QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO QUAN ĐIỂM TRẢI NGHIỆM
ThS Võ Nguyễn Đoan Trinh - Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: [email protected]
PGS. TS Trần Đình Tuấn –
Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục
Tóm tắt: Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm hình thành nhân cách, lối sống và giá trị xã hội tích cực. Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn của cả nước – đang triển khai nhiều mô hình đổi mới quản lý giáo dục đạo đức, trong đó quan điểm “giáo dục qua trải nghiệm” được xem là hướng tiếp cận hiệu quả. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm, đánh giá thực trạng tại các trường phổ thông trên địa bàn thành phố, và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Quản lý giáo dục; giáo dục đạo đức; trải nghiệm; học sinh phổ thông; Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Mở đầu
Giáo dục đạo đức là một trong những trụ cột của giáo dục toàn diện, góp phần hình thành nhân cách, ý thức công dân và năng lực sống cho học sinh. Trong xu thế đổi mới hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh đến “giáo dục thông qua trải nghiệm”, coi đó là phương thức giúp học sinh tự hình thành giá trị đạo đức thông qua thực tiễn, thay vì chỉ học lý thuyết.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh – địa phương có hệ thống giáo dục năng động và sáng tạo – việc quản lý giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm được triển khai rộng rãi nhưng còn thiếu sự đồng bộ, hệ thống. Nghiên cứu này nhằm làm rõ nội hàm quản lý giáo dục đạo đức theo hướng trải nghiệm và đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thành phố.

2. Cơ sở lý luận của quản lý giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm
2.1. Khái niệm cơ bản
Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành ở học sinh hệ thống giá trị, chuẩn mực hành vi, thái độ, niềm tin đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Giáo dục trải nghiệm theo John Dewey và David Kolb, là quá trình học thông qua hành động, phản tư, rút kinh nghiệm và vận dụng vào thực tế.
Quản lý giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm là quá trình tổ chức, điều hành, giám sát các hoạt động giáo dục nhằm tạo điều kiện cho học sinh hình thành phẩm chất đạo đức thông qua các tình huống thực tiễn, hoạt động xã hội, dự án cộng đồng và trải nghiệm nghề nghiệp.
2.2. Nguyên tắc quản lý theo hướng trải nghiệm
- Nguyên tắc lấy người học làm trung tâm; Đưa học sinh vào các hoạt động trải nghiệm đạo đức để các em tự mình hình thành kiến thức, cảm xúc và thói quen hành vi đạo đức
- Nguyên tắc kết hợp giáo dục trong và ngoài nhà trường; Thiết kế các loại hình hoạt động trải nghiệm đạo đức trong nhà trường và ngoài nhà trường. Tổ chức cho học sinh tham gia với tư cách là chủ thể hoạt động.
- Nguyên tắc tích hợp giữa tri thức – kỹ năng – thái độ; Kết hợp học với rèn luyện đạo đức, lấy thực hành đạo đức làm chính.
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, sáng tạo, đa dạng hình thức hoạt động;Các phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm phát triển nhân cách của từng đối tượng học sinh, phù hợp thực tiễn
- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Hình thành các mối quan hệ và văn hóa ứng xử cho học sinh trong nhà trường, ở gia đình và trong xã hội.
3. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức theo hướng trải nghiệm ở Thành phố Hồ Chí Minh
3.1. Ưu điểm
- Các trường phổ thông đã xây dựng chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo chương trình GDPT 2018.
- Nhiều mô hình sáng tạo được triển khai như: “Trường học hạnh phúc”, “Giờ sinh hoạt công dân trải nghiệm”, “Hành trình đến với di sản”, “Em làm chiến sĩ công an – bộ đội”, “Chợ phiên xanh – sạch – đẹp”, “Ngày hội nhân ái”…
- Cán bộ quản lý và giáo viên đã bước đầu chủ động thiết kế, đánh giá hoạt động đạo đức qua dự án trải nghiệm.
