QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Dương Thị Út Tâm
Trường Đại học Nguyễn Huệ
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XIV về phát triển giáo dục và đào tạo trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trên cơ sở làm rõ tính tất yếu của việc đổi mới giáo dục trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bài viết đi sâu luận giải các nội dung trọng tâm và hệ thống giải pháp mang tính đột phá nhằm xây dựng nền giáo dục hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Từ khóa: Đại hội XIV; Giáo dục và đào tạo; Kỷ nguyên mới; Đột phá chiến lược; Nhân lực chất lượng cao.
1. Đặt vấn đề
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc quan trọng, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước với tinh thần tự chủ chiến lược và khát vọng vươn lên. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (AI, công nghệ số, công nghệ lượng tử) đang thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống, giáo dục và đào tạo không chỉ là quốc sách hàng đầu mà còn là động lực then chốt để Việt Nam bứt phá. Văn kiện Đại hội XIV đã xác định rõ tầm nhìn và lộ trình để giáo dục trở thành “ngọn đuốc soi đường” cho sự phát triển của lực lượng sản xuất mới và quản trị quốc gia hiện đại.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tính tất yếu của đổi mới giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới
Việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay không phải là một lựa chọn mang tính chủ quan, mà là một tất yếu khách quan, xuất phát từ những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới, yêu cầu phát triển đất nước và những hạn chế nội tại của hệ thống giáo dục. Trong tư duy của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, giáo dục không chỉ là lĩnh vực xã hội mà đã trở thành yếu tố quyết định trực tiếp đến tương lai dân tộc, đúng như khẳng định: “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc” [1, tr.100]. Chính nhận thức này đã đặt nền tảng lý luận cho yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ và toàn diện giáo dục trong kỷ nguyên mới.
Một là, tính tất yếu của đổi mới giáo dục xuất phát từ yêu cầu hiện thực hóa bước ngoặt lịch sử và khát vọng vươn mình của dân tộc. Đại hội XIV xác định đất nước đang đứng trước thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chuẩn bị bước vào một giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu chiến lược dài hạn. Để thực hiện thành công các mục tiêu đó, Việt Nam cần một nguồn lực nội sinh đủ mạnh, trong đó con người giữ vai trò trung tâm. Văn kiện nhấn mạnh: Phát huy nhân tố con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Điều này cho thấy giáo dục không chỉ là công cụ truyền thụ tri thức mà còn là phương tiện để khơi dậy khát vọng phát triển, ý chí tự cường và tinh thần sáng tạo của toàn dân tộc.
Trong bối cảnh đó, nếu giáo dục không được đổi mới kịp thời, sẽ không thể tạo ra thế hệ con người mới đáp ứng yêu cầu phát triển. Sự tụt hậu của giáo dục đồng nghĩa với sự suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia. Do đó, đổi mới giáo dục trở thành điều kiện tiên quyết để chuyển hóa khát vọng phát triển thành hiện thực, đưa đất nước bước vào quỹ đạo phát triển nhanh và bền vững.
Hai là, sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra yêu cầu phải đổi mới căn bản nền giáo dục. Thế giới đang chứng kiến sự bùng nổ của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và công nghệ lượng tử, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, mô hình giáo dục truyền thống, vốn dựa chủ yếu vào việc truyền thụ kiến thức một chiều, đã bộc lộ nhiều hạn chế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhận thức rõ điều này khi nhấn mạnh yêu cầu phải “đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non”[1, tr.101]. Đây không chỉ là một giải pháp kỹ thuật mà là biểu hiện của sự thay đổi tư duy giáo dục, từ chỗ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực thích ứng và sáng tạo.
Trong điều kiện công nghệ thay đổi nhanh chóng, tri thức trở nên lạc hậu chỉ trong thời gian ngắn, giáo dục phải chuyển sang mô hình học tập suốt đời, nơi người học có khả năng tự học, tự cập nhật tri thức và thích ứng với sự biến đổi liên tục của môi trường làm việc. Vì vậy, đổi mới giáo dục là yêu cầu tất yếu để hình thành lực lượng lao động mới – lực lượng sản xuất dựa trên tri thức và công nghệ.
