1. Nghiên cứu & kinh nghiệm

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG KỶ NGUYÊN SỐ HƯỚNG TỚI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

01:09 | 01/06/2026
aA

 

PGS.TS Trần Đình Tuấn

Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục

Email: [email protected]

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, đội ngũ trí thức đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững. Bài viết phân tích đặc điểm, vai trò của trí thức trong kỷ nguyên số, nhận diện, phê phán các quan điểm sai trái, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ phục vụ việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Từ khóa: trí thức, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, Nghị quyết Đại hội XIV, nguồn nhân lực chất lượng cao

1. Mở đầu

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, tri thức trở thành nguồn lực cốt lõi, đóng vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia (OECD, 2019).

Ở Việt Nam, các văn kiện của Đảng đã nhiều lần khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ trí thức trong cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa – xã hội.

Mục đích của nghiên cứu này là phân tích một cách hệ thống và toàn diện vai trò của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số trên cơ sở các tiếp cận lý thuyết hiện đại như kinh tế tri thức, vốn con người và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, bài viết nhằm phân tích làm rõ những chức năng và đóng góp chủ yếu của đội ngũ trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nhận diện những yêu cầu mới và thách thức đặt ra đối với đội ngũ trí thức trong bối cảnh chuyển đổi số và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phát huy vai trò của trí thức trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Những vấn đề lý luận về vai trò của đội ngũ trí thức

2.1.1. Tổng quan về vai trò của đội ngũ trí thức

Theo quan điểm của Drucker (1993), trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất, vượt lên trên vốn và lao động. Đội ngũ trí thức, với vai trò là “người lao động tri thức” (knowledge workers), là lực lượng trực tiếp tạo ra giá trị mới cho xã hội.

Theo lý thuyết vốn con người, Becker (1964) cho rằng đầu tư vào giáo dục và đào tạo sẽ nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh số hóa, vốn con người không chỉ bao gồm trình độ học vấn mà còn là năng lực đổi mới sáng tạo và thích ứng công nghệ.

Tiếp cận dưới góc độ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Etzkowitz & Leydesdorff (2000), đã xây dựng mô hình “ba nhà” (nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học) nhấn mạnh vai trò trung tâm của trí thức trong việc kết nối các chủ thể và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của đội ngũ trí thức được thể hiện nhất quán trong hệ thống lý luận về phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định đội ngũ trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng, giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới đến nay.

Theo các văn kiện Đại hội Đảng, trí thức là lực lượng trực tiếp sáng tạo, truyền bá và ứng dụng tri thức, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Đảng xác định phát triển đội ngũ trí thức là một trong những nhiệm vụ chiến lược, gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).

Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW (2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã nhấn mạnh: trí thức là “nguồn lực lao động chất lượng cao, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Quan điểm này tiếp tục được kế thừa và phát triển trong các văn kiện Đại hội XIII và định hướng của Đại hội XIV, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn cao và khả năng hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh kỷ nguyên số, Đảng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí thức trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Đồng thời, đội ngũ trí thức còn được xác định là lực lượng tiên phong trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Bên cạnh đó, Đảng cũng khẳng định cần tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để trí thức phát huy năng lực sáng tạo, thông qua việc đổi mới cơ chế quản lý khoa học – công nghệ, thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài và khuyến khích tự do học thuật gắn với trách nhiệm xã hội. Điều này thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng trong việc coi trí thức vừa là động lực phát triển, vừa là nguồn lực chiến lược của quốc gia trong thời kỳ mới.

2.1.2. Đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đội ngũ trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt, có trình độ học vấn, chuyên môn và năng lực tư duy cao, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia, đội ngũ trí thức Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, có trình độ học vấn và chuyên môn ngày càng cao, cơ cấu ngành nghề đa dạng. Đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, hoạt động trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa, kinh tế, quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước. Trình độ đào tạo ngày càng được nâng cao, nhiều trí thức được đào tạo ở các quốc gia có nền khoa học tiên tiến, có khả năng tiếp cận nhanh với tri thức và công nghệ hiện đại.

