1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THEO HƯỚNG “5 HÓA” VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

03:38 | 09/02/2026
aA

PGS.TS Trần Đình Tuấn -

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

 

Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” – gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa – trở thành xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền giáo dục Việt Nam. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò và nội dung của từng phương hướng “hóa” trong giáo dục; đồng thời đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục theo định hướng “5 hóa”, gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Từ khóa: Giáo dục, 5 hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, số hóa, hội nhập quốc tế.

PGS.TS.NGƯT Trần Đình Tuấn

1. Mở đầu

Giáo dục là nền tảng của phát triển xã hội và động lực quan trọng của tiến bộ quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” là cách tiếp cận toàn diện, thể hiện tầm nhìn chiến lược nhằm xây dựng nền giáo dục chuẩn mực, hiện đại, dân chủ, cởi mở và hội nhập. “5 hóa” bao gồm: Chuẩn hóa nền giáo dục, Hiện đại hóa nền giáo dục, Xã hội hóa nền giáo dục, Dân chủ hóa nền giáo dục, Số hóa nền giáo dục.

2. Tổng quan về “5 hóa”

2.1. Chuẩn hóa nền giáo dục

Chuẩn hoá giáo dục là việc xác lập và thực hiện những tiêu chuẩn, tiêu chí cơ bản cần đạt tới nhằm làm cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát triển đúng hướng. Chuẩn hóa là cơ sở để đảm bảo chất lượng và thống nhất trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân. Những tiêu chuẩn cơ bản được xác lập phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và theo hướng giáo dục tiên tiến, hiện đại.

Chuẩn hoá giáo dục bao gồm nhiều lĩnh vực như: Chuẩn quốc gia đối với các loại hình trường lớp. Chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra. Chuẩn đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên về trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức…Chuẩn về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, các tổ chức và hoạt động giáo dục, chất lượng đào tạo, nội dung chương trình, sách giáo khoa, yêu cầu cơ bản kiến thức kỹ năng cần đạt tới ở từng môn học, cấp học…

Mục tiêu của chuẩn hóa là tạo ra một nền tảng thống nhất, minh bạch và có thể đánh giá được, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và tính cạnh tranh quốc tế. Giải pháp chính để chuẩn hóa là hoàn thiện khung trình độ quốc gia, xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng theo chuẩn quốc tế, và tăng cường đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn nghề nghiệp. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chuẩn hoá nhiều lĩnh vực của sự nghiệp giáo dục - đào tạo thời gian qua đã đạt được những kết qủa quan trọng, đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước nhà tiến lên một bước mới

Tuy nhiên, trong thực tiễn đổi mới giáo dục thời gian qua cho thấy còn có những sai lệch trong nhận thức và tổ chức thực hiện về chuẩn hóa giáo dục.

Về nhận thức: Không ít người còn đồng nhất “chuẩn hóa” với “đồng loạt hóa”, “đồng nhất hóa”. Nhiều cán bộ quản lý, giáo viên hiểu rằng chuẩn hóa nghĩa là mọi trường, mọi chương trình, mọi người dạy, người học giống nhau, cùng một khuôn mẫu. Sai lầm này dẫn đến tình trạng “rập khuôn” trong thiết kế chương trình, phương pháp, cách đánh giá, làm giảm tính sáng tạo, tính đặc thù vùng miền, cá nhân và nhà trường.

Một số người hiểu chuẩn là “mức trần”, không phải “mức sàn”. Chuẩn được đặt ra để đảm bảo mức tối thiểu (mức sàn), nhưng nhiều nơi lại xem đó là mức cao nhất cần đạt, không có động lực vượt chuẩn, làm giáo dục dừng lại ở mức “đủ chuẩn” thay vì “phát triển vượt chuẩn”.

Một xu hướng khác, nhận thức chuẩn hóa chỉ là vấn đề kỹ thuật hoặc hành chính. Một số nơi coi chuẩn hóa là công việc “giấy tờ”, làm hồ sơ, đạt chuẩn theo biểu mẫu để đủ điều kiện kiểm định, chứ không xem đó là quá trình thay đổi văn hóa chất lượng và năng lực thực hành.