Ba là, yêu cầu khắc phục những “điểm nghẽn” về chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động xã hội. Mặc dù giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song thực tiễn vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Văn kiện Đại hội XIV đánh giá: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đạt được một số kết quả quan trọng. Nội dung, phương thức giáo dục và đào tạo có sự đổi mới; chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các cấp học được nâng lên. Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng”[1, tr.296]. Những kết quả này cho thấy hướng đi đổi mới là đúng đắn.
Tuy nhiên, Đại hội cũng chỉ ra một cách thẳng thắn: “Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, còn nhiều bất cập; việc thực hiện xã hội hoá trong giáo dục và đào tạo có biểu hiện sai lệch; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục phẩm chất, nhân cách, giáo dục đại học chậm được cải thiện”[1, tr.328]. Những hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, làm giảm năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, đổi mới giáo dục không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo mà còn là giải pháp căn cơ để giải quyết bài toán năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Đây chính là con đường để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nhóm các quốc gia phát triển.
Bốn là, yêu cầu xây dựng hệ thống quản trị quốc gia hiện đại và bảo đảm công bằng xã hội. Kỷ nguyên mới không chỉ đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao mà còn yêu cầu đội ngũ cán bộ có tư duy quản trị hiện đại, có khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu và thích ứng với môi trường số hóa. Giáo dục vì vậy phải đảm nhận sứ mệnh đào tạo những con người có tư duy hệ thống, có bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, đổi mới giáo dục còn gắn liền với mục tiêu thực hiện công bằng xã hội. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh việc phát triển giáo dục phải bảo đảm tính bao trùm, tạo cơ hội học tập cho mọi người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc triển khai các chính sách như “miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông…” và đầu tư xây dựng các trường nội trú đã góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy giáo dục ở những khu vực khó khăn vẫn còn nhiều hạn chế, điều kiện học tập chưa bảo đảm. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, qua đó góp phần ổn định xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân.
Năm là, sự chuyển dịch vị thế của giáo dục từ “quốc sách hàng đầu” trở thành “động lực trung tâm” của đột phá chiến lược. Đây là điểm phát triển mới trong tư duy của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Nếu như trước đây giáo dục chủ yếu được coi là một trong những chính sách xã hội quan trọng, thì đến nay, giáo dục đã được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển.
Điều này thể hiện rõ qua mục tiêu xây dựng “nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới”. Để đạt được mục tiêu đó, giáo dục phải gắn chặt với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành lực lượng trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Sự chuyển dịch này cũng đồng nghĩa với việc thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư và quản lý giáo dục. Giáo dục không còn là lĩnh vực tiêu dùng ngân sách mà là lĩnh vực đầu tư chiến lược, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế. Do đó, đổi mới giáo dục là điều kiện để hiện thực hóa các đột phá chiến lược, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, tính tất yếu của đổi mới giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới được quy định bởi cả yếu tố khách quan và chủ quan, từ yêu cầu phát triển đất nước, tác động của thời đại đến những hạn chế nội tại của hệ thống giáo dục. Tư duy của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã phản ánh rõ nhận thức đó, đồng thời đặt nền tảng lý luận vững chắc cho việc triển khai các nội dung và giải pháp đổi mới giáo dục trong thời gian tới.
2.2. Nội dung trọng tâm về phát triển giáo dục và đào tạo trong văn kiện đại hội XIV
Nội dung phát triển giáo dục và đào tạo trong Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ là sự kế thừa những quan điểm nhất quán của Đảng qua các kỳ đại hội trước, mà còn thể hiện bước phát triển mới về tư duy lý luận, phản ánh yêu cầu cấp thiết của thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với xu thế toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, giáo dục và đào tạo được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Những nội dung trọng tâm được xác lập mang tính hệ thống, toàn diện và có chiều sâu, tạo nền tảng để xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới.
Một là, xác lập vị thế của giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đồng thời là động lực trung tâm của phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là nội dung có ý nghĩa nền tảng, thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: Nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc. Điểm mới ở đây không chỉ nằm ở sự khẳng định lại vị trí của giáo dục, mà còn ở việc nâng tầm giáo dục từ một chính sách xã hội thành một trụ cột của chiến lược phát triển.
