1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

PHONG CÁCH DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG TÁC DÂN VẬN CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ Ở CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

06:46 | 13/04/2026
aA

 

Nguyễn Văn Hanh, Lê Thị Thảo

Khoa Triết học Mác - Lênin, Học viện Chính trị

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Phong cách dân vận Hồ Chí Minh hình thành từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống “lấy dân làm gốc” của dân tộc. Đó là sự thống nhất giữa nguyên tắc và phương pháp, giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng, tính khoa học với tính nhân văn sâu sắc. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và vận dụng phong cách dân vận Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực công tác dân vận cho cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở quân đội, góp phần củng cố đoàn kết quân - dân và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Từ khóa: dân vận; phong cách dân vận; Hồ Chí Minh; đơn vị cơ sở quân đội; thế trận lòng dân.

1. Đặt vấn đề

Dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng, gắn trực tiếp với thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[3, tr.234]. Sự kết hợp giữa tư tưởng “lấy dân làm gốc” và phương pháp gần dân, trọng dân, tin dân, dựa vào dân và vì dân của Người đã hình thành nên phong cách dân vận đặc sắc Hồ Chí Minh, trở thành chuẩn mực định hướng hoạt động dân vận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu quân đội phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ. Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, đồng thời đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, việc vận dụng phong cách dân vận Hồ Chí Minh để nâng cao năng lực công tác dân vận cho cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở càng trở nên cấp thiết.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Nội dung cơ bản phong cách dân vận Hồ Chí Minh

Thứ nhất, phong cách dân vận thấm nhuần nguyên tắc “lấy dân làm gốc”.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[4, tr.453], qua đó khẳng định nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Người luôn xác định nhân dân là chủ, là gốc của nước; vì vậy, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đồng thời hướng tới phục vụ nhân dân. Người chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” [2, tr.51], coi đó là tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng - sai trong hoạt động của cán bộ, đảng viên. Như vậy, quan điểm “lấy dân làm gốc” không chỉ định hướng lập trường, thái độ của đội ngũ cán bộ đối với nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác dân vận trong thực tiễn.

Thứ hai, phong cách gần dân, trọng dân, hiểu dân, tin dân và có trách nhiệm với dân.

Theo Hồ Chí Minh, cán bộ làm dân vận trước hết phải: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”[3, tr.233], nghĩa là phải luôn suy nghĩ cho dân, nhìn vào đời sống thực tế của dân, lắng nghe ý kiến của dân, trực tiếp đi cơ sở, nói cho dân hiểu và cùng dân hành động. Người phê phán gay gắt bệnh quan liêu, xa dân, “chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”[3, tr.234], coi đó là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của nhân dân. Bản thân Người luôn nêu gương về lối sống giản dị, gần gũi, chân thành, tôn trọng nhân dân, từ đó tạo nên uy tín và sức thuyết phục lớn lao của phong cách dân vận Hồ Chí Minh.

Thứ ba, phong cách dân vận đề cao dân chủ, thực hành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” gắn với “nói đi đôi với làm” và nêu gương của cán bộ.

Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là “để cho dân mở miệng ra”, nghĩa là tạo điều kiện để nhân dân được bày tỏ ý kiến, tham gia bàn bạc và quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, lợi ích của mình, qua đó phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực. Trong công tác dân vận, Người chỉ rõ phải “bàn bạc với dân, hỏi ý kiến dân, cùng dân đặt kế hoạch, cùng dân thi hành, cùng dân kiểm tra” [3, tr.233], coi đó là phương pháp căn bản để biến chủ trương, đường lối của Đảng thành chương trình hành động tự giác của quần chúng. Đồng thời, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu: “Nói phải đi đôi với làm”. xem việc nêu gương của cán bộ là “một cách dân vận thiết thực nhất”. Theo Người, nếu cán bộ nói hay, viết giỏi mà bản thân không gương mẫu trong công việc và đời sống thì “quần chúng cũng không tin”, thậm chí phản tác dụng trong dân vận. Vì vậy, phong cách dân vận của Hồ Chí Minh thống nhất giữa dân chủ và nêu gương; tôn trọng, phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời đòi hỏi cán bộ phải tự rèn luyện, làm gương từ những việc nhỏ nhất hằng ngày để thuyết phục, tập hợp và dẫn dắt nhân dân bằng uy tín đạo đức và hiệu quả công việc cụ thể.