Thứ hai, gắn bó với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Một đặc điểm nổi bật của đội ngũ trí thức Việt Nam là có truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm xã hội sâu sắc. Trong các giai đoạn cách mạng, đội ngũ trí thức luôn đồng hành cùng dân tộc, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Hiện nay, đội ngũ trí thức tiếp tục là lực lượng quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng chủ động tham gia vào mạng lưới nghiên cứu và hợp tác quốc tế. Nhiều nhà khoa học, chuyên gia và giảng viên đã có công bố quốc tế, tham gia các dự án nghiên cứu lớn và từng bước khẳng định vị thế trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp thu tri thức mới và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nước.

Thứ tư, có vai trò đặc biệt trong đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đội ngũ trí thức không chỉ trực tiếp tạo ra tri thức mới mà còn giữ vai trò truyền bá tri thức, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trong nền kinh tế tri thức, trí thức là lực lượng nòng cốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ năm, phát triển nhanh về số lượng nhưng chất lượng và cơ cấu còn chưa đồng đều. Mặc dù đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, song vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực mũi nhọn; phân bố chưa đồng đều giữa các vùng, miền và ngành nghề; năng lực nghiên cứu, sáng tạo và ngoại ngữ của một bộ phận trí thức còn hạn chế. Bên cạnh đó, tình trạng chảy máu chất xám và thiếu môi trường nghiên cứu thuận lợi vẫn là những vấn đề đặt ra hiện nay.

Thứ sáu, chịu tác động mạnh mẽ của môi trường số và yêu cầu học tập suốt đời. Kỷ nguyên số làm thay đổi nhanh chóng phương thức lao động trí óc, đòi hỏi đội ngũ trí thức phải liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng số và năng lực thích ứng. Điều này tạo áp lực lớn nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội để trí thức phát huy vai trò trong đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Thứ bảy, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và định hướng xã hội. Trong điều kiện thông tin đa chiều trên không gian mạng, đội ngũ trí thức không chỉ thực hiện chức năng nghiên cứu và giảng dạy mà còn tham gia phản biện xã hội, định hướng dư luận và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là đặc điểm thể hiện trách nhiệm chính trị và trách nhiệm xã hội của trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Tóm lại, đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay là lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và năng lực đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

2.2. Vai trò của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số

2.2.1. Động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức.

Trong kỷ nguyên số, tri thức, công nghệ và dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất chủ yếu, thay thế dần các yếu tố truyền thống như lao động giản đơn và tài nguyên thiên nhiên. Đội ngũ trí thức, với nền tảng chuyên môn sâu và năng lực sáng tạo, giữ vai trò trung tâm trong việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào thực tiễn. Họ không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn góp phần chuyển hóa tri thức thành các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh có giá trị gia tăng cao. Thông qua đó, trí thức thúc đẩy hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

2.2.2. Dẫn dắt và lan tỏa quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Chuyển đổi số là một quá trình toàn diện, đòi hỏi sự kết hợp giữa công nghệ, thể chế và con người. Đội ngũ trí thức đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tư vấn chính sách và trực tiếp tham gia xây dựng các giải pháp công nghệ phục vụ phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Bên cạnh đó, trí thức còn là lực lượng tiên phong trong việc lan tỏa tri thức số, nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho cộng đồng. Thông qua hoạt động giảng dạy, đào tạo và truyền thông khoa học, họ góp phần hình thành một xã hội học tập, thích ứng nhanh với những thay đổi của thời đại công nghệ.

2.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển con người toàn diện.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực phát triển của mỗi quốc gia. Đội ngũ trí thức, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, giữ vai trò nòng cốt trong việc xây dựng chương trình đào tạo hiện đại, gắn với nhu cầu thực tiễn và xu hướng công nghệ mới.

Không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn, trí thức còn góp phần hình thành tư duy sáng tạo, năng lực phản biện, đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm xã hội cho người học. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số.

2.2.4. Tham gia hoạch định chính sách và phản biện xã hội.

Với tri thức chuyên sâu và tầm nhìn chiến lược, đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng, tư vấn và phản biện chính sách. Trong kỷ nguyên số, khi các vấn đề phát triển trở nên phức tạp và đa chiều, sự tham gia của trí thức giúp đảm bảo tính khoa học, khách quan và hiệu quả của các quyết sách.

Hoạt động phản biện xã hội của trí thức không chỉ góp phần hoàn thiện chính sách mà còn nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chất lượng quản trị quốc gia.

2.2.5. Tiên phong trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong môi trường số, thông tin lan truyền nhanh chóng và khó kiểm soát, tạo điều kiện cho các quan điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch xuất hiện và tác động đến nhận thức xã hội. Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và định hướng dư luận xã hội.