3.2. Hạn chế
- Nhận thức về mối quan hệ giữa giáo dục đạo đức với dạy học, giữa dạy chữ với dạy người chưa đầy đủ. Một số chuyên gia lý giải rằng, dạy chữ là dạy người, thông qua dạy chữ để dạy người. Điều đó không sai nhưng chưa đầy đủ, phiến diện. Bởi vì dạy chữ và dạy người tuy thống nhất với nhau trong một nhân cách, nhưng dạy chữ có quy luật riêng, dạy người cũng có quy luật riêng. Nếu nói dạy chữ là dạy người thì những người ít học, ít chữ là những người thiếu giáo dục ư? Thực tiễn đã chứng minh hoàn toàn không phải như vậy. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược nhiều người không được học hành đầy đủ nhưng lòng yêu nước, tình thương yêu con người và tinh thần chiến đấu vẫn vô cùng mạnh mẽ. Ngày nay cũng vậy, không phải cứ trình độ văn hóa cao là đạo đức lối sống tốt hơn những người văn hóa thấp. Bởi vì, ngoài giáo dục của nhà trường, còn có giáo dục của xã hội và giáo dục của gia đình. Học sinh và mỗi người dân Việt Nam còn được hưởng thụ một phần giá trị của nền giáo dục dân gian của dân tộc. Họ được học trong thực tiễn trường đời, học qua công việc hàng ngày. Đó mới là giáo dục thiết thực cho cuộc sống.
- Chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông còn giản đơn, thiếu tính hệ thống, nặng lý thuyết, không sát với thực tiễn, hiệu quả thấp. Chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đang nghiêng về dạy chữ mà chưa quan tâm đầy đủ đến dạy người. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, cấp tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) cả năm học chỉ có 35 tiết dành cho môn đạo đức. Cấp trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), môn Giáo dục công dân 35 tiết/năm. Giáo dục đạo đức với dung lượng 35 tiết/năm thì chỉ bôi ra cho có đầu việc còn trong thực tiễn không thể làm được gì cả. Cấp trung học phổ thông, không có môn Giáo dục công dân mà thay bằng môn Giáo dục kinh tế và pháp luật 70 tiết/năm. Với dung lượng thời gian dành cho giáo dục đạo đức như vậy thử hỏi Chương trình GDPT 2018 đã thực sự quan tâm đến giáo dục đạo đức cho học sinh hay chưa?
- Một số nhà trường còn thiếu chiến lược quản lý tổng thể; hoạt động trải nghiệm mang tính phong trào, chưa gắn kết với mục tiêu giáo dục đạo đức. Phương pháp và hinhg thức tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh chưa tuân thủ theo lô gic hình thành phát triển các phẩm chất đạo đức của học sinh.
- Chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá đạo đức của học sinh theo chuẩn đầu ra. Đội ngũ giáo viên còn lúng túng trong việc lượng hóa, đánh giá năng lực, phẩm chất qua trải nghiệm. Chưa xây dựng được bộ quy tắc ứng xử của học sinh qua các mối quan hệ cơ bản trong nhà trường, ở gia đình và ngoài xã hội.
- Sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội chưa chặt chẽ; một bộ phận phụ huynh còn coi nhẹ vai trò của hoạt động trải nghiệm. Chưa xây dựng được cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho hoạt động trải nghiệm còn hạn chế. Kinh phí đảm bảo cho các hoạt động trải nghiệm thực tiễn của học sinh không được đầu tư đúng mức. Nhiều nhà trường phổ thông không có phương tiên đưa đón học sinh trong các buổi trải nghiệm ngoài nhà trường.
4. Một số giải pháp tăng cường quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông theo quan điểm trải nghiệm
Một là, điều chỉnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018, giảm bớt nội dung học văn hóa tăng các nội dung giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh.
- Tăng tỷ lệ thời gian cho nội dung giáo dục đạo đức. Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông phải được thực hiện theo nguyên tắc giáo dục đạo đức làm gốc. Theo đó phải ưu thiên thời gian nhiều hơn cho các hoạt động giáo dục đạo đức. Cấp học càng thấp thì tỷ lệ thời gian dành cho giáo dục đạo đức càng cao.
- Coi trọng các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Giáo dục đạo đức phải có nội dung, chương trình phù hợp. Về nhận thức, phải trang bị cho học sinh những giá trị đạo đức của con người Việt Nam, những kiến thức về chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ. Phải rèn luyện cho học sinh có thói quen hành vi ứng xử theo chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ ở nhà trường, các mối quan hệ trong gia đình và các mối quan hệ ngoài xã hội. Về thái độ đạo đức, phải giáo dục cho học sinh dám ủng hộ và bảo vệ cái đúng, dám phê phán cái sai; biết kính trọng người cao tuổi, biết yêu thương, nhường nhịn những người chung quanh. Đặc biệt phải dạy cho học sinh biết thương yêu, biết chia sẻ với những phận đời dưới đáy xã hội, để rồi các em có thể sống nhân hậu hơn, và không còn vô cảm trước những hoàn cảnh kém may mắn.
