PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN TẠI TRƯỜNG MẦM NON
Tống Thị Khánh An, Nguyễn Ngọc Tuyền, Hà Thị Lưu Ly
Trường Đại học Sài Gòn
Email: [email protected]
Tóm tắt: Phát triển trí nhớ ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục mầm non, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi - giai đoạn chuẩn bị cho trẻ bước vào bậc tiểu học. Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng giáo viên mầm non sử dụng các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ của trẻ qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên đã sử dụng nhiều biện pháp để phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ nhưng hiệu quả các biện pháp vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học trong các cơ sở giáo dục mầm non.
Từ khóa: Giáo dục mầm non, trí nhớ ngôn ngữ, trẻ 5-6 tuổi, hoạt động kể chuyện, biện pháp.
Abstract: Developing verbal memory is one of the important tasks in early childhood education, especially for preschool children aged 5 to 6-a preparation stage for children entering primary school. This article presents the survey results on the current practices of early childhood teachers in using instructional measures to develop children's verbal memory through literature-based activities in preschools. The research findings show that although teachers have utilized various measures to foster children's verbal memory, the effectiveness of these measures remains limited. Based on these findings, the article proposes several directions to enhance the effectiveness of verbal memory development for preschool children aged 5 to 6 through literature-based activities in early childhood educational institutions.
Keywords: Early childhood education, verbal memory, 5-6 year-old children, storytelling activities, instructional strategies.
1. Đặt vấn đề
Giai đoạn 5-6 tuổi được xem là thời kỳ bản lề đối với sự phát triển ngôn ngữ và nhận thức, đặt nền tảng tất yếu cho việc chuyển giao sang bậc học tiểu học. Ở độ tuổi này, trí nhớ ngôn ngữ (TNNN) - khả năng ghi nhớ, lưu giữ và tái hiện thông tin ngôn ngữ đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành tư duy, phát triển giao tiếp và tiếp thu tri thức. Theo quan điểm của Baddeley (2003), trí nhớ làm việc đóng vai trò trung tâm trong quá trình xử lý và tiếp nhận các cấu trúc ngôn ngữ phức tạp. Đồng thời, Vygotsky (1978) cũng khẳng định ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ của tư duy, thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ thông qua các tương tác xã hội. Tại Việt Nam, đặc điểm tâm lý và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này đã được hệ thống hóa rõ nét trong các nghiên cứu về tâm lý học học đường (Nguyễn Xuân Thức, 2017). Trong giáo dục mầm non, hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, đặc biệt là kể chuyện, được xem là phương tiện hiệu quả nhất để phát triển TNNN. Thông qua việc nghe và kể lại, trẻ không chỉ mở rộng vốn từ mà còn nâng cao khả năng hiểu và diễn đạt ngôn ngữ nói (Isbell et al., 2004)). Hoạt động kể chuyện tương tác giúp trẻ hệ thống hóa nội dung, từ đó củng cố khả năng lưu giữ thông tin ngôn ngữ một cách bền vững (Mol et al., 2009). Bên cạnh đó, các tác động giáo dục dựa trên hoạt động kể chuyện còn góp phần phát triển năng lực tự sự và khả năng tổ chức ý tưởng mạch lạc cho trẻ (Nicolopoulou et al., 2021). Tuy nhiên, việc triển khai các biện pháp phát triển TNNN trong thực tế vẫn đối mặt với nhiều rào cản về phương pháp và hình thức tổ chức trong các cơ sở giáo dục mầm non (Justice & Pullen, 2003).