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và kinh tế số trở thành xu thế chủ đạo, giáo dục được xem là nguồn lực sản xuất đặc biệt, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và bền vững. Vì vậy, Văn kiện yêu cầu phải gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục và đào tạo với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, coi giáo dục là yếu tố quyết định trong việc nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược của quốc gia. Sự chuyển dịch nhận thức này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó tạo cơ sở để đổi mới cách thức đầu tư, quản lý và phát triển giáo dục theo hướng hiện đại, hiệu quả và hội nhập.
Hai là, tập trung phát triển con người toàn diện, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của các ngành, lĩnh vực chiến lược. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định quan điểm xuyên suốt của Đảng về vai trò của con người, khi nhấn mạnh phát huy nhân tố con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và là mục tiêu của sự phát triển. Trên cơ sở đó, giáo dục được định hướng không chỉ nhằm truyền thụ tri thức mà còn phải hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực, thể lực và kỹ năng sống cho người học.
Đáng chú ý, nội dung giáo dục được yêu cầu gắn chặt với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới, bao gồm lòng yêu nước, ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm, năng lực sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế. Đồng thời, Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, chiến lược. Đây là định hướng mang tính đột phá, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học và năng lượng mới.
Như vậy, phát triển con người toàn diện và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không phải là hai mục tiêu tách rời, mà là hai mặt của một quá trình thống nhất. Giáo dục vừa phải đào tạo những con người có phẩm chất tốt, vừa phải trang bị cho họ năng lực chuyên môn cao, đủ khả năng tham gia vào quá trình sản xuất và quản trị hiện đại.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, mở, linh hoạt và liên thông, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời. Một trong những điểm mới quan trọng của Đại hội XIV là cách tiếp cận hệ thống giáo dục như một chỉnh thể mở, có khả năng thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của xã hội. Văn kiện xác định rõ: “đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, liên thông giữa các phương thức, trình độ và cấp học”[1, tr.101]. Điều này cho thấy giáo dục không còn là một hệ thống khép kín, mà phải tạo điều kiện cho người học có thể học tập linh hoạt, chuyển đổi giữa các bậc học, ngành học và phương thức đào tạo.
Bên cạnh đó, Đại hội XIV cũng làm rõ vai trò của các thành phần trong hệ thống giáo dục khi khẳng định: phát triển giáo dục công lập là trụ cột, giáo dục ngoài công lập là cấu phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Quan điểm này vừa bảo đảm vai trò định hướng của Nhà nước, vừa tạo điều kiện để huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục.
Việc xây dựng hệ thống giáo dục mở còn gắn liền với mục tiêu phát triển xã hội học tập. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm điều kiện học tập suốt đời cho người dân” và “đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về giáo dục, phù hợp với xu thế của thế giới hiện đại, nơi việc học không còn giới hạn trong nhà trường mà diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện và ứng dụng khoa học – công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số được xác định là một trong những đột phá quan trọng của giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Đây không chỉ là việc áp dụng công nghệ vào giảng dạy, mà còn là sự thay đổi căn bản phương thức tổ chức và vận hành hệ thống giáo dục.
Đặc biệt, Đại hội XIV yêu cầu đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non. Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược khi giáo dục phải chuẩn bị từ sớm cho thế hệ công dân số trong tương lai. Chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn tạo điều kiện cá nhân hóa quá trình học tập, giúp mỗi người học phát triển theo năng lực và nhu cầu riêng.
Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ còn góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao cho người dân ở vùng sâu, vùng xa. Như vậy, chuyển đổi số không chỉ là công cụ nâng cao chất lượng mà còn là phương tiện thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.
Năm là, hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị giáo dục và phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu mới. Đại hội XIV xác định rõ rằng đổi mới giáo dục không thể thành công nếu thiếu một hệ thống thể chế phù hợp và cơ chế quản trị hiệu quả. Vì vậy, Văn kiện nhấn mạnh: “đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo”. Đồng thời, yêu cầu “đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục… bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện, trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục” đã đặt nền tảng cho việc chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại.