Một xu hướng nhận thức đồng nhất chuẩn hóa với kiểm định chất lượng hoặc thi đua khen thưởng. Chuẩn hóa bị biến thành thủ tục “đạt chuẩn để được khen”, khiến mục tiêu cốt lõi (nâng cao năng lực hệ thống, chất lượng học tập) bị che khuất.

Không nhận thức đúng vai trò của người học trong chuẩn hóa. Nhiều nhận thức tập trung vào chuẩn hóa đầu vào, cơ sở vật chất, đội ngũ mà quên rằng chuẩn đầu ra của người học mới là trung tâm của chuẩn hóa giáo dục.

Thiếu phân biệt giữa chuẩn hóa và hiện đại hóa. Một số cán bộ quản lý lẫn lộn hai khái niệm: “chuẩn hóa” (đảm bảo tối thiểu, nhất quán) và “hiện đại hóa” (đổi mới, ứng dụng công nghệ, hướng tương lai). Kết quả là đầu tư dàn trải vào công nghệ mà bỏ quên chuẩn chất lượng cốt lõi.

Những sai lệch trong tổ chức thực hiện chuẩn hóa giáo dục thường gặp: Thiếu đồng bộ giữa các cấp, các khâu. Việc ban hành chuẩn không gắn liền với các cơ chế thực thi, giám sát, kiểm tra và điều chỉnh. Một số chuẩn ở cấp trên chưa được cụ thể hóa xuống cơ sở, dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe” hoặc “không biết làm thế nào cho đúng”.

Bệnh hình thức, chạy theo thành tích. Chuẩn hóa bị biến thành cuộc “chạy đua giấy chứng nhận đạt chuẩn”, trong khi thực tế chất lượng dạy học không thay đổi. Hồ sơ, số liệu được làm đẹp để “đạt chuẩn”, nhưng không phản ánh đúng thực chất.

Không gắn chuẩn hóa với cải tiến liên tục. Sau khi “đạt chuẩn”, nhiều cơ sở giáo dục dừng lại, không tiếp tục nâng cấp, cải tiến, khiến chuẩn hóa trở thành “điểm kết thúc” thay vì “điểm khởi đầu cho phát triển”.

Thiếu hệ thống đánh giá, kiểm định độc lập và tin cậy. Các tổ chức đánh giá còn phụ thuộc vào cơ quan quản lý, thiếu khách quan, dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Thiếu nguồn lực và cơ chế hỗ trợ đạt chuẩn. Nhiều địa phương, đặc biệt vùng sâu vùng xa, bị áp cùng một bộ chuẩn như đô thị, nhưng không có nguồn lực tương ứng (kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất).

Thiếu liên kết giữa chuẩn hóa – đào tạo – bồi dưỡng – tuyển dụng. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn cán bộ quản lý ban hành nhưng chưa gắn với chế độ đãi ngộ, cơ hội thăng tiến hoặc đánh giá kết quả công việc, làm cho chuẩn hóa trở nên hình thức.

Chưa coi trọng vai trò của văn hóa chất lượng trong quá trình chuẩn hóa. Thực hiện chuẩn hóa thiên về “chuẩn kỹ thuật”, thiếu “chuẩn giá trị” (thái độ, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, văn hóa tổ chức học tập).

Nguyên nhân của các sai lệch: Nhận thức chưa thống nhất về bản chất, mục tiêu và quy trình chuẩn hóa. Thiếu đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ quản lý, kiểm định viên và giáo viên về tiếp cận chuẩn. Áp lực thành tích, bệnh hình thức trong quản lý hành chính. Thiếu cơ chế giám sát độc lập và công cụ đánh giá thực chất. Hệ thống chính sách chưa đồng bộ giữa chuẩn hóa – đầu tư – kiểm định – khen thưởng.

Hệ quả của những sai lệch trong nhận thức và tổ chức thực hiện đã làm cho chất lượng giáo dục giữa các vùng, các trường vẫn chênh lệch lớn. “Đạt chuẩn” nhưng không bảo đảm chất lượng thực chất. Mất niềm tin của xã hội vào các danh hiệu, chứng nhận “chuẩn”. Lãng phí nguồn lực do đầu tư hình thức, không hiệu quả. Giảm động lực cải tiến, đổi mới sáng tạo trong nhà trường.

Để khắc phục những hạn chế trên đây câng phải thống nhất nhận thức chuẩn hóa là quá trình bảo đảm và nâng cao chất lượng, không phải là “đạt mốc hành chính”. Coi chuẩn là mức sàn — hướng đến vượt chuẩn, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đặc thù địa phương. Gắn chuẩn hóa với văn hóa chất lượng và trách nhiệm giải trình. Tăng cường kiểm định độc lập, công khai minh bạch dữ liệu chất lượng giáo dục. Xây dựng cơ chế hỗ trợ vùng khó khăn để bảo đảm tính công bằng trong đạt chuẩn. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quản lý và giáo viên về chuẩn hóa, đánh giá và cải tiến chất lượng. Đưa chuẩn hóa vào chu trình PDCA (Plan–Do–Check–Act) để bảo đảm cải tiến liên tục.

Tóm lại, sai lệch lớn nhất hiện nay là nhận thức và thực hiện chuẩn hóa theo hướng hành chính, hình thức, thay vì hướng đến bảo đảm và phát triển thực chất chất lượng giáo dục. Muốn khắc phục, phải xây dựng văn hóa chuẩn hóa, trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục, đặt người học làm trung tâm, coi chuẩn là động lực phát triển chứ không phải điểm kết thúc. Bottom of Form

Chuẩn hoá và hiện đại hoá giáo dục có quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động theo hướng chuẩn hoá phát triển sẽ đạt được yêu cầu của hiện đại hoá. Hiện đại hoá thành công sẽ đạt được chuẩn

2.2. Hiện đại hóa nền giáo dục 

"Hiện đại hoá” là yêu cầu khách quan trong quá trình đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo. “Hiện đại hoá” vừa là một mục tiêu vừa là động lực của “chuẩn hoá”. Hiện nay, quan niệm về hiện đại hoá nền giáo dục vẫn còn những khuynh hướng quan điểm nhận thức chưa nhất quán. Đối với một số người, hiện đại hoá là xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật dạy học hiện đại. Một số khác lại quan niệm rằng, hiện đại hoá là phải áp dụng các mô hình đào tạo của các nước phát triển vào các nhà trường Việt Nam.

Một nền giáo dục được coi là hiện đại thì nhất thiết phải chứa đựng những tính chất tiên tiến của dân tộc và thời đại, gianh giới phát triển của nền giáo dục đó không được đi sau sự phát triển của xã hội, không chệch hướng vượt ra ngoài mục tiêu chính trị và điều kiện xã hội lịch sử cụ thể của quốc gia. Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là nền giáo dục có tốc độ phát triển tương thích với tốc độ phát triển của xã hội, có tác dụng đón trước sự phát triển, dẫn dắt từng bước cho sự phát triển của xã hội. Nghĩa là, nền giáo dục hiện đại, tiên tiến phải là nền giáo dục đảm bảo được tính lịch sử, tính giai cấp, tính khoa học, dân tộc và đại chúng.

Tính tiên tiến của nền giáo dục hiện đại được thể hiện trong mục tiêu và chính sách công bằng xã hội về giáo dục. Một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học tập, ở đó ai cũng được học hành, ai cũng có cơ hội để phát triển hoàn toàn phẩm chất, năng lực của cá nhân đáp ứng yêu cầu của xã hội. Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến là nền giáo dục luôn cập nhật các xu hướng phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục thời đại. Trong xu thế hội nhập quốc tế, nền giáo dục hiện đại, tiên tiến phải chủ động nắm bắt được những thời cơ và vượt qua được những thử thách do quá trình hội nhập sinh ra, phải vươn lên ngang tầm khu vực và quốc tế.

Nền giáo dục hiện đại, tiên tiến không có nghĩa là phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc mà ngược lại phải giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Nhà trường bao giờ cũng là trung tâm văn hoá, chính trị của một quốc gia, là nơi thu thập, lưu giữ, truyền thụ những giá trị văn hoá của dân tộc và thời đại đến người học. Một nhà trường được xem là hiện đại, đạt chuẩn quốc tế thì phải thực sự là cái nôi nuôi dưỡng đạo đức và trí tuệ cho người học. Chỉ khi nào người học thấm nhuần những giá trị văn hoá, đạo đức của dân tộc Việt Nam thì việc tiếp thu các giá trị văn hoá tiên tiến của thế giới mới thực sự có ý nghĩa.