Để tìm hiểu thực trạng giáo viên mầm non (GVMN) trong việc sử dụng các biện pháp phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết tiến hành khảo sát, đồng thời phân tích những thuận lợi và khó khăn mà GV gặp phải khi tổ chức hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các định hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục ngôn ngữ trong bối cảnh hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát 123 GVMN đang trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các khu vực: xã Củ Chi, xã Nhà Bè, phường Gò Vấp, phường Bàn Cờ, phường Thủ Đức, phường Chợ Quán, phường Sài Gòn, phường Cầu Ông Lãnh và phường Bến Thành. Nghiên cứu được triển khai thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, kết hợp với quan sát và trao đổi trực tiếp trong quá trình tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học nhằm tìm hiểu các biện pháp phát triển TNNN cho trẻ. Thời gian khảo sát được thực hiện trong 3 tháng, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2025, bao gồm các giai đoạn: xây dựng công cụ khảo sát, tiến hành điều tra bằng bảng hỏi, quan sát hoạt động giáo dục tại lớp, phỏng vấn sâu và thống kê, phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy một số nội dung đáng chú ý như sau:
2.1. Hình thức, biện pháp giáo viên mầm non sử dụng nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ trong hoạt động kể chuyện
2.1.1. Hình thức tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
a. Hình thức sử dụng phổ biến trong tổ chức hoạt động kể chuyện
Trong tổ chức hoạt động kể chuyện, GV sử dụng nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ phát triển TNNN cho trẻ, tuy nhiên vẫn có xu hướng tập trung vào một số hình thức quen thuộc. Trong đó, hình thức được sử dụng phổ biến nhất là kể chuyện theo tranh, hình ảnh, sách truyện với 88/123 GV lựa chọn (71,54%). Điều này cho thấy GV ưu tiên khai thác các phương tiện trực quan nhằm hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện. Bên cạnh đó, hình thức kể chuyện bằng đồ dùng trực quan như rối, mô hình, sa bàn cũng được sử dụng khá phổ biến với 73 ý kiến (59,35%), thể hiện sự chú trọng đến việc kết hợp hình ảnh và hành động nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ cho trẻ. Ngoài ra, hình thức đóng vai, đóng kịch được 45,53% GV lựa chọn, góp phần giúp trẻ nhập vai và ghi nhớ nội dung sâu sắc hơn thông qua trải nghiệm. Tuy nhiên, các hình thức mang tính phát triển cao vẫn chưa được khai thác tương xứng. Cụ thể, kể chuyện sáng tạo chỉ chiếm 33,33%, kể chuyện theo nhóm/cá nhân chiếm 26,02%, đặc biệt là kể chuyện kết hợp công nghệ chỉ chiếm 19,51%. Các hình thức như trò chơi ngôn ngữ hoặc tổ chức kể chuyện ở mọi lúc, mọi nơi còn có tỉ lệ thấp hơn (dưới 20%). Những số liệu này cho thấy mặc dù hình thức tổ chức đã có sự đa dạng nhất định nhưng vẫn thiên về các phương pháp truyền thống, trong khi các hình thức phát huy tính chủ động, sáng tạo và trải nghiệm của trẻ chưa được khai thác đầy đủ.
b. Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức
Xét về mức độ sử dụng các hình thức tổ chức, GV có xu hướng vận dụng linh hoạt nhiều cách khác nhau, trong đó nổi bật là các hình thức phân nhóm. Cụ thể, việc chia nhóm theo hứng thú và nhu cầu được sử dụng thường xuyên nhiều nhất với 73,17%, cho thấy GV đã bước đầu quan tâm đến đặc điểm cá nhân của trẻ trong quá trình tổ chức hoạt động. Gần tương đương là hình thức chia nhóm theo năng lực với 71,54%, phản ánh xu hướng cá thể hóa trong tổ chức hoạt động giáo dục. Trong khi đó, các hình thức dựa trên đồ dùng trực quan như chia nhóm cùng loại đồ dùng (70,73%) và khác loại đồ dùng (65,85%) cũng được sử dụng ở mức cao, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với hai hình thức trên. Điều này cho thấy GV vẫn chú trọng đến yếu tố trực quan nhưng chưa thực sự đa dạng hóa cách thức tổ chức. Nhìn chung, mặc dù các hình thức đều được sử dụng với tần suất khá thường xuyên, song sự chênh lệch giữa các lựa chọn không quá lớn, cho thấy GV có xu hướng vận dụng linh hoạt nhiều hình thức trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện. Tuy nhiên, cần tiếp tục xem xét mức độ hiệu quả của từng hình thức trong việc phát triển các cấp độ khác nhau của TNNN, từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động.
2.1.2. Biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ trong hoạt động kể chuyện
a. Sử dụng đồ dùng trực quan
Trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện, việc sử dụng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, mô hình, rối… được GV vận dụng phổ biến nhằm hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện. Kết quả khảo sát cho thấy có 94/123 ý kiến (chiếm 76,42%) cho thấy vai trò quan trọng của hình ảnh trong việc kích thích trí nhớ ngôn ngữ. Thông qua việc quan sát trực quan, trẻ dễ dàng liên kết giữa hình ảnh và ngôn ngữ, từ đó ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách hiệu quả hơn.
b. Đàm thoại và đặt câu hỏi gợi mở
Đàm thoại kết hợp với hệ thống câu hỏi gợi mở sau khi kể chuyện là một trong những biện pháp sử dụng khá phổ biến được 66,67% GV sử dụng thường xuyên. Biện pháp này góp phần định hướng quá trình hồi tưởng của trẻ, giúp trẻ từng bước tái hiện lại nội dung câu chuyện một cách có hệ thống, đồng thời phát triển khả năng diễn đạt và tư duy ngôn ngữ.
c. Tổ chức cho trẻ kể lại câu chuyện
Việc tổ chức cho trẻ kể lại câu chuyện dưới nhiều hình thức khác nhau (kể cá nhân, kể theo nhóm, kể theo tranh…) được 64,23% GV áp dụng. Đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố trí nhớ ngôn ngữ, bởi quá trình tái hiện không chỉ giúp trẻ ghi nhớ sâu hơn mà còn góp phần rèn luyện kỹ năng diễn đạt và cấu trúc ngôn ngữ mạch lạc.
d. Đóng vai, đóng kịch
Hoạt động đóng vai, đóng kịch theo nội dung câu chuyện được 51,22% GV lựa chọn nhằm giúp trẻ nhập vai, ghi nhớ lời thoại và hành động nhân vật thông qua trải nghiệm thực tế. Biện pháp này không chỉ tăng hứng thú mà còn giúp trẻ ghi nhớ sâu sắc nội dung câu chuyện. Dù vậy, mức độ tổ chức chưa thường xuyên do phụ thuộc nhiều vào điều kiện không gian lớp học và thời gian chuẩn bị của GV.
e. Kể chuyện diễn cảm
Chiếm tỷ lệ 39,02%, biện pháp này dựa trên kỹ năng sư phạm của GV (giọng điệu, cử chỉ) để gây ấn tượng mạnh đến thính giác của trẻ. Việc nghe kể chuyện diễn cảm giúp trẻ cảm nhận nhịp điệu và ghi nhớ nội dung tốt hơn. Tuy nhiên, biện pháp này còn mang tính một chiều, giáo viên làm trung tâm, chưa phát huy tối đa tính chủ động tái hiện ngôn ngữ từ phía trẻ.
f. Khuyến khích trẻ kể chuyện sáng tạo
Đây là biện pháp mang tính phát triển tư duy nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp, chỉ đạt 29,27%. Việc khuyến khích trẻ thay đổi kết thúc truyện hoặc thêm thắt chi tiết mới giúp TNNN trở nên linh hoạt hơn. Số liệu khảo sát phản ánh thực trạng GV vẫn còn lúng túng hoặc chưa chú trọng đúng mức đến việc rèn luyện năng lực sáng tạo và vận dụng ngôn ngữ ở mức độ nâng cao cho trẻ.
g. Luyện tập, ôn lại trong các hoạt động khác
Việc lồng ghép nội dung câu chuyện vào các hoạt động khác nhằm củng cố và duy trì trí nhớ ngôn ngữ chỉ đạt 22,76%, cho thấy chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, việc ôn luyện thường xuyên trong các bối cảnh đa dạng có ý nghĩa quan trọng đối với việc ghi nhớ lâu dài và bền vững.
h. Nhận xét chung
Nhìn chung, các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ trong hoạt động kể chuyện hiện nay chủ yếu tập trung vào việc củng cố ghi nhớ và tái hiện nội dung thông qua các hình thức trực quan và tái kể. Trong khi đó, các biện pháp hướng tới phát triển ở mức độ cao hơn, như vận dụng linh hoạt và sáng tạo ngôn ngữ, vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh trong tổ chức hoạt động nhằm phát huy toàn diện năng lực ngôn ngữ của trẻ, đặc biệt là khả năng sáng tạo và vận dụng trong các tình huống đa dạng.
2.1.3. Mức độ sử dụng các biện pháp
Xét về mức độ sử dụng, các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ của GV trong hoạt động kể chuyện thể hiện sự phân hóa rõ rệt theo các cấp độ từ cơ bản đến nâng cao, phản ánh xu hướng ưu tiên khác nhau trong thực tiễn tổ chức hoạt động.
a. Nhóm biện pháp cơ bản
Các biện pháp thuộc nhóm cơ bản được triển khai với tần suất cao, phản ánh rõ định hướng ưu tiên của GV trong việc củng cố trí nhớ và khả năng hiểu nội dung câu chuyện của trẻ. Cụ thể, hoạt động đàm thoại về tên truyện và nhân vật đạt 91,06%, trong khi đàm thoại về hành động và tính cách nhân vật đạt 86,99%. Bên cạnh đó, các hình thức như trả lời câu hỏi liên quan đến nhân vật đạt 84,55% và kể lại nội dung theo trình tự đạt 79,67% cũng được sử dụng phổ biến. Những kết quả này cho thấy GV đặc biệt chú trọng đến việc giúp trẻ ghi nhớ, tái hiện và nắm bắt nội dung câu chuyện một cách có hệ thống, qua đó hình thành nền tảng ban đầu cho sự phát triển trí nhớ ngôn ngữ.
b. Nhóm biện pháp phát triển tư duy
So với nhóm biện pháp cơ bản, các biện pháp hướng tới phát triển tư duy có mức độ sử dụng thấp hơn rõ rệt. Cụ thể, hoạt động đánh giá và so sánh nhân vật đạt 66,67%, sơ đồ hóa nội dung câu chuyện đạt 57,72%, và vẽ lại nhân vật đạt 54,47%. Mặc dù các biện pháp này có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy phân tích, khả năng khái quát và tổ chức thông tin, song mức độ áp dụng còn hạn chế cho thấy GV chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của chúng trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện.
c. Nhóm biện pháp phát triển sáng tạo
Các biện pháp mang tính sáng tạo bước đầu đã được GV quan tâm, tuy nhiên mức độ khai thác vẫn chưa tương xứng với vai trò của chúng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ ở mức cao. Tỷ lệ GV sử dụng kể chuyện sáng tạo đạt 62,60% và đóng kịch đạt 61,79%, cho thấy đã có sự chú ý nhất định đến việc khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động mang tính trải nghiệm và sáng tạo. Tuy nhiên, biện pháp cải biên câu chuyện thành bài hát chỉ đạt 42,28%, đồng thời có tới 23,57% GV hoàn toàn không áp dụng. Điều này phản ánh thực tế rằng các hình thức phát triển ngôn ngữ gắn với tính sáng tạo, linh hoạt và tích hợp nghệ thuật vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
d. Nhận xét chung
Nhìn chung, sự khác biệt rõ rệt về mức độ sử dụng giữa các nhóm biện pháp cho thấy giáo viên hiện nay vẫn có xu hướng ưu tiên các phương pháp mang tính củng cố trí nhớ và tái hiện nội dung. Trong khi đó, các biện pháp hướng tới phát triển tư duy bậc cao và khả năng sáng tạo ngôn ngữ tuy đã được triển khai nhưng chưa thực sự được khai thác hiệu quả. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần có sự điều chỉnh trong việc tổ chức hoạt động kể chuyện theo hướng đa dạng hóa phương pháp nhằm phát huy toàn diện năng lực ngôn ngữ của trẻ, đặc biệt là khả năng vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong giao tiếp và biểu đạt.
2.1.4. Hiệu quả sử dụng các biện pháp phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
Bảng 1: Hiệu quả các biện pháp GVMN sử dụng để phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
|
STT |
Biện pháp |
Tỷ lệ (%) |
Hiệu quả đạt được |
Hạn chế |
|
1 |
Sử dụng đồ dùng trực quan (tranh, rối, mô hình) |
94/123 (76,42%) |
Giúp trẻ dễ ghi nhớ nội dung câu chuyện thông qua hình ảnh sinh động, tăng hứng thú. |
Chủ yếu mang tính minh họa, ít khai thác sâu, hiệu quả ghi nhớ chưa bền vững. |
|
2 |
Đàm thoại |
82/123 (66,67%) |
Củng cố trí nhớ, giúp trẻ nhớ nội dung câu chuyện, tên và hành động nhân vật. |
Câu hỏi còn đơn giản, thiên về tái hiện, chưa phát triển tư duy và vận dụng. |
|
3 |
Cho trẻ kể lại câu chuyện |
79/123 (64,23%) |
Rèn luyện khả năng tái hiện, diễn đạt nội dung câu chuyện. |
Chủ yếu tập trung vào trẻ khá, trẻ yếu ít có cơ hội thực hành. |
|
4 |
Tổ chức đóng vai, đóng kịch |
63/123 (51,22%) |
Tăng hứng thú, giúp trẻ nhập vai và ghi nhớ lời thoại, hành động nhân vật sâu hơn. |
Chưa tổ chức thường xuyên, phụ thuộc vào điều kiện lớp học. |
|
5 |
Kể chuyện diễn cảm |
48/123 (39,02%) |
Gây hứng thú, hỗ trợ trẻ cảm nhận và ghi nhớ nội dung tốt hơn. |
Phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của GV, chưa phát huy tính chủ động của trẻ. |
|
6 |
Khuyến khích kể chuyện sáng tạo |
36/123 (29,27%) |
Phát triển khả năng sáng tạo, tư duy và ghi nhớ linh hoạt. |
Ít được sử dụng, GV còn hạn chế trong tổ chức |
|
7 |
Thực hành luyện tập, trò chơi ngôn ngữ |
28/123 (22,76%) |
Củng cố trí nhớ lâu dài, giúp trẻ ghi nhớ tình tiết, nội dung câu chuyện. |
Ít được chú trọng, chưa được sử dụng thường xuyên trong hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với TPVH |
Từ kết quả khảo sát có thể nhận thấy GVMN đã vận dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm phát triển TNNN cho trẻ, tuy nhiên cách thức triển khai từng biện pháp vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Trước hết, biện pháp cho trẻ kể lại câu chuyện được sử dụng khá phổ biến (64,23%). Trong thực tiễn, GV thường tổ chức cho trẻ kể lại theo tranh, theo sách hoặc kết hợp với rối, mô hình nhằm hỗ trợ việc ghi nhớ nội dung. Tuy nhiên, hoạt động này chủ yếu tập trung vào một số trẻ có năng lực ngôn ngữ tốt và mạnh dạn tham gia, trong khi những trẻ yếu, nhút nhát hoặc chậm phát triển ngôn ngữ lại ít có cơ hội thực hành. Điều này dẫn đến việc một bộ phận trẻ chưa được rèn luyện thường xuyên, từ đó làm hạn chế hiệu quả phát triển TNNN.
Đối với biện pháp đàm thoại, đặt câu hỏi sau khi kể chuyện (66,67%), GVMN chủ yếu sử dụng các câu hỏi mang tính tái hiện như hỏi về tên truyện, nhân vật hoặc diễn biến chính. Mặc dù góp phần củng cố trí nhớ cho trẻ, song hệ thống câu hỏi còn tương đối đơn giản, ít mang tính gợi mở và mở rộng, chưa tạo điều kiện để trẻ suy nghĩ sâu, liên hệ thực tiễn hoặc diễn đạt theo cách riêng. Do đó, biện pháp này chưa thực sự phát huy hiệu quả trong việc phát triển TNNN ở mức độ cao.
Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan được áp dụng với tần suất cao nhất (76,42%), chủ yếu dưới dạng tranh, rối, mô hình. Những phương tiện này giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ nội dung thông qua hình ảnh sinh động và trực quan. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc sử dụng còn mang tính minh họa đơn thuần, chưa gắn với các hoạt động tương tác hoặc khai thác nội dung một cách sâu sắc, dẫn đến hiệu quả ghi nhớ chưa thực sự bền vững. Bên cạnh đó, các biện pháp như đóng vai, đóng kịch (51,22%) và kể chuyện diễn cảm (39,02%) tuy đã được triển khai nhưng chưa thường xuyên và chưa phát huy hết tiềm năng trong việc hỗ trợ ghi nhớ thông qua trải nghiệm và cảm xúc. Đặc biệt, các biện pháp mang tính phát triển cao như kể chuyện sáng tạo (29,27%) và luyện tập, ôn lại trong các hoạt động khác (22,76%) còn ít được sử dụng, khiến trẻ chưa có nhiều cơ hội vận dụng, mở rộng và phát triển TNNN ở mức độ cao hơn, như sáng tạo và liên kết nội dung. Như vậy, có thể thấy rằng GVMN hiện nay chủ yếu tập trung vào các biện pháp giúp trẻ ghi nhớ và tái hiện nội dung câu chuyện, trong khi việc tạo điều kiện cho tất cả trẻ tham gia cũng như phát triển TNNN ở các mức độ cao hơn vẫn còn hạn chế. Đây là vấn đề cần được quan tâm và điều chỉnh trong quá trình tổ chức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.2. Những khó khăn và thuận lợi của giáo viên trong hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
2.2.1. Khó khăn
Từ kết quả khảo sát có thể nhận thấy GVMN gặp không ít khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển trí nhớ ngôn ngữ TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Trước hết, khó khăn lớn nhất xuất phát từ sự không đồng đều về khả năng ngôn ngữ và trí nhớ của trẻ (82/123 ý kiến, chiếm 66,7%). Trong cùng một lớp, có trẻ tiếp thu nhanh, ghi nhớ tốt, nhưng cũng có trẻ chậm nói, mau quên hoặc khả năng diễn đạt còn hạn chế. Sự chênh lệch này khiến GV gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức cũng như hỗ trợ từng cá nhân một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, việc duy trì sự chú ý và hứng thú của trẻ (78/123 ý kiến, chiếm 63,4%) cũng là một thách thức đáng kể. Nhiều trẻ dễ mất tập trung, nhanh chán nếu hình thức tổ chức chưa hấp dẫn hoặc thời lượng kể chuyện kéo dài. Thậm chí, một số trẻ hiếu động, làm việc riêng, gây ảnh hưởng đến tiến trình hoạt động chung của lớp, từ đó làm gián đoạn quá trình tiếp nhận và ghi nhớ ngôn ngữ. Một khó khăn khác liên quan đến điều kiện tổ chức hoạt động, cụ thể là hạn chế về thời gian và sĩ số lớp đông (65/123 ý kiến, chiếm 52,8%). Với thời lượng tiết học có hạn, GV khó tạo điều kiện cho tất cả trẻ được tham gia kể chuyện, đồng thời gặp khó khăn trong việc theo dõi, uốn nắn và hỗ trợ từng cá nhân. Điều này làm giảm hiệu quả rèn luyện TNNN cho trẻ. Ngoài ra, điều kiện về đồ dùng trực quan và học liệu (60/123 ý kiến, chiếm 48,8%) cũng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Nhiều GV cho biết tranh truyện, rối, mô hình còn hạn chế hoặc chưa đủ hấp dẫn, trong khi việc tự làm đồ dùng dạy học đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Điều này phần nào ảnh hưởng đến việc tạo hứng thú cũng như hỗ trợ trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách hiệu quả. Không chỉ vậy, khó khăn trong việc đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động (52/123 ý kiến, chiếm 42,3%) cũng được ghi nhận. Việc thiết kế các hoạt động đa dạng như đóng kịch, kể chuyện sáng tạo hay ứng dụng công nghệ đòi hỏi sự đầu tư, sáng tạo và năng lực chuyên môn, trong khi không phải GV nào cũng có đủ điều kiện và kinh nghiệm để triển khai hiệu quả. Bên cạnh đó, việc đánh giá sự phát triển TNNN của trẻ (45/123 ý kiến, chiếm 36,6%) vẫn còn nhiều hạn chế. Hoạt động đánh giá hiện nay chủ yếu mang tính định tính, thiếu công cụ cụ thể, trong khi sĩ số lớp đông khiến việc quan sát và theo dõi sự tiến bộ của từng trẻ gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng, một số yếu tố khác như sự phối hợp với phụ huynh chưa hiệu quả (30/123 ý kiến, chiếm 24,4%) và một số hạn chế về kỹ năng sư phạm của GV (22,8%) cũng góp phần làm giảm hiệu quả tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển TNNN cho trẻ.
2.2.2. Thuận lợi
Bên cạnh những khó khăn, GV cũng nhận thấy nhiều thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển TNNN cho trẻ. Trước hết, đặc điểm phát triển của trẻ ở độ tuổi này được xem là một lợi thế nổi bật, với 95/123 ý kiến (chiếm 77,2%) cho rằng trẻ có khả năng ghi nhớ tốt hơn, vốn từ tương đối phong phú và bước đầu hình thành khả năng diễn đạt mạch lạc. Đây là cơ sở quan trọng giúp trẻ tiếp nhận và tái hiện nội dung câu chuyện một cách hiệu quả. Đáng chú ý, có đến 102/123 GV (82,9%) nhận định rằng trẻ thể hiện sự hứng thú rõ rệt đối với hoạt động kể chuyện; trẻ không chỉ thích nghe mà còn tích cực kể lại và tham gia nhập vai nhân vật. Sự hứng thú này đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nhu cầu giao tiếp, qua đó giúp trẻ tiếp nhận và ghi nhớ nội dung câu chuyện một cách tự nhiên và sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, Chương trình Giáo dục mầm non hiện hành cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động kể chuyện. Có 80/123 ý kiến (65%) đánh giá rằng chương trình có định hướng rõ ràng về phát triển ngôn ngữ, với hệ thống truyện phong phú, phù hợp với độ tuổi và được lồng ghép linh hoạt trong các hoạt động học và chơi, từ đó giúp GV thuận lợi hơn trong việc lựa chọn nội dung và tổ chức hoạt động. Ngoài ra, sự phát triển của học liệu và công nghệ cũng góp phần hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động này, được 72/123 GV (58,5%) ghi nhận. Các phương tiện như tranh truyện, rối, mô hình, kết hợp với bài giảng điện tử và video minh họa không chỉ làm tăng tính sinh động mà còn giúp trẻ ghi nhớ nội dung thông qua nhiều kênh giác quan khác nhau, qua đó nâng cao hiệu quả tiếp nhận ngôn ngữ. Một thuận lợi khác đến từ chính năng lực và kinh nghiệm của GV. Có 68/123 ý kiến (55,3%) cho rằng GV đã được đào tạo chuyên môn, có kỹ năng kể chuyện diễn cảm và biết linh hoạt đổi mới các hình thức tổ chức như kể chuyện sáng tạo, đóng kịch, kể theo tranh…, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ. Cuối cùng, sự hỗ trợ từ nhà trường, đồng nghiệp và phụ huynh cũng đóng vai trò tích cực, với 60/123 ý kiến (48,8%) đề cập. Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất và môi trường giáo dục, đồng nghiệp hỗ trợ về chuyên môn, trong khi phụ huynh ngày càng quan tâm đến việc đọc và kể chuyện cho trẻ tại nhà. Sự phối hợp này góp phần hình thành môi trường ngôn ngữ phong phú, liên tục và hiệu quả đối với sự phát triển TNNN của trẻ.