- Dạy cho học sinh những kỹ năng rèn luyện sức khỏe. Dạy cho các em thật nhiều môn thể dục, thể thao như các bài thể dục, các môn thể thao bơi lội, bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, điền kinh, võ thuật, múa hát, vẽ, đánh cờ… theo sở thích cá nhân. Các em ấy biết càng nhiều môn thể dục thì càng tốt, không phải chỉ dạy cho biết, mà phải luyện tập thường xuyên. Bởi vì kiến thức có tài giỏi đến mấy nhưng thân thể gầy còm, ốm yếu thì chẳng khác gì người ta chất đầy vàng bạc châu báu trên một con thuyền mục nát để đi ra khơi.
- Dạy cho các em kỹ năng làm việc nhóm và biết chung sống với mọi người. Giúp cho các em hiểu rằng dù có tài giỏi đến mấy cũng không thể thành công nếu chỉ làm việc thui thủi một mình. Biết cách chung sống với người khác và biết làm việc nhóm sẽ giúp cho các em nhận ra rằng có những con người thật đáng ghét nhưng mình vẫn phải học cách sống và làm việc chung với người ta, và giúp các em có thêm kỹ năng đối phó với những người không trung thực, nói thật hay nhưng suốt ngày đùn đẩy công việc cho người khác.
- Dạy cho các em những kỹ năng tự chăm sóc bản thân. Giáo dục phải dạy cho học sinh một số kỹ năng sống tối thiểu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày để các em có thể tự chăm lo được cho bản thân. Khi thoát khỏi vòng tay của cha mẹ và gia đình, khi hòa nhập vào cuộc sống xã hội, trong những hoàn cảnh khó khăn, trong những tình huống không có ai hỗ trợ bao bọc thì các em vẫn đủ bản lĩnh vượt qua mọi khó khăn thử thách của cuộc đời. Bởi vì cuộc đời thì đâu ai biết được ngày mai rồi sẽ ra sao. Nhồi nhét thật nhiều kiến thức chuyên môn, nhưng cuối cùng thì các em vẫn không thể tự lo được cho bản thân mình, thì có phải là quá bi kịch hay không.
Hai là, xây dựng nội dung giáo dục đạo đức cho từng lớp và từng cấp học phù hợp độ tuổi
Nội dung giáo dục đạo đức nhà trường phải hình thành cho học sinh các mối quan hệ trong nhà trường, quan hệ bạn bè, mối quan hệ thầy trò, mối quan hệ giới tính, mối quan hệ đoàn đội. Phải xây dựng được hệ thống chuẩn mực giá trị đạo đức trong nhà trường thành các hành vi ứng xử để giáo dục, rèn luyện thói quen cho học sinh. Đồng thời với xây dựng các mối quan hệ trong nhà trường phải giáo dục cho học sinh đạo đức trong học tập, đạo đức trong công việc, đạo đức trong sinh hoat, lối sống…
Nội dung giáo dục đạo đức gia đình phải giáo dục cho học sinh các mối quan hệ trong gia đình, quan hệ với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột, họ hàng, gia tộc. Đồng thời phải xây dựng được hệ thống chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử trong gia đình. Học sinh phải được giáo dục, rèn luyện theo chuẩn mực đạo đức gia đình.
Nội dung giáo dục đạo đức xã hội, phải giáo dục cho học sinh các mối quan hệ ngoài xã hội, quan hệ với người lớn, người già, với người tàn tật, người yếu thế trong xã hội. Phải xây dựng được hệ thống chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội, hành vi ứng xử làm nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh.
Nội dung giáo dục phải hình thành cho học sinh các mối quan hệ giữa con người với con người, hình thành tình cảm yêu thương con người, thái độ và hành vi biết hy sinh quyền lợi bản thân, biết quan tâm đến người khác, biết yêu công việc, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt.
Ba là, đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông theo hướng giáo dục trong thực tiễn
Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh bao giờ cũng khó khăn hơn quá trình dạy học. Quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh không phải chỉ lên lớp các bài lý thuyết về nội dung giáo dục công dân trong sách giáo khoa cho học sinh học thuộc lòng để đi thi lấy điểm cao. Quy luật hình thành đạo đức đòi hỏi giáo viên phải dẫn dắt học sinh đi từ nhận thức hiểu biết về đạo đức đến niềm tin đạo đức, đến ý thức, thái độ đạo đức và cuối cùng là thói quen hành vi đạo đức. Nhận thức là mức độ thấp nhất trong giáo dục đạo đức. Không phải cứ có nhận thức về đạo đức là đã có niềm tin, ý thức, thái độ và hành vi đạo đức. Giáo dục đạo đức là một quá trình liên tục, kiên trì, đôi khi phải làm đi làm lại nhiều lần bằng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau.