Thứ tư, phong cách dân vận chú trọng tổ chức lực lượng quần chúng và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Trong bài “Dân vận”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: dân vận là “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho” [3, tr.232]. Điều đó khẳng định người làm dân vận không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, giải thích, mà phải biết tổ chức các phong trào, lựa chọn hình thức sinh hoạt, tập hợp quần chúng phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn; đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng để biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hành động tự giác của nhân dân.

Cùng với đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của kiểm tra, giám sát trong công tác dân vận; yêu cầu “trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân; khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” [3, tr.233]. Vận dụng phong cách đó, công tác dân vận hiện nay phải gắn chặt với công tác kiểm tra, giám sát các phong trào, kịp thời phát hiện, biểu dương nhân tố tích cực, uốn nắn lệch lạc, bảo đảm mọi hoạt động dân vận đều mang lại kết quả cụ thể, thiết thực, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội.

Như vậy, phong cách dân vận Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, phương pháp gần dân, trọng dân, phát huy dân chủ, nêu gương và tổ chức khoa học, thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận.

2.2. Ý nghĩa đối với nâng cao năng lực công tác dân vận cho cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở quân đội hiện nay

Thứ nhất, phong cách dân vận Hồ Chí Minh góp phần nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ.

Việc học tập và làm theo phong cách dân vận của Người giúp cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc hơn vai trò quyết định của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ đó nhận thức đầy đủ, cụ thể hơn trách nhiệm “trung với Đảng, hiếu với dân” trong thực tiễn công tác hằng ngày. Quán triệt lời dạy “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[3, tr.234], cán bộ, chiến sĩ có cơ sở để tự soi, tự sửa, khắc phục các biểu hiện quan liêu, xa dân, tác phong hành chính, hình thức trong quan hệ với nhân dân, từng bước xây dựng phong cách gần dân, trọng dân, tôn trọng và lắng nghe nhân dân. Từ đó, phẩm chất “vì nhân dân phục vụ” được củng cố vững chắc hơn, góp phần làm cho hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng được khẳng định và lan tỏa sâu rộng trong lòng nhân dân, nhất là trên địa bàn cơ sở nơi đơn vị đóng quân.

Thứ hai, phong cách dân vận Hồ Chí Minh định hướng phương pháp, kỹ năng dân vận phù hợp cho cán bộ, chiến sĩ cơ sở.

Trên thực tế, cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở thường trực tiếp tiến hành công tác dân vận trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, phong tục, tập quán đa dạng. Vận dụng phong cách “gần dân, hiểu dân, nói dân nghe, làm dân tin”, cán bộ, chiến sĩ có thể lựa chọn nội dung, hình thức dân vận linh hoạt, kết hợp giữa tuyên truyền, vận động với tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở. Thông qua quá trình đó, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện, nâng cao kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, kỹ năng tổ chức hoạt động quần chúng và xử lý các tình huống phức tạp nảy sinh trên địa bàn; đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, làm cho công tác dân vận ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, tránh được bệnh hành chính, hình thức.

Thứ ba, phong cách dân vận Hồ Chí Minh góp phần củng cố đoàn kết quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Thực hiện tốt phong cách dân vận của Người, cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở không chỉ gắn bó mật thiết với nhân dân trong sinh hoạt, lao động, chiến đấu mà còn chủ động tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới, Đảng ta nhấn mạnh:“Bắt vào giai đoạn mới, càng phải chăm lo xây dựng thế trận lòng dân; thế trận lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; thế trận lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; thế trận lòng dân vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hoá giải”[1, tr.38-39]. Điều đó cho thấy, công tác dân vận của quân đội ở cơ sở không chỉ góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt quân - dân, mà còn trực tiếp tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Thứ tư, phong cách dân vận Hồ Chí Minh gợi mở giải pháp khắc phục những hạn chế trong công tác dân vận ở đơn vị cơ sở hiện nay.

Thực tiễn cho thấy, ở một số đơn vị, công tác dân vận vẫn còn biểu hiện nặng về hình thức; nội dung, phương pháp chậm được đổi mới; cơ chế phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể ở cơ sở có nơi chưa chặt chẽ; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, lúng túng khi xử lý các tình huống phức tạp nảy sinh trên địa bàn. Trong bối cảnh đó, Đảng ta yêu cầu phải, “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động... tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của Nhân dân" [1, tr.284-285], qua đó xác định rõ yêu cầu đổi mới công tác dân vận, cả về nhận thức lẫn hành động, trong toàn hệ thống chính trị.

Vận dụng phong cách dân vận Hồ Chí Minh, các đơn vị cơ sở cần tập trung vào việc tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ dân vận là trách nhiệm, coi đó là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá phẩm chất, năng lực của mỗi quân nhân. Đồng thời, phải chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dân vận (điều tra cơ bản địa bàn, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, đối thoại, xử lý tình huống…) cho cán bộ các cấp; đổi mới nội dung, hình thức dân vận theo hướng cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm từng khu vực, từng đối tượng nhân dân. Cùng với đó, cần chủ động xây dựng, nhân rộng các mô hình “dân vận khéo”, các điển hình tiên tiến ở cơ sở; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm; kịp thời khen thưởng tập thể, cá nhân làm tốt và xử lý nghiêm các vi phạm trong quan hệ với nhân dân, qua đó làm cho việc học tập và làm theo phong cách dân vận Hồ Chí Minh trở thành nề nếp, thực chất trong toàn đơn vị.

3. Kết luận

Phong cách dân vận Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong di sản tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi trọng vai trò của dân trong mọi thắng lợi của cách mạng. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, phong cách đó là chuẩn mực để cán bộ, chiến sĩ soi rọi, rèn luyện, hoàn thiện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, phương pháp, phong thái tiến hành công tác dân vận ở cơ sở. Trong bối cảnh mới, việc quán triệt và vận dụng sáng tạo phong cách dân vận Hồ Chí Minh vào công tác dân vận của các đơn vị cơ sở quân đội có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nền tảng cho nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân vận, biến những giá trị bền vững của phong cách dân vận Hồ Chí Minh thành hành động cụ thể, tự giác, thường xuyên trong công tác và sinh hoạt hằng ngày./.

Tài liệu tham khảo

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQGST, Hà Nội.

[2]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG ST, Hà Nội.

[3]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG ST, Hà Nội.

[4]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG ST, Hà Nội.

HO CHI MINH’S MASS MOBILIZATION STYLE AND ITS SIGNIFICANCE FOR ENHANCING MASS MOBILIZATION CAPACITY AMONG CADRES AND SOLDIERS AT GRASSROOTS MILITARY UNITS TODAY

Nguyen Van Hanh, Le Thi Thao
Department of Marxist–Leninist Philosophy, Political Academy

Email: [email protected]

Abstract: Ho Chi Minh’s mass mobilization style was formed through the rich practice of the Vietnamese revolution, grounded in Marxism–Leninism and the national tradition of “taking the people as the root.” It represents a unity between principles and methods, theory and practice, and between party-mindedness, scientific rigor, and profound humanism. In the current context, studying and applying Ho Chi Minh’s mass mobilization style is of special significance for enhancing the capacity of cadres and soldiers in conducting mass mobilization work at grassroots military units, thereby contributing to strengthening military–civilian solidarity and building a firm “people’s hearts and minds posture.”

Keywords: Mass mobilization; mass mobilization style; Ho Chi Minh; grassroots military units; people’s hearts and minds posture.

 

Ý kiến bạn đọc
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ HỘI VIỆC LÀM XANH CỦA LAO ĐỘNG TRẺ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI XANH
Nguyễn Xuân Sơn Long: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected] ThS. Đặng Hương Giang: Giảng viên Khoa Khoa học chính trị và Nhân văn Email: [email protected] Nguyễn Lê Bảo Phương: Sinh viên Trường Đại học Ngoại thương Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài báo nhằm xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến cơ hội việc làm xanh của lao động trẻ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic nhị phân trên 347 quan sát hợp lệ, trong đó 192 quan sát được thu thập từ khảo sát trực tiếp lao động trẻ đang có việc làm. Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp phân tầng theo nhóm tuổi, giới tính và lĩnh vực ngành nghề. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy có sáu trên bảy biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Trong đó, trình độ học vấn là nhân tố có tác động mạnh nhất (Exp(β) = 10,510). Đặc biệt, nghiên cứu phát hiện khoảng cách đáng lo ngại giữa nhận thức và năng lực thực tiễn: ý thức môi trường đạt trung bình 3,953/5 điểm, trong khi kỹ năng công nghệ xanh chỉ đạt 2,964/5 điểm (khoảng cách = 0,99 điểm). Từ những phát hiện trên, bài viết đề xuất mô hình lộ trình hành động xanh cá nhân A→B cùng hệ thống giải pháp đồng bộ dành cho bốn nhóm chủ thể chính: Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và bản thân lao động trẻ. Từ khóa: Việc làm xanh, lao động trẻ, chuyển đổi xanh, hồi quy logistic, Việt Nam
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).