Trí thức là lực lượng tiên phong trong việc phát hiện, phân tích và đấu tranh lý luận với các quan điểm sai trái, phản động. Bằng tư duy khoa học, lập luận chặt chẽ và cơ sở lý luận vững chắc, họ góp phần làm sáng tỏ bản chất của các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, trí thức còn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá những giá trị tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Thông qua các kênh học thuật, truyền thông và mạng xã hội, họ góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh, định hướng thông tin đúng đắn và nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước các thông tin xấu, độc.

Vai trò này không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn có giá trị chiến lược trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

2.2.6. Định hướng giá trị và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Ngoài vai trò chuyên môn, đội ngũ trí thức còn là lực lượng có ảnh hưởng trong việc định hình hệ giá trị xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa, khi các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ bị xói mòn, trí thức góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và xây dựng hệ giá trị phù hợp với thời đại mới.

Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững thông qua nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng, an ninh mạng và đạo đức công nghệ.

2.3. Nhận diện và phê phán các quan điểm sai trái, đối lập về vai trò của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, bên cạnh những quan điểm khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển đất nước, cũng xuất hiện nhiều quan điểm lệch lạc, phiến diện hoặc mang động cơ chính trị nhằm phủ nhận vai trò của trí thức và làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với đội ngũ này. Việc nhận diện và phê phán các quan điểm đối lập có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời góp phần định hướng đúng đắn cho quá trình xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số.

Trước hết, có quan điểm cho rằng trong thời đại trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, vai trò của trí thức sẽ dần bị thay thế bởi công nghệ. Quan điểm này tuyệt đối hóa vai trò của công nghệ, xem nhẹ vai trò chủ thể sáng tạo của con người. Trên thực tế, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng là sản phẩm của trí tuệ con người và chỉ phát huy giá trị khi được định hướng bởi tư duy khoa học, đạo đức và mục tiêu phát triển xã hội. Đội ngũ trí thức không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn giữ vai trò định hướng, kiểm soát và nhân văn hóa quá trình phát triển công nghệ. Vì vậy, trong kỷ nguyên số, vai trò của trí thức không mất đi mà càng trở nên quan trọng hơn.

Thứ hai, một số quan điểm cho rằng trí thức chỉ nên hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn, không cần tham gia vào các vấn đề chính trị - xã hội hay bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là cách tiếp cận phiến diện, tách rời trí thức khỏi trách nhiệm xã hội và vai trò công dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trí thức không chỉ là lực lượng sáng tạo tri thức mà còn là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước và chế độ xã hội. Trong điều kiện hiện nay, việc đội ngũ trí thức tham gia phản biện xã hội, hoạch định chính sách và đấu tranh với các quan điểm sai trái là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia.

Thứ ba, có những luận điệu xuyên tạc cho rằng đội ngũ trí thức ở Việt Nam thiếu tự do học thuật, không có điều kiện phát triển sáng tạo nên khó có thể đóng góp thực chất cho sự phát triển đất nước. Thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi trọng trí thức, xem phát triển đội ngũ trí thức là nhiệm vụ chiến lược của quốc gia. Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành nhằm tạo điều kiện cho trí thức nghiên cứu, sáng tạo và hội nhập quốc tế, như Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 45-NQ/TW và các chiến lược phát triển khoa học – công nghệ, chuyển đổi số quốc gia. Tự do học thuật ở Việt Nam được bảo đảm trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm xã hội, đạo đức khoa học và lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thứ tư, một số quan điểm cực đoan lại tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, xem trí thức là lực lượng “đứng trên” hệ thống chính trị và xã hội. Quan điểm này dễ dẫn tới tâm lý đề cao chủ nghĩa cá nhân, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và làm suy giảm tính thống nhất trong định hướng phát triển đất nước. Trên thực tế, đội ngũ trí thức là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị - xã hội, phát huy vai trò thông qua sự gắn bó với nhân dân, với thực tiễn đất nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vai trò của trí thức chỉ có thể được phát huy đầy đủ khi kết hợp hài hòa giữa năng lực sáng tạo cá nhân với mục tiêu phát triển quốc gia và lợi ích của cộng đồng.

Ngoài ra, trên không gian mạng hiện nay còn xuất hiện nhiều thông tin sai lệch nhằm kích động tư tưởng “phi chính trị hóa” đội ngũ trí thức, cổ súy lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa hoặc phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm này nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời có thể làm suy giảm bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và vai trò định hướng của đội ngũ trí thức.

Do đó, việc tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao năng lực phản biện khoa học và trách nhiệm xã hội cho đội ngũ trí thức là yêu cầu cấp thiết trong kỷ nguyên số. Đồng thời, cần phát huy vai trò của trí thức trong việc lan tỏa thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Đây không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ trí thức trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

2.4. Giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh kỷ nguyên số

2.4.1. Hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút và trọng dụng trí thức trong môi trường số

Trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trước hết đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống thể chế theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Cụ thể, cần xây dựng các chính sách đột phá nhằm thu hút nhân tài trong và ngoài nước, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; đổi mới cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đánh giá trí thức dựa trên năng lực và kết quả đầu ra thay vì bằng cấp hình thức; thiết lập cơ chế đãi ngộ cạnh tranh, bao gồm cả điều kiện làm việc, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý cho các hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, tạo môi trường thuận lợi để trí thức phát huy tối đa năng lực trong thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết.

2.4.2. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và hạ tầng số quốc gia, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học

Để đội ngũ trí thức phát huy vai trò trong kỷ nguyên số, cần đầu tư đồng bộ vào hạ tầng khoa học – công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong đó, trọng tâm là xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm và nền tảng nghiên cứu số dùng chung; Thúc đẩy liên kết giữa nhà nước – doanh nghiệp – cơ sở nghiên cứu (mô hình “ba nhà”) nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng; Phát triển hệ thống dữ liệu quốc gia và hạ tầng số mở, tạo điều kiện cho trí thức khai thác, phân tích và sáng tạo tri thức mới.

Việc hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả sẽ tạo không gian để trí thức tham gia sâu vào quá trình phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước.

2.3.3. Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng số hóa và hội nhập quốc tế, nhanh chóng đào tạo đội ngũ trí thức thế hệ mới

Đội ngũ trí thức vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của hệ thống giáo dục – đào tạo. Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ hệ thống này để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số.

Các giải pháp cụ thể bao gồm: Chuyển đổi số trong giáo dục, phát triển các mô hình đào tạo trực tuyến, học tập suốt đời và tài nguyên giáo dục mở; Cập nhật chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, gắn với nhu cầu của thị trường lao động và xu hướng công nghệ mới; Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học có năng lực số, năng lực nghiên cứu và khả năng hội nhập.

Thông qua đó, hình thành nguồn nhân lực trí thức chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV trong bối cảnh mới.

2.4.4. Tăng cường vai trò của trí thức trong hoạch định chính sách và quản trị quốc gia

Cần thiết lập cơ chế để đội ngũ trí thức tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách.theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Nội dung cụ thể bao gồm: Thành lập các hội đồng tư vấn chính sách với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; Phát triển các tổ chức nghiên cứu chính sách (think tank) có tính độc lập và chuyên nghiệp; Tăng cường cơ chế phản biện xã hội, tạo điều kiện để trí thức đóng góp ý kiến một cách khách quan, khoa học; Ứng dụng công nghệ số trong quá trình tham vấn chính sách, mở rộng sự tham gia của trí thức thông qua các nền tảng trực tuyến.

Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số.

2.4.5. Phát huy vai trò của trí thức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành một mặt trận quan trọng, cần có giải pháp cụ thể để phát huy vai trò của trí thức trong công tác tư tưởng.

Các nội dung trọng tâm của giải pháp bao gồm: Xây dựng lực lượng trí thức nòng cốt tham gia đấu tranh lý luận trên không gian mạng; Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông số, kỹ năng phản biện và đấu tranh tư tưởng cho trí thức; Phát triển các kênh truyền thông khoa học, học thuật có uy tín nhằm lan tỏa thông tin chính thống; Khuyến khích trí thức tham gia viết bài, nghiên cứu và công bố các công trình phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Qua đó, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin xã hội và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước.

2.4.6. Xây dựng môi trường học thuật lành mạnh và thúc đẩy đạo đức khoa học

Một môi trường học thuật minh bạch, công bằng và tôn trọng sáng tạo là điều kiện tiên quyết để trí thức phát huy năng lực.

Các nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu và cơ chế giám sát học thuật; Khuyến khích tự do học thuật gắn với trách nhiệm xã hội; Xây dựng văn hóa tôn trọng tri thức và sáng tạo trong toàn xã hội; Tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ thành quả nghiên cứu của trí thức.

Đây là nền tảng quan trọng để phát triển đội ngũ trí thức bền vững trong kỷ nguyên số.

2.4.7. Thúc đẩy hội nhập quốc tế và kết nối mạng lưới trí thức toàn cầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc kết nối đội ngũ trí thức trong nước với cộng đồng trí thức quốc tế là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Các nội dung chủ yếu của giải pháp bao gồm: Xây dựng mạng lưới trí thức Việt Nam ở nước ngoài; Tạo cơ chế thuận lợi để chuyên gia quốc tế tham gia vào các chương trình nghiên cứu, giảng dạy tại Việt Nam; Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu quốc tế và chuyển giao công nghệ; Tận dụng các nền tảng số để kết nối và chia sẻ tri thức toàn cầu.

Điều này sẽ giúp đội ngũ trí thức Việt Nam tiếp cận nhanh với tri thức tiên tiến, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các giải pháp nêu trên cần được triển khai một cách đồng bộ, có lộ trình rõ ràng và gắn với các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết Đại hội XIV. Trong đó, trọng tâm là tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, phát triển hạ tầng số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trí thức.

Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần phát huy tối đa vai trò của đội ngũ trí thức, biến nguồn lực tri thức thành động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên số.

3. Kết luận

Trong bối cảnh kỷ nguyên số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đội ngũ trí thức ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở vận dụng các tiếp cận lý thuyết hiện đại, bài viết đã làm rõ rằng vai trò của trí thức không chỉ giới hạn trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục – đào tạo, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực hoạch định chính sách, quản trị quốc gia, cũng như bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong không gian số.

Kỷ nguyên số đã tạo ra những biến đổi mang tính cấu trúc, làm thay đổi phương thức phát huy vai trò của đội ngũ trí thức. Điều này thể hiện ở việc mở rộng không gian hoạt động, gia tăng yêu cầu về năng lực số và khả năng đổi mới sáng tạo, đồng thời đặt ra những thách thức mới về cạnh tranh nguồn nhân lực, đạo đức khoa học và an ninh tư tưởng.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đội ngũ trí thức cần được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển, vừa là chủ thể sáng tạo tri thức, vừa là lực lượng dẫn dắt chuyển đổi số và bảo đảm định hướng phát triển đúng đắn của quốc gia.

Đảng và Nhà nước cần cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV thành các chương trình, chính sách phát triển đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số. Trong đó, tập trung vào việc hoàn thiện thể chế theo hướng tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển trí thức gắn với chuyển đổi số, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với các mục tiêu phát triển kinh tế số, xã hội số và chính phủ số.

Các trường đại học, viện nghiên cứu cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo và nghiên cứu, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng liên ngành và gắn với thực tiễn. Bên cạnh đó, cần xây dựng môi trường học thuật hiện đại, khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tự do học thuật gắn với trách nhiệm xã hội, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu và công bố quốc tế của đội ngũ trí thức.

Đội ngũ trí thức cần chủ động nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ thay đổi nhanh chóng. Đồng thời, cần phát huy vai trò trách nhiệm xã hội, tích cực tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, phản biện xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong môi trường số, trí thức cần trở thành lực lượng tiên phong trong việc lan tỏa tri thức khoa học, đấu tranh với các quan điểm sai trái và góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh.

Việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên số cần được triển khai theo cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ và dài hạn, gắn chặt với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thể chế phù hợp với kinh tế số; phát triển nguồn nhân lực trí thức chất lượng cao; thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; và tăng cường vai trò của trí thức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chỉ khi các yếu tố này được triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả, đội ngũ trí thức mới có thể phát huy tối đa vai trò, trở thành động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên số.

Tài liệu tham khảo

[1]. Ban Chấp hành Trung ương (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

[2]. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.

[3]. Clayton M. Christensen, Michael E. Raynor, và Rory McDonald (2015), “Đổi mới đột phá là gì?”, Tạp chí Harvard Business Review, tháng 12 năm 2015.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Nghị quyết của Bộ Chính trị Về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2025

[6]. Klaus Schwab (2017), Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư, Diễn đàn kinh tế thế giới, Người dịch: Đồng Bích Ngọc và Trần Thị Mỹ Anh.

[7]. Trần Đình Tuấn (2023), Tác động của mạng xã hội, ChatGPT đến học sinh, sinh viên và giải pháp thích ứng của giáo dục. Kỷ yếu hội thảo khoa học toàn quốc, Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục, Nxb Lao động, HN 2023. tr. 226-237.

 

 

Ý kiến bạn đọc
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐÁP ỨNG CHUẨN HÓA ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ThS. Trần Đức Khánh Hùng Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh - Đại học Bách khoa Hà Nội [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu cốt lõi, sống còn của các học viện, nhà trường hiện nay. Để hướng tới mục tiêu cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, toàn diện về phẩm chất, năng lực, nhận thức và nhân cách, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu khắt khe của thị trường lao động; việc cụ thể hóa chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một tất yếu khách quan. Trong hành trình đó, khâu then chốt mang tính quyết định chính là chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ “người Thầy”, đặc biệt là lực lượng giảng viên khoa học xã hội và nhân văn. Đây là đội ngũ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hình thế giới quan, nhân sinh quan và phông văn hóa cho người học, đồng thời là nhân tố đóng góp trực tiếp vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục tiên tiến, mẫu mực. Từ khóa: Khoa học xã hội và nhân văn; năng lực; sư phạm.
       PGS.TS Nguyễn Gia Cầu                                                                     Viện NCHTPT Giáo dục Tóm tắt: Bài viết phân tích một số tiền đề lí luận về tư tưởng “thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt” trong bối cảnh đổi mới quan lí giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4/11/2023 của BCHTW Đảng. Đồng thời dưới góc độ quản lí giáo dục, tác giả cũng nêu một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Các giải pháp đó có cơ sở lí luận và thực tiễn, có tính khả thi cao.  
Hòa trong không khí tưng bừng của cả nước chào mừng tri ân các nhà giáo, vừa qua THCS-THPT Newton long trọng tổ chức “Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11” nhằm tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang từng ngày từng giờ say sưa trên bục giảng để cống hiến to lớn cho sự nghiệp trồng người.
Khi nói về công lao của những thầy, cô giáo đối với sự nghiệp giáo dục miền núi Nghệ An, không thể không nói đến cố Nhà giáo Ưu tú Lô Xuân Minh – cố Hiệu trưởng Trường THSP Miền núi Nghệ An.
Hằng năm, cứ vào mùa khai trường, vào những ngày của tháng 11, trong tâm trí tôi lại sống dậy mạnh mẽ những kỉ niệm vui buồn, sâu sắc của một thuở đi dạy học nhiều gian nan vất vả, nhiều khó khăn và thương nhớ. Với tôi, tình cảm tôn sư trọng đạo, đạo lí tôn sư trọng đạo luôn luôn âm thầm, sâu lắng nhưng cũng hết sức mạnh mẽ và cao cả. Xin chia sẻ đôi điều về những ngày thương khó của một thuở đi dạy học như là sự tri ân đối với nghề nghiệp cao quý mà mình đã mang duyên nợ suốt cả cuộc đời. Và, cũng từ những ngày dạy học thương khó đó rút ra được những suy ngẫm sâu sắc về truyền thống tôn sư trọng đạo trong dòng chảy văn hóa Việt.                           
Ngày 03/11/ 2022 Hội Cựu Giáo chức tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội nghị biểu dương hội viên tiêu biểu và Kỷ niệm 40 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2022)
Ngày 01/11/2022 Hội Cựu Giáo chức Học viện Ngân Hàng tổ chức Đại hội lần thứ 2 nhiệm kỳ 2022 -2027tại hội trường lớn Học viện Ngân hàng. Dự Đại hội có 158/235 hội viên đã được triệu tập. Đại hội vinh dự được đón tiếp các đại biểu, khách mời đại diện cho Hội Cựu giáo chức Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công đoàn Ngân hàng Việt Nam, Lãnh đạo Học viện Ngân Hàng.  
GCVN: Kì thi Học sinh giỏi các môn văn hóa và khoa học được tổ chức thường niên là một hoạt động chuyên môn quan trọng nhằm đánh giá chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường THCS.