Những bài giảng lý thuyết trên lớp của giáo viên dù có hay, có hấp dẫn đến mấy thì cũng chỉ có thể nâng cao nhận thức cho học sinh về đạo đức. Để chuyển hóa nhận thức thành niềm tin đạo đức, thành ý thức, thái độ, hành vi đạo đức thì phải sử dụng nhiều phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục khác nhau. Một trong những phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục tốt nhất là đưa học sinh vào hoạt động để rèn luyện thói quen hành vi đạo đức. Bởi vì thói quen hành vi đạo đức chỉ có thể được hình thành trong hoạt động. Có nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Có những hoạt động trong nhà trường, có những hoạt động ở gia đình, có những hoạt động ngoài xã hội. Nhà trường phải phân loại hoạt động, sắp xếp các loại hình hoạt động theo từng nhóm, mỗi nhóm có mục tiêu cụ thể về rèn luyện đạo đức. Thông qua hoạt động có tổ chức, có mục đích để hình thành niềm tin, hình thành ý thức và thái độ đạo đức của học sinh.
Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức của nhà trường theo hướng coi trọng các hoạt động giáo dục trong thực tiễn. Hãy tổ chức cho học sinh tham gia các loại hình hoạt động đa dạng trong nhà trường theo chương trình, kế hoạch được xác định trước và các hoạt động công cộng của xã hội, những công việc vừa sức với mình. Tổ chức những chuyến đi đến nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, trung tâm nuôi dưỡng người tàn tật sẽ giúp thêm các em thấy được bản thân mình còn quá may mắn. Tổ chức cho học sinh đóng vai để thực hành giải quyết những vấn đề có tính thời sự đang nổi lên trong thực tiễn.
Bốn là, phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông
- Nâng cao nhận thức cho các chủ thể giáo dục, thống nhất mục tiêu và nội dung giáo dục đạo đức. Nhà trường, gia đình và xã hội cần có nhận thức thống nhất rằng, giáo dục đạo đức là nền tảng hình thành nhân cách con người Việt Nam mới, là nhiệm vụ của toàn xã hội, không chỉ của riêng nhà trường.
Tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo, tập huấn phụ huynh và cán bộ đoàn thể về vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức học sinh. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phẩm chất, hành vi đạo đức học sinh phù hợp với từng lứa tuổi, làm cơ sở chung cho sự phối hợp giữa ba bên.
- Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường trong giáo dục đạo đức. Nhà trường giữ vai trò trung tâm, có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức toàn diện, lồng ghép vào các môn học (Đạo đức, Giáo dục công dân, Ngữ văn, Lịch sử...) và các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
Thành lập Ban phối hợp giáo dục đạo đức học sinh (gồm đại diện Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh, tổ chức Đoàn – Đội, công an khu vực…).
Thường xuyên thông tin hai chiều với gia đình thông qua sổ liên lạc điện tử, nhóm Zalo lớp, hoặc họp phụ huynh để thống nhất phương pháp giáo dục, uốn nắn kịp thời những biểu hiện lệch chuẩn.
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc nêu gương và quản lý hành vi của học sinh. Gia đình là môi trường đầu tiên và quan trọng nhất hình thành nhân cách học sinh. Do đó, cha mẹ cần làm gương sáng về lối sống, ứng xử, tinh thần trách nhiệm. Tạo môi trường gia đình yêu thương, dân chủ, kỷ luật tích cực, giúp con tự tin, trung thực, biết tôn trọng người khác. Phối hợp với giáo viên trong việc theo dõi, giáo dục hành vi đạo đức của học sinh ngoài giờ học (thói quen sinh hoạt, sử dụng mạng xã hội, tham gia hoạt động cộng đồng…). Tổ chức các lớp kỹ năng làm cha mẹ, câu lạc bộ phụ huynh, nhằm nâng cao năng lực giáo dục đạo đức cho con cái.