3. Kết luận
Phát triển TNNN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học là một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành nền tảng nhận thức và ngôn ngữ vững chắc, giúp trẻ tự tin bước vào bậc tiểu học. Kết quả khảo sát thực trạng tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, phần lớn GV đã nhận thức được vai trò của hoạt động này và bước đầu vận dụng đa dạng các hình thức, biện pháp tổ chức như sử dụng đồ dùng trực quan, đàm thoại và khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện. Quá trình triển khai cũng nhận được nhiều điều kiện thuận lợi, đặc biệt là sự hứng thú tự nhiên của trẻ đối với hoạt động kể chuyện cùng với định hướng rõ ràng từ chương trình giáo dục hiện hành. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức hoạt động vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Các biện pháp được sử dụng phổ biến hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc hỗ trợ trẻ ghi nhớ và tái hiện nội dung ở mức độ bề mặt. Trong khi đó, những hình thức đòi hỏi tư duy ở mức độ cao, phát huy tính chủ động và sáng tạo của trẻ như kể chuyện sáng tạo, đóng kịch hoặc ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa được khai thác một cách sâu sắc và thường xuyên. Bên cạnh đó, GV còn phải đối mặt với nhiều rào cản đáng kể như sự chênh lệch về năng lực ngôn ngữ giữa các trẻ, sĩ số lớp đông, áp lực về thời gian cũng như những hạn chế về học liệu và năng lực đổi mới phương pháp sư phạm.
Từ thực trạng và những khó khăn đã nêu, yêu cầu đổi mới phương pháp tiếp cận trong tổ chức hoạt động kể chuyện trở nên cấp thiết. Nhằm nâng cao hiệu quả phát triển TNNN cho trẻ một cách toàn diện, nghiên cứu đề xuất ba biện pháp trọng tâm: 1) Cho trẻ kể chuyện theo sơ đồ giúp hệ thống hóa tư duy và nắm bắt logic nội dung câu chuyện; 2) Sử dụng trò chơi trong hoạt động đàm thoại nhằm tăng cường sự tương tác, duy trì sự chú ý và tạo hứng thú học tập một cách tự nhiên; 3) Phân hóa trẻ trong quá trình kể chuyện nhằm xây dựng các chiến lược hỗ trợ mang tính cá nhân hóa, phù hợp với mức độ nhận thức và năng lực ngôn ngữ của từng trẻ. Nhìn chung, việc vận dụng linh hoạt và đồng bộ các biện pháp trên không chỉ góp phần mở rộng vốn từ mà còn nâng cao khả năng diễn đạt và hình thành năng lực tự sự mạch lạc cho trẻ. Trong thời gian tới, để hoạt động kể chuyện thực sự phát huy tối đa giá trị giáo dục, các cơ sở GDMN cần tiếp tục chú trọng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GV, đồng thời tăng cường sự phối hợp với gia đình để xây dựng môi trường ngôn ngữ phong phú, liên tục và lấy trẻ làm trung tâm.
______________
Tài liệu tham khảo
[1] Baddeley, A. (2003). Working memory and language: An overview. Journal of Communication Disorders, Vol. 36, No. 3, May-June, pp. 189-208.
[2] Isbell, R., Sobol, J., Lindauer, L., & Lowrance, A. (2004). The Effects of Storytelling and Story Reading on the Oral Language Complexity and Story Comprehension of Young Children. Early Childhood Education Journal, Vol. 32, No. 3, December, pp. 157-163.
[3] Justice, L. M., & Pullen, P. C. (2003). Promising interventions for promoting emergent literacy skills: Three evidence-based approaches, Topics in Early Childhood Special Education, Vol. 23, No. 3, Fall, pp. 99-113.
[4] Mol, S. E., Bus, A. G., & de Jong, M. T. (2009). Interactive book reading in early childhood: A meta-analysis on its impact and moderators, Review of Educational Research, Vol. 79, No. 2, June, pp. 979-1007.
[5] Nguyễn Xuân Thức (chủ biên, 2017). Tâm lý học lứa tuổi mầm non. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[6] Nicolopoulou, A., McDowell, J., & Brockmeyer, C. (2021). Narrative, Play, and Early Literacy: Storytelling in Preschool Education. Cambridge University Press, Cambridge.
[7] Vygotsky, L. S. (1978). Mind in Society: The Development of Higher Psychological Processes. Harvard University Press, Cambridge, MA.