PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ VẬN DỤNG TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
Hoàng Minh Phúc - Lê Thị Mỹ Duyên
Trường Đại học Nguyễn Huệ
Địa chỉ gmail: [email protected]
Tóm tắt:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận khẳng định vai trò làm chủ của nhân dân và coi dân là trung tâm, là chủ thể quyết định thành công của cách mạng. Trong đó, phương pháp dân vận của Người nhấn mạnh các yêu cầu: phát huy dân chủ; tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh quần chúng; thường xuyên kiểm tra, giám sát; và nêu gương của cán bộ, đảng viên. Những quan điểm này có giá trị chỉ đạo sâu sắc đối với công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, bài viết làm rõ việc vận dụng các phương pháp dân vận đó tại các đơn vị cơ sở trong quân đội, qua đó góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt quân, dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp dân vận, vận dụng, đơn vị cơ sở; Quân đội.
Nhận bài: 5/11/2025; Biên tập: 5/11/2025; Duyệt đăng: 6/11/2025.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vai trò của nhân dân, là chủ thể của quyền lực, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng và của cách mạng. Từ sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng toàn diện về công tác dân vận, trong đó phương pháp dân vận được xem là yếu tố cốt lõi, quyết định hiệu quả của mọi phong trào cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, để quần chúng thực sự phát huy vai trò cách mạng của mình, cần tiến hành công tác dân vận một cách khoa học, cụ thể và phù hợp với thực tiễn. Người khẳng định: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho” [1]; đồng thời nhấn mạnh: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [2]. Trên nền tảng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận được thể hiện qua nhiều phương diện, vừa mang tính lý luận sâu sắc, vừa có giá trị thực tiễn bền vững đối với công tác vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận
Thứ nhất, phương pháp phát huy dân chủ.
Người cho rằng, “Nước ta là nước dân chủ” [3]. Quan niệm ấy thể hiện nhận thức sâu sắc rằng dân là gốc của nước, là chủ thể sáng tạo lịch sử và quyết định vận mệnh dân tộc. Do vậy, dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện, nguyên tắc và phương pháp trong toàn bộ hoạt động dân vận. Thực hành dân chủ chính là phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc, hướng đến lợi ích của dân, vì hạnh phúc của dân. Người làm công tác dân vận phải biết dựa vào dân, tôn trọng dân, tạo môi trường dân chủ thực sự để nhân dân được bàn bạc, đóng góp ý kiến và tham gia trực tiếp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy dân chủ cũng đồng nghĩa với việc khơi dậy tinh thần tự giác, chủ động của nhân dân, làm cho mọi người hiểu rằng họ là chủ nhân của đất nước, từ đó tự nguyện cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng.
Thứ hai, phương pháp tổ chức, tập hợp và lãnh đạo quần chúng.
Hồ Chí Minh cho rằng, để cách mạng giành thắng lợi, nhất thiết phải có phương pháp khoa học trong việc huy động và tổ chức lực lượng nhân dân. Mọi công việc dù lớn hay nhỏ đều phải có kế hoạch cụ thể, tránh tùy tiện, hình thức, làm cho có. Người phê phán gay gắt lối làm việc đại khái, không có trình tự, thiếu tính toán chu đáo, bởi theo Người, cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy” [4]. Trước những biến động phức tạp của thực tiễn, người cán bộ dân vận phải luôn suy xét cẩn trọng: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”[5]. Điều đó có nghĩa là công tác dân vận không thể tiến hành cảm tính, mà phải dựa trên nghiên cứu cụ thể, nắm vững tình hình, đánh giá đúng thực tiễn để đưa ra quyết định phù hợp và tổ chức thực hiện triệt để. Muốn tập hợp và lãnh đạo quần chúng hiệu quả, người cán bộ dân vận cần dựa vào phong trào yêu nước, lấy thực tiễn làm nền tảng, qua đó khơi dậy tiềm năng to lớn trong nhân dân, biến sức mạnh rời rạc thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Thứ ba, phương pháp kiểm tra, giám sát và rút kinh nghiệm trong công tác dân vận.
Người khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc ban hành chủ trương, đường lối, mà quan trọng hơn là phải tổ chức thực hiện và thường xuyên kiểm tra, giám sát. Người viết: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra” [6]. Như vậy, kiểm tra, giám sát vừa là khâu then chốt bảo đảm tính hiệu quả, vừa là phương thức để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế trong thực hiện dân vận. Hồ Chí Minh cảnh báo, nếu làm việc này “sơ sài” thì chắc chắn sẽ “hỏng việc”. Để kiểm tra đạt hiệu quả, cần xác định rõ đối tượng, nội dung và phương pháp kiểm tra, trong đó tập trung vào cả “việc” lẫn “người”. Người lãnh đạo phải trực tiếp tham gia công tác này bởi “Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín” [7]. Quá trình kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, có chương trình, kế hoạch rõ ràng, tuân thủ nguyên tắc “mắt thấy, tai nghe”, gắn dân chủ với kỷ luật, minh bạch với thực chất. Sau mỗi công việc, cần tổ chức kiểm thảo, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân làm tốt và nghiêm túc phê bình những thiếu sót. Kinh nghiệm đó phải được tổng kết, phổ biến rộng rãi để mọi cán bộ, địa phương học tập, nhờ đó công tác dân vận ngày càng hoàn thiện.
Thứ tư, phương pháp nêu gương.