- Huy động sự tham gia tích cực của các lực lượng xã hội. Chính quyền địa phương, đoàn thể, tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công an, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức tôn giáo, doanh nghiệp, cơ sở văn hóa – thể thao) cần tham gia vào công tác giáo dục đạo đức qua hoạt động trải nghiệm, lao động công ích, thiện nguyện, hướng nghiệp, giáo dục truyền thống. Chương trình “Trường học an toàn – thân thiện – không bạo lực”, phối hợp đảm bảo an ninh trật tự quanh trường học. Tuyên truyền trên phương tiện truyền thông đại chúng về các tấm gương người tốt, việc tốt, góp phần hình thành giá trị đạo đức xã hội tích cực.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong phối hợp giáo dục đạo đức cho học sinh. Xây dựng cổng thông tin kết nối giữa nhà trường – phụ huynh – cộng đồng để chia sẻ thông tin, trao đổi biện pháp giáo dục, theo dõi quá trình rèn luyện đạo đức học sinh. Tổ chức các diễn đàn trực tuyến, câu lạc bộ đạo đức – kỹ năng sống online giúp học sinh được thảo luận, phản biện và chia sẻ về các vấn đề đạo đức trong đời sống hiện đại. Đẩy mạnh truyền thông giáo dục đạo đức trên mạng xã hội, kết hợp tuyên truyền các giá trị nhân ái, trung thực, trách nhiệm.
- Đổi mới cơ chế kiểm tra, đánh giá và khen thưởng. Xây dựng cơ chế đánh giá phẩm chất đạo đức định kỳ, dựa trên sự phối hợp ba bên (giáo viên chủ nhiệm – phụ huynh – tổ chức đoàn thể xã hội). Khen thưởng, tôn vinh học sinh tiêu biểu trong rèn luyện đạo đức, đồng thời có biện pháp tư vấn, hỗ trợ đối với học sinh vi phạm hoặc có biểu hiện lệch chuẩn. Đưa tiêu chí phối hợp hiệu quả giữa nhà trường – gia đình – xã hội vào nội dung thi đua hàng năm của các trường phổ thông.
- Nâng cao năng lực và trách nhiệm của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm cần được bồi dưỡng kỹ năng tư vấn tâm lý, giáo dục đạo đức và giao tiếp với phụ huynh. Thực hiện chế độ hỗ trợ, khuyến khích giáo viên chủ nhiệm tích cực trong công tác phối hợp giáo dục đạo đức học sinh. Xây dựng môi trường nhà trường kiểu mẫu, nơi giáo viên là tấm gương đạo đức, góp phần lan tỏa giá trị nhân văn tới học sinh và cộng đồng.
Tóm lại, sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông là yếu tố quyết định để hình thành nhân cách, lối sống, giá trị đạo đức bền vững. Khi ba môi trường này cùng chung tiếng nói, cùng hành động và cùng nêu gương, công tác giáo dục đạo đức sẽ thực sự đi vào chiều sâu, góp phần xây dựng thế hệ công dân Việt Nam vừa có tri thức, vừa có tâm hồn đẹp, sống trách nhiệm và nhân ái.
5. Kết luận
Giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm là hướng đi phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, góp phần giúp học sinh phát triển phẩm chất toàn diện, năng lực tự chủ, tinh thần trách nhiệm xã hội. Quản lý hiệu quả hoạt động này tại Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; giữa quản lý hành chính với quản lý bằng giá trị.
Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ góp phần xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, năng động, sáng tạo, giúp học sinh “học để làm người”, hướng đến mục tiêu phát triển con người Thành phố Hồ Chí Minh năng động, nghĩa tình, hội nhập và sáng tạo.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Văn Hạnh (2015), Triết lý giáo dục của John Dewey và vận dụng dạy học nghiệp vụ sư phạm trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay, Tạp chí Giáo dục và Xã hội của Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, số đặc biệt tháng 11/2015.
2. Đặng Thành Hưng (2012), Quan niệm đạo đức và giáo dục đạo đức trong nhà trường hiện đại, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 84 tháng 9/2012, Hà Nội.
3. Kolb, D.A. (1984), Experiential learning: experience as the source of learning and Development, Englewood Cliffs, New Jersey: Prentice-Hall.
4. Kolb, A. Y., Kolb, D. A., Passarelli, A., & Sharma, G. (2014). On Becoming an Experiential Educator: The Educator Role Profile. Simulation & Gaming, 45(2).
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
6. Nguyễn Thị Thi (2017), Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở Thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục, Luận án Tiến sĩ Quản lý Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục.