023) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04/5/2023
2. Bộ LĐ-TBXH (2022), Quy định chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề nghiệp và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề nghiệp, Thông tư số 06/2022/TT-BLĐTBXH ngày 06/4/2022
3. Bộ LĐ-TBXH (2022), Quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, Thông tư số 05/2022/TT-BLĐTBXH ngày 05/4/2022
4. Chính phủ (2022), Sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Nghị định số 24/2022/NĐ-CP ngày 06/042022
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2026
8. Quốc hội (2014), Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật số 74/2014/QH13, ngày 27/11/2014.
9. Thủ tướng Chính phủ(2018), Phê duyệt Đề án "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025" Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày 14/5/2018.