Người chỉ rõ: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [8]. Tư tưởng này thể hiện nhận thức sâu sắc về sức mạnh lan tỏa của hành động thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, nêu gương không chỉ là yêu cầu đạo đức mà còn là phương pháp vận động nhân dân hiệu quả nhất. Người cán bộ dân vận phải thực sự mẫu mực trong phẩm chất, lối sống, trong quan hệ với dân. Khi lời nói đi đôi với việc làm, khi hành động phù hợp với lời tuyên truyền, sức thuyết phục sẽ tăng lên gấp bội, tạo nên niềm tin bền vững trong nhân dân. Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được” [9]. Như vậy, nêu gương không chỉ là chuẩn mực đạo đức cá nhân mà còn là phương pháp dân vận thiết thực, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.
2.2. Vận dụng ở các đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Thời gian qua, việc quán triệt và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong toàn quân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự nỗ lực của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị và lực lượng chuyên trách làm công tác dân vận, các đơn vị cơ sở đã triển khai đồng bộ nhiều nội dung thiết thực, phù hợp với điều kiện nhiệm vụ và đặc điểm địa bàn.
Các hoạt động dân vận đã gắn chặt với nhiệm vụ chính trị trung tâm, góp phần củng cố trận địa chính trị - tư tưởng trong quân đội; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân, dân; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, thực sự là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là nền tảng vững chắc để quân đội thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục quán triệt và vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; qua đó bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Công tác dân vận ở cơ sở muốn đạt hiệu quả bền vững phải phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng đơn vị, từng địa bàn công tác; bảo đảm thiết thực, sâu rộng và gắn bó mật thiết với quyền lợi, nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác dân vận.
Mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, quy chế của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác dân vận trong tình hình mới. Cần cụ thể hóa nội dung công tác dân vận vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, gắn với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp và trách nhiệm của từng cấp, từng cá nhân, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hiệu quả. Đồng thời, coi kết quả công tác dân vận là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và người chỉ huy đơn vị.
Hai là, nâng cao năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện công tác dân vận.
Đây là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng, hiệu quả của các hoạt động vận động quần chúng. Mỗi quân nhân phải được trang bị kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, vận động, thuyết phục và xử lý tình huống trong môi trường dân cư đa dạng, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Cán bộ, chiến sĩ phải thực sự gương mẫu trong lời nói và hành động, gần gũi, tôn trọng, lắng nghe và chia sẻ với nhân dân; coi lợi ích của nhân dân là mục tiêu phục vụ; luôn giữ gìn kỷ luật, tác phong, nếp sống quân nhân mẫu mực. Việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm, tinh thần vì nhân dân phục vụ cần được tiến hành thường xuyên, gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong toàn quân.
Ba là, nội dung, hình thức và phương pháp công tác dân vận cần được đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn cơ sở.
Các đơn vị cần đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng những mô hình dân vận mới, sát với đặc điểm từng địa bàn, đối tượng, góp phần giải quyết những vấn đề bức thiết của nhân dân như phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, phòng chống thiên tai, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn an ninh trật tự địa bàn. Trong quá trình tiến hành dân vận, phải kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục với các hoạt động cụ thể, mang tính hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân về vật chất và tinh thần. Đổi mới phương pháp dân vận không chỉ ở cách thức tiếp cận mà còn ở nội dung truyền đạt, bảo đảm gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, nhận thức và đặc điểm văn hóa của từng nhóm dân cư.
Bốn là, phối hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội địa phương cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả dân vận.
Các đơn vị cơ sở trong quân đội cần thường xuyên duy trì mối liên hệ chặt chẽ, trao đổi, thống nhất chương trình, kế hoạch công tác, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Thông qua đó, kịp thời nắm bắt tình hình nhân dân, tham mưu, phối hợp giải quyết hiệu quả những vấn đề nảy sinh, không để xảy ra điểm nóng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân. Việc phối hợp cần hướng tới mục tiêu phát huy vai trò của quân đội trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm lo chính sách hậu phương quân đội, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và ứng phó với thiên tai, sự cố môi trường.
Năm là, coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong thực hiện công tác dân vận.
Mỗi cơ quan, đơn vị phải duy trì nền nếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ dân vận, kịp thời phát hiện, uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, biểu dương và nhân rộng các tập thể, cá nhân có cách làm sáng tạo, hiệu quả. Các phong trào như “Dân vận khéo”, “Đơn vị dân vận tốt”, “Quân đội chung tay vì người nghèo” cần tiếp tục được phát huy, trở thành động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ hăng hái thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bên cạnh đó, việc khen thưởng, động viên phải kịp thời, công khai, minh bạch, tạo động lực phấn đấu cho toàn đơn vị; đồng thời kiên quyết xử lý những biểu hiện hình thức, quan liêu, làm dân vận đối phó, gây ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của quân đội trong lòng nhân dân.
3. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận là sự kết tinh giữa lý luận cách mạng khoa học và kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong quá trình vận động quần chúng của Đảng và nhân dân ta. Những quan điểm đó không chỉ phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng ở các giai đoạn lịch sử trước đây, mà còn giữ nguyên giá trị định hướng lâu dài đối với công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.
Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc thấm nhuần và vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trở thành yêu cầu khách quan và có ý nghĩa chiến lược. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa quân với dân, xây dựng và tăng cường “thế trận lòng dân” vững chắc. Trên cơ sở đó, tạo nên nền tảng bền vững bảo đảm cho sự ổn định chính trị, sức mạnh tổng hợp của quốc phòng – an ninh và mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
[1], [2], [3] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. 6, tr.232, 234, 232.
[4], [5], [6], [7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 5, tr.332, 279, 636, 637.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 284.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 223.
Linh Tuệ