Đặc biệt, Đại hội dành sự quan tâm sâu sắc đến đội ngũ nhà giáo khi khẳng định cần “có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và cán bộ quản lý giáo dục”. Điều này thể hiện nhận thức nhất quán rằng nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Việc nâng cao đời sống, vị thế và năng lực của đội ngũ này chính là giải pháp mang tính then chốt để bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới.
Sáu là, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại và nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục không thể phát triển trong trạng thái khép kín mà phải gắn với môi trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIV xác định: chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục… thu hút mạnh mẽ các nguồn lực cho giáo dục. Điều này không chỉ nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài mà còn để nâng cao chất lượng giáo dục theo chuẩn mực quốc tế.
Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh việc “khuyến khích các nhà giáo, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học trong nước”, cũng như “đẩy mạnh việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài và thu hút sinh viên nước ngoài đến học tập tại Việt Nam”. Những định hướng này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn tạo điều kiện để giáo dục Việt Nam hội nhập sâu rộng vào mạng lưới giáo dục toàn cầu.
Bảy là, phát triển hài hòa giáo dục giữa các vùng miền, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”. Điều này thể hiện rõ quan điểm phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển giáo dục..
2.3. Hệ thống giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần đại hội XIV
Để Trên cơ sở xác lập rõ quan điểm và nội dung phát triển giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra một hệ thống giải pháp mang tính đột phá, đồng bộ và khả thi nhằm tạo ra sự chuyển biến căn bản, toàn diện của nền giáo dục quốc dân. Những giải pháp này không chỉ nhằm khắc phục các hạn chế, bất cập hiện nay mà còn hướng tới xây dựng nền giáo dục hiện đại, hội nhập, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Một là, tập trung nguồn lực triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa giáo dục và đào tạo. Đây là giải pháp có tính nền tảng, nhằm tạo lập điều kiện vật chất – kỹ thuật cho quá trình đổi mới giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ nhiệm vụ “xây dựng, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hoá, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo”[1, tr.101]. Điều này cho thấy Đảng đã đặt giáo dục vào vị trí ưu tiên trong phân bổ nguồn lực quốc gia, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển.
Giải pháp này bao hàm việc đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, hạ tầng công nghệ thông tin, thư viện số và các phòng thí nghiệm hiện đại. Đồng thời, cần ưu tiên đầu tư cho những khu vực còn nhiều khó khăn như miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nhằm bảo đảm sự phát triển cân bằng và công bằng trong giáo dục. Việc đầu tư không dàn trải mà phải có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra những “cực tăng trưởng” trong giáo dục để lan tỏa ra toàn hệ thống.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục, coi đây là động lực đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Điều này đòi hỏi phải xây dựng một hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ, bao gồm hạ tầng số, học liệu số, nền tảng dạy học trực tuyến và hệ thống quản trị thông minh.
Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy mà còn phải thay đổi phương thức dạy và học theo hướng cá nhân hóa, lấy người học làm trung tâm. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn sẽ giúp phân tích nhu cầu học tập, từ đó thiết kế lộ trình học phù hợp cho từng cá nhân. Đồng thời, chuyển đổi số còn giúp mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân ở mọi vùng miền, góp phần thực hiện công bằng trong giáo dục.
Ba là, đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với các ngành, lĩnh vực chiến lược của đất nước. Đại hội XIV xác định rõ nhiệm vụ tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược. Đây là giải pháp mang tính chiến lược, nhằm tạo ra lực lượng lao động có trình độ cao, có khả năng làm chủ công nghệ và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Để thực hiện giải pháp này, cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, gắn lý thuyết với thực tiễn, tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Mô hình liên kết “nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp” cần được phát huy, trong đó doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình đến đánh giá kết quả học tập. Đồng thời, cần có cơ chế đặc thù để phát hiện, thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân tài, đặc biệt là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn.
Bốn là, đổi mới căn bản cơ chế quản lý giáo dục, thực hiện tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và hiện đại hóa quản trị giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục… bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất, có sự phân công, phân cấp, phân quyền hợp lý. Đồng thời, cần bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện, trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục. Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị hiện đại.
