1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT - NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ƯU THẾ VƯỢT TRỘI KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

06:01 | 12/05/2026
aA

 

Đại tá Nguyễn Văn Phương

Chủ nhiệm Chính trị, Binh đoàn 20

Email: [email protected]

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những luận điệu xuyên tạc chức năng Quân đội tham gia lao động sản xuất; làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở chính trị - pháp lý và thực tiễn khẳng định tính tất yếu, đúng đắn của nhiệm vụ kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quân đội tham gia lao động sản xuất trong tình hình mới. Qua đó khẳng định, Quân đội tham gia lao động sản xuất không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh mà còn thể hiện rõ bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo nên những giá trị và ưu thế vượt trội không thể phủ nhận trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Từ khóa: Lao động sản xuất, quốc phòng, kinh tế - xã hội, Quân đội trong kỷ nguyên mới.

Thiếu tướng Ngô Minh Thuấn, Tư lệnh Binh đoàn 20 đón Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang và đoàn công tác

dự khởi công Trung tâm Y tế Bảo Lạc, do Binh đoàn 20 tài trợ 200 tỷ đồng.

1. Đặt vấn đề

Hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã xây đắp nên truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong bối cảnh mới, cùng với việc thực hiện thắng lợi chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, Quân đội luôn tích cực tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội. Các tập đoàn, binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, tổng công ty, công ty, xí nghiệp, các đơn vị hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động tăng gia sản xuất của các cơ quan, đơn vị đã được tổ chức có kế hoạch, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, đóng góp cho ngân sách Nhà nước, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố chính quyền địa phương, cơ sở; xóa các điểm trắng về y tế, giáo dục; từng bước nâng cao thu nhập cho quân nhân, viên chức, lao động quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn chặt với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, làm nền tảng tăng cường tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới; không để bị động, bất ngờ, nhất là trên các hướng, các địa bàn chiến lược, vùng biên cương, hải đảo, vùng dân tộc ít người. Thế nhưng, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội, chúng cho rằng, quân đội chỉ có nhiệm vụ chiến đấu. Vì vậy, nhận diện đúng và phản bác hiệu quả quan điểm này là rất cần thiết.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội của các thế lực thù địch

Xuất phát từ lập trường và lý luận về xây dựng quân đội tư sản, những người có quan điểm đối lập với Đảng cho rằng, “quân đội chỉ có một chức năng chiến đấu, không thể có chức năng lao động sản xuất”. Họ lập luận rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là làm sai chức năng, nhiệm vụ, “tự quân đội làm suy yếu sức mạnh của mình”, vì như thế, “quân đội đã thành đội quân ô hợp”. Theo họ, “Quân đội tham gia lao động sản xuất là làm thay chức năng của người dân, không tập trung huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dẫn đến buông lỏng kỷ luật, xa rời nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc”. Từ đó, họ cho rằng, phát triển kinh tế - xã hội là công việc của các thành phần, lực lượng kinh tế dân sự, tuân theo quy luật thị trường. Hiện nay là thời bình, cần tinh giảm quân đội, chuyển một bộ phận lớn quân nhân sang dân sự, do nhà nước quản lý, những người này được tổ chức như hợp tác xã nông nghiệp, hay xí nghiệp để tập trung phát triển kinh tế - xã hội; làm như thế vừa giảm được ngân sách quốc phòng chi cho quân đội, đỡ gây tốn kém một khoản ngân sách khổng lồ chi cho quân đội; đây là nguồn lực, sức mạnh có lợi cho nước, cho dân. Theo quan điểm của họ, quốc phòng và kinh tế, văn hóa, xã hội là những lĩnh vực riêng biệt, hoạt động theo những mục đích, cách thức vận hành khác nhau. Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội “là bất khả thi, không cần thiết, không có cơ sở để thực hiện”, “chỉ sinh lời cho một số quan chức, tướng lĩnh”. Do đó, họ kiến nghị với Đảng, Nhà nước: không nên để quân đội tham gia lao động sản xuất vì như thế, “quân đội sinh hư”, “mất sức chiến đấu”, quân đội không có trách nhiệm và không có khả năng kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội như đang hành sự.

Loạt ý kiến khác lại cho rằng, trước đây, đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thì Quân đội vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất để bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho cán bộ, chiến sĩ, điều đó là cần thiết, có thể chấp nhận. Tuy nhiên, ngày nay, sau 40 năm đổi mới đất nước, vị thế của Việt Nam đã khác, đã có đủ điều kiện cung cấp ngân sách, cơ sở vật chất cho các đơn vị Quân đội hoạt động chính quy. Hơn nữa, Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng xác định đã có nguồn ngân sách hằng năm cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các đơn vị quân đội. Nghĩa là, Việt Nam đã có đủ tiềm lực để xây dựng quân đội nhà nghề, hiện đại, nên Quân đội không cần lao động sản xuất nữa, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu theo gương quân đội nhà nghề ở các nước phương Tây.

Họ đã tung ra những tin đồn sai trái và biện luận rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội thực chất là “sự mị dân của tập đoàn Hà Nội”, “là bức màn che chắn cho các hành vi tham ô, tham nhũng, lợi dụng nguồn lực của toàn dân như đất đai, cảng biển, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn nhà nước và nguồn nhân lực miễn phí để làm giàu cho những nhóm lợi ích và một số cá nhân có chức vụ, quyền hạn”, là “tham nhũng biến tướng”. Với lý lẽ ấy, họ cho rằng cơ chế hạch toán, phân phối trong Quân đội không rõ ràng, thiếu minh bạch, còn nhiều hiện tượng xin - cho “rất nặng”. Quân đội tham gia lao động sản xuất sẽ làm sai lệch bản chất kinh tế quốc gia, dùng mệnh lệnh để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, lợi dụng sức lao động của chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự để làm kinh tế; quyền, lợi ích sẽ rơi vào một số nhóm có đặc quyền, đặc lợi là sĩ quan, tướng lĩnh.

Hơn thế, việc làm kinh tế, sản xuất, kinh doanh của Quân đội là lợi dụng đất quốc phòng cũng như hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng để thu lợi riêng. Lợi dụng các vụ việc sai phạm trong quản lý kinh tế, chuyển mục đích sử dụng đất quốc phòng, trong xây dựng cơ bản, họ tung tin rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội là sai nguyên tắc, nhất là “những sai phạm thì cho vào quản lý theo chế độ mật”, dẫn đến mất dân chủ, gây ra thiệt hại, tổn thất nghiêm trọng về kinh tế, tác động tiêu cực đến xã hội, làm ảnh hưởng đến phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; gây thiệt hại cho quốc kế, dân sinh. Quân đội tham gia lao động sản xuất là cạnh tranh không bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; trong đó, các doanh nghiệp quân đội được đầu tư về vốn, đất đai và các nguồn lực khác, sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế, “chẳng lẽ đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu lại đi ăn chặn miếng cơm, manh áo của nhân dân”, v.v..

Một số ý kiến khác cho rằng, có thể cán bộ, chiến sĩ quân đội tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi gà thì được; nhưng trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhiệm vụ kinh tế ngày càng khó khăn, phức tạp; các quan hệ kinh tế cũng tiềm ẩn những khó khăn, và nhiều mặt trái; khoa học công nghệ phát triển như vũ bão; thì quân đội không được đào tạo chuyên sâu, lao động sản xuất không phải là chức năng chủ yếu, cơ bản thì việc này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ dẫn đến sai phạm, vi phạm pháp luật về kinh tế, mất an ninh, an toàn trong sản xuất.

Tung ra luận điệu này, các thế lực thù địch muốn “mập mờ, đánh tráo khái niệm”, gây hoang mang và lái những hiểu biết không đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, làm cho người dân xa quân đội. Những âm mưu, thủ đoạn này hết sức nham hiểm bởi chúng hướng lái, tuyên truyền xuyên tạc uy tín, vị thế, phẩm chất và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội; gây chia rẽ giữa Quân đội với Nhân dân, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân.

2.2. Luận cứ khoa học đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch về nhiệm vụ Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới

Cả lý luận và thực tế đã chứng minh Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là đúng phù quy luật, phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò quan trọng của quân đội trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. C. Mác chỉ rõ: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế” [3, tr.246]. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lênin đã khẳng định, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế: “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến cho chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động” [6, tr.122]. Đầu năm 1920, khi Nhà nước Xô - viết bước sang thời kỳ ngừng chiến, nhưng khả năng các nước đế quốc vũ trang can thiệp vẫn còn, V.I. Lênin đề xuất chuyển một số đơn vị chính quy của Hồng quân Liên Xô thành những đội quân lao động, trực tiếp tham gia sản xuất, tạo thêm nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội và cho Hồng quân. Tư tưởng của V.I. Lênin đã đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành lý luận về quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ khi thành lập, chức năng phát triển kinh tế của Quân đội ta đã được Lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng, chỉ đạo thực hiện để khắc phục sự bao vây, phong tỏa của kẻ thù, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế nước nhà và sự đóng góp của nhân dân. Người yêu cầu “các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt, chăn nuôi để tự túc phần nào để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính nhưng phải cố sức tăng gia” ”[4, tr.431]. Bàn về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của quân đội, Người cho rằng “Chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà… Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế… Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau… Đảng và Chính phủ giao cho quân đội hai nhiệm vụ đó, và quân đội phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi” [5, tr.365].

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, các đội quân của các triều đại phong kiến Việt Nam luôn kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với xây dựng đất nước theo tinh thần tự lực, tự cường, lấy tư tưởng "quốc phú, binh cường" để chăm lo tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, của cộng đồng, quân đội vừa tham gia sản xuất, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, biết “lấy yếu chống mạnh”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa xây dựng tiềm lực quốc phòng tạo nên sức mạnh và thế trận vượt trội để giành thắng lợi trên chiến trường.

Hai là, thực tiễn tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên các địa bàn trọng yếu, chiến lược

Trong thời gian qua, các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng, các trung tâm, viện nghiên cứu của quân đội sản xuất các mặt hàng lưỡng dụng, có chất lượng cao, có thương hiệu uy tín lớn, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần phục vụ dân sinh, đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động...

Các tập đoàn, binh đoàn, tổng công ty quân đội đi tiên phong trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ, trở thành những thương hiệu quốc gia và quốc tế trong các lĩnh vực xây dựng, thông tin, viễn thông, điện tử, dịch vụ cảng biển và logistic, tham gia hội nhập quốc tế, xúc tiến thương mại và đối ngoại quốc phòng, thực sự trở thành một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Theo báo cáo của cơ quan chức năng: “Các doanh nghiệp quân đội và các đơn vị quân đội tham gia phát triển kinh tế đã tạo ra từ 7-8% GDP cho đất nước; hàng năm tạo việc làm cho gần 300 ngàn lao động, chiến khoảng 15% tổng số lao động của khối doanh nghiệp Nhà nước” [1, tr.1-2].

Ở những nơi khó khăn, gian khổ như biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quân đội là lực lượng tiên phong đi đầu trong phát triển kinh tế, gắn củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố chính quyền địa phương. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng trên cơ sở khai thác nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động; gắn xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn với kết cấu hạ tầng phục vụ quốc phòng, dân sinh; xây dựng các cơ sở chính trị - xã hội vững chắc ở các vùng rừng núi, biên giới, hải đảo. Tổ chức hoạt động kinh tế ngày càng hiệu quả, đã góp phần hình thành lối sống định canh, định cư, giúp ổn định chỗ ở cho hàng trăm nghìn hộ nghèo, xây dựng các làng, xã, đặc khu đảo vững mạnh, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng dân quân biển, đảo và dự bị động viên hùng hậu, rộng khắp.

Ba là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giảm bớt ngân sách chi thường xuyên, nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, tạo ra nguồn lực đủ mạnh để hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

Hoạt động quốc phòng là hoạt động không sinh lợi và tiêu tốn nguồn lực về vật chất, tinh thần, sức lao động của xã hội. Ph. Ăngghen đã khẳng định: “Bạo lực hiện nay là quân đội và hạm đội và cả hai - như tất cả chúng ta, đau xót thay, đều biết rõ - “tốn kém nhiều tiền một cách kinh khủng”. Nhưng bạo lực không thể làm ra tiền được… Vậy, xét đến cùng thì tiền phải do sản xuất kinh tế làm ra” [2, tr.235].Trên cơ sở nguồn nhân lực được biên chế và nguồn ngân sách được Nhà nước bảo đảm cung cấp, quân đội đã và đang cố gắng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ với chi phí thấp nhất. Cùng với đó, các hoạt động lao động sản xuất tạo ra nguồn của cải vật chất góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, quỹ phúc lợi chung và đóng góp vào GDP của quốc gia.

Trong điều kiện sản xuất quốc phòng nước ta đang ở trình độ thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ tiên tiến, để bảo đảm cho quân đội có các loại vũ khí, trang bị quân sự hiện đại, cần phát triển sản xuất quốc phòng bằng nguồn lực trong nước và tận dụng có hiệu quả quan hệ hợp tác đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương để đẩy mạnh hợp tác, liên doanh, liên kết trong nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa và nâng cấp các sản phẩm quân sự, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực. Tham gia lao động sản xuất, sẽ tăng năng suất, hiệu quả, tạo cơ sở cho việc hiện đại hóa dây chuyền, làm chủ công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao, hiện đại, đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho toàn quân, tiến tới tự chủ chiến lược về mặt quan trọng này.

Đồng thời, tạo nguồn lực để đầu tư­ nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các mặt hàng có tính l­ưỡng dụng cao trong các nhà máy quốc phòng và ở một số cơ sở công nghiệp nặng với với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường, tập trung vào một số ngành như­ cơ khí luyện kim, cơ khí chế tạo, điện tử, tin học, hoá dầu. Qua đó, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, đổi mới, sáng tạo, hiện đại hóa vũ khí trang bị, xây dựng nguồn lực đáp ứng trang bị cho Quân đội hiện đại trong thời kỳ mới.

Bốn là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của Quân đội trong thời bình ở các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế và bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện tốt phương châm của Đảng “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Phát huy truyền thống, thế mạnh trong thăm, khám, chữa bệnh, các đơn vị y tế quân đội đã làm tốt công tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực, khám chữa bệnh cho nhân dân; phối hợp với các đơn vị y tế trong xây dựng và hoàn thiện mô hình “quân dân y kết hợp” góp phần chăm sóc và bảo đảm công tác khám chữa bệnh, cấp thuốc cho nhân dân trên các địa bàn, đặc biệt là ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Hệ thống các nhà trường quân đội, viện nghiên cứu tranh thủ năng lực, kinh nghiệm, chất xám của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và phát huy hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật, giáo trình, tài liệu; tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội được đào tạo bài bản, toàn diện và chuyên sâu, có sự am hiểu về những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có kiến thức về những ngành chuyên môn kỹ thuật, có thể tham gia đắc lực vào công cuộc xây dựng, phát triển nền kinh tế đất nước.

Thông qua lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội có thêm nhiều điều kiện để xây đắp mối quan hệ máu thịt với nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện công tác dân vận, các hoạt động nhân đạo, thực hiện chính sách xã hội như: khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn ở biên giới, hải đảo. Bảo đảm an sinh xã hội, trợ giúp đối tượng yếu thế; xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, trường học vùng biên; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công, khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân; tặng “nhà tình nghĩa”, “nhà tình đồng đội”; xây cầu, làm đường giao thông nông thôn, công trình thủy lợi, nước sạch; thăm hỏi, tặng quà, sổ tiết kiệm, hỗ trợ các đối tượng chính sách.

Năm là, các đơn vị cơ sở Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, một số đơn vị Quân đội như bệnh viện, nhà khách, đoàn an dưỡng,… đã nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, quản lý đơn vị, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lao động, năng suất lao động để phục vụ bộ đội và Nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của hệ thống cơ quan quản lý, tham mưu điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng được hoàn thiện, phát huy tốt vị thế, vai trò của Quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, hiệu quả.

2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội trong tình hình mới

Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng để cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân hiểu đúng, đầy đủ về vai trò, giá trị, ý nghĩa quan trọng, phương thức tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội hiệu quả; nhiệm vụ, phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của tập thể, cá nhân. Phát huy vai trò phương tiện truyền thông ở cấp quốc gia, các ban, bộ, ngành, các địa phương trong việc đưa tin, tuyên truyền, định hướng nhận thức cho nhân dân, hệ thống chính trị và bộ đội hiểu đúng, đầy đủ về ”Bộ đội Cụ Hồ” tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội trong bối cảnh mới.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tổ chức thực hiện chức năng là đội quân lao động sản của Quân đội.

Cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp trong Quân đội phải lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị thực hiện tốt việc tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, địa bàn, lĩnh vực được phân công. Trong nghị quyết, kế hoạch công tác phải xác định rõ chủ trương, chỉ tiêu, biện pháp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, tổ chức thuộc quyền phải rõ ràng; phân cấp, phân quyền phải rành mạch; đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên.

Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định về hoạt động của Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng. Có chính sách ưu tiên huy động nguồn lực đất đai, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực Quân đội tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng trên địa bàn xung yếu, chiến lược, các vùng biển, đảo, vành đai biên giới...

Bốn là, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh.

Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong tạo lập, huy động các nguồn lực đầu tư cho xây dựng các mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng hiệu quả. Rà soát, kiện toàn mô hình tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng hiện có theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, hiện đại và lưỡng dụng. Đổi mới mô hình quản lý của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng gắn với xu thế chung của thế giới và hội nhập quốc tế.

Năm là, phát huy vai trò của các tổng công ty, binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng gắn với xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện.

Nâng cao trình độ quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, hướng dẫn Nhân dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa mới; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Đối với các đoàn kinh tế - quốc phòng hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài và trên phạm vi dọc biên giới, cần chú trọng thường xuyên làm tốt công tác đối ngoại góp phần giữ vững và mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước.

Cảng Tân Cảng - Cát Lái thuộc Binh đoàn 20 - Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, là cảng lớn và hiện đại nhất Việt Nam, chiếm gần 30% sản lượng hàng hóa thông qua toàn quốc.

Sáu là, tiếp tục sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu hiện đại hóa Quân đội, việc đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy vai trò của Quân đội trong phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Theo đó, cần tiếp tục rà soát, sắp xếp, cơ cấu lại các doanh nghiệp Quân đội theo hướng tinh gọn, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu phục vụ quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế đất nước.

Cùng với đó, cần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực điều hành, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Quân đội trên nền tảng khoa học – công nghệ hiện đại, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Chú trọng ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời, tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại, minh bạch, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức và tư duy chiến lược đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Bên cạnh đó, cần tập trung phát triển các tập đoàn, tổng công ty Quân đội có quy mô phù hợp, hoạt động hiệu quả, có tiềm lực khoa học – công nghệ và khả năng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng cao. Qua đó, góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh và khẳng định vai trò của doanh nghiệp Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bảy là, đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc phòng, tăng cường xúc tiến, quảng bá và xuất khẩu các sản phẩm quốc phòng do Việt Nam tự nghiên cứu, chế tạo; đồng thời mở rộng hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng, nhất là công nghệ cao, công nghệ mới.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, việc mở rộng hợp tác kinh tế quốc phòng có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện đại, tự chủ và vững mạnh. Đây không chỉ là yêu cầu nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất của công nghiệp quốc phòng mà còn góp phần khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đó, cần tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về quốc phòng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, hợp tác nghiên cứu khoa học quân sự và tiếp cận các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến phục vụ nhiệm vụ xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cần chủ động tham gia các triển lãm quốc phòng quốc tế, hội chợ công nghiệp quốc phòng và diễn đàn hợp tác an ninh – quốc phòng nhằm giới thiệu, quảng bá năng lực sản xuất, nghiên cứu và chế tạo các sản phẩm công nghiệp quốc phòng của Việt Nam. Việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc phòng không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Quân đội trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, cần ưu tiên hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng hiện đại, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, an ninh mạng, vật liệu mới, tự động hóa và công nghệ chế tạo thông minh. Việc tiếp nhận, làm chủ và từng bước phát triển các công nghệ tiên tiến sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hiện đại hóa Quân đội, nâng cao khả năng nghiên cứu, thiết kế và chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các doanh nghiệp Quân đội, các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội trong đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường liên kết giữa công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân sinh, góp phần xây dựng nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, hiện đại và tự chủ.

3. Kết luận

Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội thể hiện rõ ý thức, trách nhiệm chính trị của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là một tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của Quân đội, là môi trường để tỏa sáng phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân hiện đại, đồng bộ trong tình hình mới, bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội. Đó là trách nhiệm của những người lính trong thời kỳ đổi mới. Đó cũng là phương cách đáp trả đanh thép trước sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện sự ủy thác của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, quyết tâm phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của Nhân dân./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Bộ Quốc phòng (2023), Tài liệu Hội thảo Đề án “Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, Hà Nội, Phụ lục II, tr. 1-2.

[2]. C. Mác và Ph. Ăng ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 235.

[3]. C. Mác và Ph. Ăngghen (1996), Toàn tập, Tập 29, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 246.

[4]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 431.

[5]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 365.

[6]. V.I. Lênin (2006), Toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2006, tr. 122

[7]. Vũ Hải Sản (2023), “Quân đội tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 14/12/2023.

[8]. Trần Đình Thăng (2018), “Quân đội tham gia lao động sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội”, Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 17/4/2018.

[9]. Thủ tướng Chính phủ (2026), Đề án "Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030".

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).