Theo quan điểm đó, “hiện đại hóa” giáo dục là cách thức kết hợp những thành tựu của khoa học giáo dục với những thành tựu của khoa học, công nghệ trong quá trình giáo dục, dựa trên một quan điểm phương pháp luận tiên tiến của thời đại nhằm tạo ra những hệ dạy học tối ưu đón trước sự phát triển.

Ngày nay, hiện đại hóa hướng tới ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học – công nghệ, đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện và quản trị giáo dục. Giáo dục hiện đại phải chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, từ mô hình “đóng” sang “mở”. Các nội dung trọng tâm của hiện đại hóa nền giáo dục là phát triển chương trình theo tiếp cận năng lực, xây dựng môi trường học tập thông minh, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ giáo dục (EdTech) trong dạy – học và quản lý.

2.3. Xã hội hóa nền giáo dục

Xã hội hóa là quá trình huy động toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục – từ Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội đến người dân. Nó thể hiện tinh thần “giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”, nhằm đa dạng hóa nguồn lực, nâng cao trách nhiệm xã hội và mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Các giải pháp chủ yếu của xã hội hóa nền giáo dục là khuyến khích đầu tư tư nhân, thúc đẩy hợp tác công – tư, xây dựng quỹ khuyến học, và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng.

2.4. Dân chủ hóa nền giáo dục

Dân chủ hóa giáo dục là bảo đảm quyền học tập, quyền tự chủ, tự do học thuật và sự tham gia của người học, nhà giáo và xã hội trong quản lý, đánh giá giáo dục. Nó gắn liền với công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hệ thống giáo dục. Giải pháp trọng tâm của dân chủ hóa nền giáo dục là mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục, thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều giữa nhà trường – người học – xã hội, và xây dựng văn hóa đối thoại trong nhà trường.

2.5. Số hóa nền giáo dục

Số hóa là trụ cột mới trong chiến lược phát triển giáo dục thế kỷ XXI. Nó bao gồm việc chuyển đổi toàn bộ hoạt động dạy học, quản lý, kiểm định, nghiên cứu và đánh giá sang môi trường số. Các yếu tố then chốt của số hóa nền giáo dục là xây dựng hạ tầng công nghệ số, phát triển hệ thống học liệu mở, dữ liệu giáo dục quốc gia, và đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Số hóa không chỉ là công cụ mà còn là động lực đổi mới sáng tạo, giúp giáo dục Việt Nam hòa nhập sâu với thế giới.

3. Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” gắn với hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế trong giáo dục là quá trình giao lưu, hợp tác, chia sẻ tri thức và chuẩn mực toàn cầu. Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Gội nhập quốc tế vừa tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển, vừa đặt ra những thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Phát triển “5 hóa” giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín học thuật quốc tế. Tạo điều kiện chuyển giao công nghệ, chương trình và nguồn nhân lực chất lượng cao. Góp phần xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt, phù hợp với chuẩn khu vực (ASEAN) và toàn cầu. Để hội nhập hiệu quả, cần đồng thời nâng cao năng lực ngoại ngữ, tăng cường hợp tác quốc tế, công nhận tín chỉ – văn bằng lẫn nhau, và phát triển các chương trình liên kết đào tạo đa quốc gia.

4. Giải pháp chủ yếu phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới

4.1. Hoàn thiện thể chế, chính sách giáo dục theo hướng mở và linh hoạt

Đây là giải pháp nền tảng, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai đồng bộ “5 hóa”. Thể chế giáo dục hiện đại, minh bạch và linh hoạt giúp điều tiết hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo đảm tính công bằng, dân chủ và hội nhập quốc tế. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng hệ thống chính sách, quy định và tiêu chuẩn quản lý giáo dục phù hợp với xu thế toàn cầu, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, tự chủ, và số hóa giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là rà soát, điều chỉnh các văn bản pháp quy về giáo dục để phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số và hội nhập. Ban hành cơ chế khuyến khích tự chủ học thuật, tự chủ tài chính, và tự chủ tổ chức cho các cơ sở giáo dục. Xây dựng chính sách thu hút đầu tư, hợp tác quốc tế trong giáo dục – đào tạo. Hoàn thiện hệ thống kiểm định, công nhận chất lượng giáo dục theo chuẩn khu vực và quốc tế.

Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành xây dựng khung thể chế đồng bộ, gắn kết giữa giáo dục, khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Thành lập nhóm công tác liên ngành về “chính sách giáo dục mở” để giám sát, đánh giá và điều chỉnh định kỳ. Tăng cường tham vấn chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách.

4.2. Đầu tư hạ tầng số và nhân lực công nghệ giáo dục

Đây là giải pháp trọng điểm để thực hiện hiệu quả “hiện đại hóa” và “số hóa” giáo dục. Hạ tầng số và nhân lực số là điều kiện vật chất và con người để chuyển đổi số thành công. Mục tiêu của giải pháp này nhằm xây dựng nền tảng công nghệ giáo dục đồng bộ, an toàn và thông minh; phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực sử dụng, vận hành và sáng tạo công nghệ giáo dục.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nền tảng công nghệ phục vụ dạy học trực tuyến, quản lý học tập (LMS), và quản trị nhà trường số. Phát triển cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia, liên thông với dữ liệu lao động, khoa học – công nghệ. Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh, sinh viên. Thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ AI, Big Data, IoT, Blockchain trong giáo dục.

Cách thức tổ chức thực hiện: Nhà nước chủ trì đầu tư hạ tầng cốt lõi, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp nền tảng và dịch vụ số hóa giáo dục. Thiết lập mạng lưới trung tâm chuyển đổi số giáo dục ở các vùng, miền. Ký kết hợp tác giữa Bộ GD&ĐT và các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước (như VNPT, Viettel, Google for Education, Microsoft Education…). Xây dựng chương trình “Chuyển đổi số trong giáo dục Việt Nam đến 2030”.

4.3. Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong môi trường số

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là trung tâm của đổi mới giáo dục, là lực lượng quyết định thành công của quá trình “5 hóa”. Không có đội ngũ đạt chuẩn và năng lực số, mọi chính sách và công nghệ đều khó phát huy hiệu quả. Mục tiêu của giải pháp này nhằm phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục có năng lực sư phạm số, năng lực thích ứng và sáng tạo trong môi trường giáo dục hiện đại, hội nhập.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là chuẩn hóa và cập nhật chương trình bồi dưỡng nghề nghiệp, đưa kỹ năng số và phương pháp sư phạm hiện đại vào nội dung đào tạo. Đổi mới phương thức đánh giá giáo viên theo chuẩn năng lực nghề nghiệp, gắn với năng lực số và khả năng sáng tạo. Xây dựng mô hình “Trường sư phạm số” làm trung tâm đổi mới đào tạo giáo viên. Phát triển mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm, cộng đồng học tập trực tuyến của đội ngũ nhà giáo.

Cách thức tổ chức thực hiện: Bộ GD&ĐT phối hợp với các trường sư phạm xây dựng chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng số. Triển khai các khóa học ngắn hạn, MOOC về “giảng dạy thông minh”, “quản lý học tập số”, “AI trong giáo dục”. Thực hiện chính sách khuyến khích nhà giáo đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ, sáng tạo học liệu số. Tổ chức hội thi, diễn đàn “Nhà giáo thời chuyển đổi số” để lan tỏa mô hình, điển hình tiên tiến.

4.4. Xây dựng văn hóa chất lượng và trách nhiệm giải trình trong giáo dục

Văn hóa chất lượng trong giáo dục là tập hợp giá trị, thái độ, hành vi và thực hành thường xuyên trong hệ thống giáo dục nhằm hướng tới cải tiến liên tục về hiệu quả dạy học, chương trình, quản trị và dịch vụ giáo dục. Trách nhiệm giải trình là cơ chế và văn hóa buộc các cá nhân, tổ chức trong hệ giáo dục phải chịu trách nhiệm về kết quả công việc, minh bạch thông tin và sẵn sàng giải thích, chịu kiểm tra với cộng đồng, cơ quan quản lý và người học.

Đây là yếu tố“chuẩn hóa” và “dân chủ hóa” cốt lõi, giúp bảo đảm tính minh bạch, liêm chính và chất lượng bền vững của hệ thống giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Mục tiêu của giải pháp này nhằm hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống, từ chính sách, quản lý đến giảng dạy, nghiên cứu; tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình. Củng cố niềm tin xã hội vào hệ thống giáo dục thông qua minh bạch và kết quả rõ ràng. Tạo động lực trách nhiệm cho nhà quản lý, nhà trường, giáo viên và học sinh, sinh viên. Thiết lập cơ chế giám sát, phản hồi và xử lý sai sót hiệu quả.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là xây dựng bộ tiêu chí đánh giá văn hóa chất lượng giáo dục. Tăng cường kiểm định nội bộ và bên ngoài, công khai kết quả đánh giá chất lượng. Thiết lập cơ chế giám sát độc lập và phản hồi xã hội trong giáo dục. Đưa giáo dục đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật vào đào tạo.

Cách thức tổ chức thực hiện: Mỗi cơ sở giáo dục xây dựng chiến lược đảm bảo chất lượng riêng, gắn với tiêu chí kiểm định quốc gia. Phát triển hệ thống quản lý chất lượng ISO, KPI, Balanced Scorecard trong trường học. Đưa tiêu chí “trách nhiệm giải trình” vào đánh giá, khen thưởng cán bộ quản lý. Tổ chức các diễn đàn trao đổi về văn hóa chất lượng, đạo đức học thuật và minh bạch giáo dục.

4.5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và chuyển giao mô hình giáo dục tiên tiến

Đây là động lực trực tiếp của quá trình hội nhập, giúp nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn hóa chương trình và tiếp cận mô hình giáo dục toàn cầu. Mục tiêu của giải pháp này nhằm mở rộng hợp tác quốc tế toàn diện trong giáo dục, khoa học và đào tạo nhân lực; tiếp nhận công nghệ giáo dục tiên tiến, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.

Nội dung chủ yếu của giải pháp này là xây dựng chương trình liên kết đào tạo với các trường đại học uy tín quốc tế. Tham gia mạng lưới kiểm định, công nhận văn bằng quốc tế. Khuyến khích trao đổi học giả, sinh viên, chuyên gia. Tiếp nhận chuyển giao mô hình quản trị, học liệu mở, công nghệ đào tạo số từ các tổ chức giáo dục quốc tế (UNESCO, OECD, ASEAN, AUN-QA…).

Cách thức tổ chức thực hiện: Ký kết và triển khai các hiệp định, thỏa thuận song phương và đa phương trong lĩnh vực giáo dục. Thành lập các trung tâm hợp tác và đổi mới giáo dục quốc tế tại các trường đại học trọng điểm. Đưa tiêu chí “quốc tế hóa” vào xếp hạng và đánh giá cơ sở giáo dục. Tăng cường năng lực ngoại ngữ, hội nhập văn hóa cho giáo viên và học sinh.

5. Kết luận

Phát triển giáo dục theo hướng “5 hóa” gồm chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và số hóa là định hướng chiến lược, thể hiện tư duy đổi mới toàn diện của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số sâu rộng. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của giáo dục, mà còn là con đường tất yếu để xây dựng nền giáo dục mở, nhân văn, sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới hiện đại.

Thứ nhất, chuẩn hóa giúp tạo nền tảng thống nhất về chất lượng, bảo đảm sự minh bạch và khả năng so sánh quốc tế của hệ thống giáo dục. Thứ hai, hiện đại hóa đưa giáo dục gắn liền với khoa học – công nghệ, đổi mới nội dung, phương pháp và mô hình quản trị nhà trường. Thứ ba, xã hội hóa khẳng định vai trò của toàn xã hội trong phát triển giáo dục, huy động nguồn lực, tri thức và trách nhiệm cộng đồng cùng tham gia. Thứ tư, dân chủ hóa mở rộng quyền tự chủ, tự do học thuật và sự tham gia của người học, người dạy trong quá trình ra quyết định, góp phần hình thành nền giáo dục công bằng, nhân bản.
Thứ năm, số hóa là động lực đột phá, giúp chuyển đổi toàn bộ hệ sinh thái giáo dục sang môi trường số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và học tập suốt đời.

Năm phương hướng “hóa” không tồn tại tách biệt, mà tác động tương hỗ và bổ trợ lẫn nhau. Khi được triển khai đồng bộ, chúng tạo nên một chỉnh thể phát triển hài hòa – từ nền tảng thể chế, hạ tầng, con người, văn hóa đến công nghệ. Điều này giúp giáo dục Việt Nam vừa kế thừa giá trị truyền thống, vừa bắt kịp xu thế toàn cầu, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện thành công định hướng “5 hóa” đòi hỏi sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp – xã hội và người dân, cùng với vai trò tiên phong của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Bên cạnh đó, cần kiên trì xây dựng cơ chế chính sách cởi mở, đẩy mạnh đầu tư cho chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục.

Phát triển giáo dục Việt Nam theo hướng “5 hóa” không chỉ là một nhiệm vụ chiến lược, mà còn là cam kết chính trị và xã hội đối với tương lai của đất nước – hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, nhân văn, bền vững, hội nhập và sáng tạo, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thế kỷ XXI theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thức XIV của Đảng đã đặt ra.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2023), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số.

[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2022), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ, ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Khóa XI,

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[6]. UNESCO (2021), Reimagining Our Futures Together: A New Social Contract for Education.

[7]. Nguyễn Minh Thuyết (2023), Giáo dục Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, NXB Giáo dục Việt Nam.

[8]. Hoàng Tụy: "Hiện đại hóa giáo dục để đi vào kinh tế tri thức“. 16 tháng 2, 2007

https://www.chungta.com/nd/tu-lieutracuu/hien_dai_hoa_giao_duc_de_di_vao_kinh_te_tri_thuc

DEVELOPING EDUCATION TOWARDS “FIVE-IZATION”

AND INTERNATIONAL INTEGRATION IN THE NEW ERA

Assoc. Prof. Dr. Tran Dinh Tuan -

Institute for Research on Educational Cooperation and Development

Email: [email protected]

Abstract: In the context of globalization and digital transformation, developing education in the direction of “Five -ization” — standardization, modernization, socialization, democratization, and digitalization — is an inevitable trend to enhance the quality, efficiency, and competitiveness of Vietnam’s education system. This paper analyzes the theoretical and practical basis, roles, and contents of each “-ization” approach, and proposes key solutions to promote the development of education under the “Five -ization” model in alignment with international integration and comprehensive educational reform.

Keywords: Education, Five-ization, Standardization, Modernization, Socialization, Democratization, Digitalization, International Integration.

Ý kiến bạn đọc
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG ANH  TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM: PHÂN TÍCH  SO SÁNH THEO LOẠI HÌNH VÀ KHU VỰC
Phạm Thị Hoa Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương “đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các trường học”, cụ thể đối với bậc học đại học trong các cơ sở giáo dục đại học, việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu chiến lược quốc gia. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, dựa trên dữ liệu khảo sát toàn quốc theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc báo cáo việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh, nghiên cứu chỉ ra những xu hướng phát triển đáng chú ý: số lượng chương trình tiếng Anh tăng cường tăng 191%, chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tăng 123%. Số lượng các chương trình tiếng Anh tăng phản ánh nỗ lực mạnh mẽ trong quốc tế hóa giáo dục đại học. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập về quy mô đội ngũ, trình độ học vị, phương pháp triển khai và khả năng ứng dụng công nghệ, cũng như sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực về nguồn lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên. Những khó khăn chủ yếu bao gồm trình độ tiếng Anh đầu vào không đồng đều , thiếu giảng viên chất lượng cao, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển năng lực ngoại ngữ trong giáo dục đại học Việt Nam. Từ khóa: Dạy học tiếng Anh; Giáo dục đại học; Chương trình tiếng Anh tăng cường; Quốc tế hóa giáo dục; So sánh loại hình trường. Nhận bài: 14/3/2026; Biên tập: 14/3/2026: Duyệt đăng: 15/3/2026
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).