Tự chủ giáo dục, đặc biệt là tự chủ đại học, không chỉ là tự chủ về tài chính mà còn là tự chủ về học thuật, tổ chức bộ máy và nhân sự. Tuy nhiên, tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, bảo đảm sự minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của các cơ sở giáo dục. Việc xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng độc lập, khách quan là yêu cầu tất yếu để bảo đảm chất lượng giáo dục trong bối cảnh tự chủ.
Năm là, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội XIV khẳng định: có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định, bởi chất lượng giáo dục phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đội ngũ này.
Để thực hiện, cần cải cách mạnh mẽ chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho nhà giáo. Đồng thời, phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo hướng hiện đại, chú trọng phát triển năng lực công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và phương pháp giảng dạy tiên tiến. Bên cạnh đó, cần có cơ chế sàng lọc, loại bỏ những người không đáp ứng yêu cầu, đồng thời thu hút các chuyên gia, nhà khoa học giỏi tham gia vào giảng dạy và nghiên cứu.
Sáu là, phát triển giáo dục hài hòa giữa các vùng miền, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Điều này thể hiện rõ quan điểm phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Đồng thời, cần giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn tại như “thiếu giáo viên, thiếu trường, thiếu lớp và thiết bị dạy học”. Việc bảo đảm điều kiện học tập tối thiểu cho mọi học sinh là yêu cầu cơ bản, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân.
Bảy là, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và thu hút nguồn lực tinh hoa từ thế giới. Văn kiện Đại hội XIV xác định: chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục… thu hút mạnh mẽ các nguồn lực cho giáo dục. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Việc hội nhập không chỉ dừng lại ở trao đổi sinh viên, giảng viên mà cần tham gia sâu vào các mạng lưới giáo dục quốc tế, tiếp cận các chuẩn mực kiểm định chất lượng tiên tiến. Đồng thời, cần khuyến khích các cơ sở giáo dục quốc tế đầu tư vào Việt Nam, cũng như thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, góp phần nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế.
Tám là, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời trong toàn xã hội. Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức học tập theo hướng đa dạng hoá. Đây là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài, nhằm xây dựng một xã hội tri thức, nơi mọi người dân đều có cơ hội học tập và phát triển.
Việc phát triển xã hội học tập không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục mà cần có sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các thiết chế như trung tâm học tập cộng đồng, hệ thống đào tạo từ xa cần được củng cố và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đặc biệt là những nhóm yếu thế, được tiếp cận với giáo dục.
3. Kết luận
Tựu trung lại, quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV về giáo dục và đào tạo không chỉ dừng lại ở sự kế thừa, mà là một bước đột phá tư duy mang tính thời đại. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, giáo dục và đào tạo đã được xác lập là động lực trung tâm, là “chìa khóa” để tháo gỡ các điểm nghẽn về nguồn nhân lực và năng suất lao động.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ chuyển đổi số toàn diện, hiện đại hóa quản trị đại học đến đổi mới chính sách đãi ngộ nhà giáo sẽ tạo ra hệ sinh thái giáo dục hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới. Đây là nền tảng vững chắc để phát triển con người Việt Nam toàn diện, khơi dậy khát vọng cống hiến, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI./.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
4. Quốc hội Việt Nam (2019), Luật Giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam (2022), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
PERSPECTIVES ON EDUCATION AND TRAINING DEVELOPMENT IN THE SPIRIT OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
Duong Thi Ut Tam
Nguyen Hue University
Email: [email protected]
Abstract: This article focuses on analyzing the viewpoints of the Communist Party of Vietnam at the 14th National Congress regarding the development of education and training in the context of the country entering a new era—the era of national advancement. Based on clarifying the inevitability of educational reform under the impact of the Fourth Industrial Revolution, the paper further examines key contents and breakthrough solutions aimed at building a modern education system on par with regional and global standards, thereby creating high-quality human resources to serve the goal of rapid and sustainable national development.
Keywords: 14th National Congress; Education and training; New era; Strategic breakthroughs; High-quality human resources.