Dạy học trực tuyến là phương thức dạy học từ xa với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, người dạy và người học thực hiện các hoạt động tương tác với nhau thông qua màn hình ảo nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học theo chương trình, kế hoạch đã xác định. Cơ sở khoa học của dạy học trực tuyến là các luận điểm triết học duy vật biện chứng về quy luật nhận thức của người học và những thành tựu của Tâm lý học, Giáo dục học hiện đại. Dạy học trực tuyến là xu thế tất yếu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.
Kính lễ với người thầy là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt ta. Từ xa xưa người Việt hầu như ai từng đi học cũng đều thuộc câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Yêu kính thầy cô, quý trọng tri thức và vì thế vị trí của người thầy luôn được đặt rất cao trong nấc thang xã hội. Theo đà phát triển của xã hội, một số quan niệm không còn phù hợp trong xã hội hiện đại; trong đó liên quan đến môi trường giáo dục, người học có thêm nhiều phương thức, tự do hơn trong học tập. Vai trò, vị thế của người thầy và quan hệ giữa thầy cô với học sinh, với cha mẹ học sinh cũng có những thay đổi. Giáo dục không còn đơn thuần một chiều, thụ động.
Hệ thống giáo dục 4.0 áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, trên 3 ứng dụng: Một là, sử dụng các thiết bị thông minh để hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo. Hai là, tổ chức các khóa học trực tuyến thông qua mạng Internet. Ba là, ứng dụng sáng tạo mở, kết hợp người học và máy tính để thực hiện các nhiệm vụ học tập sáng tạo.
Sáng ngày 18/10/2022, chương trình Báo cáo Dự án “Văn học sáng tạo” mùa 2 của thầy và trò trường TH - THCS Pascal (Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội) đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các bạn học sinh với diễn xuất ấn tượng đã mang tới buổi báo cáo những tiểu phẩm sân khấu hóa đặc sắc được lấy cảm hứng từ các bài thơ, trường ca của nhà thơ Trần Đăng Khoa  và tái hiện lại trên sân khấu. Bên cạnh đó, các bạn học sinh đã cùng tham gia hoạt động trải nghiệm trưng bày, trao đổi sách vô cùng thú vị và bổ ích.
Đam mê công nghệ thông tin thôi thúc Nguyễn Văn Hiệp xin nghỉ việc, dành toàn thời gian học lập trình online ở tuổi 25 và chuyển nghề sau ba tháng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả, sáng 11/10/2022, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, Đại học Vinh tổ chức Lễ Bế mạc đợt khảo sát chính thức đánh giá chất lượng giáo dục 04 chương trình đào tạo trình độ đại học các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Kinh tế chính trị.
GD&TĐ - Hàng loạt giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học đã được ngành giáo dục Lào Cai đưa ra để các nhà trường triển khai, tháo gỡ.
GD&TĐ - Giờ dạy có sự hài hòa giữa lý thuyết, bài tập, thực hành để học sinh nắm vững nội dung cốt lõi nhưng không được cắt xén hay giảm tiết môn học.
Điện ảnh là ngành được xác định là tiên phong trong công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Làm sao để Điện ảnh phát triển, thực sự đem lại GDP, quảng bá văn hóa con người Việt Nam ra thế giới, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành- Cục trưởng Cục Điện ảnh để làm rõ hơn vấn đề này.
Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Hàn Quốc mới đây cho biết nhạc hội văn hóa đầu tiên trong khuôn khổ triển lãm K Expo Vietnam 2022 đã diễn ra tại thủ đô Hà Nội, mở màn cho sự kiện giao lưu văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam.
Văn hóa giao thông có lẽ là thuật ngữ được nhiều người nhắc đến từ người tham gia giao thông cho đến các bạn học sinh khi còn ngồi ghế của nhà trường. Nhưng để hiểu văn hóa giao thông là gì? Và tham gia như thế nào để thể hiện sự văn hóa thì không phải ai cũng nắm rõ được. Hãy cùng Anycar tìm hiểu rõ vấn đề này qua bài viết này nhé!
(DNTO) - Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thành công trong chiến lược chuyển đổi số bởi rất nhiều nguyên nhân. Nhiều doanh nghiệp cho biết hiện tiến trình chuyển đổi số đang rất chậm do thiếu vốn, thiếu nguồn nhân lực và cả đơn vị cung cấp giải pháp.
(DNTO) - Tuần qua, bộ 3 cổ phiếu thép “đình đám” là CTCP Tập đoàn Hòa Phát HPG (+10,5%), Công ty Cổ phần Thép Nam Kim NKG (+14.9%), Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen HSG (+19,9%), đều ghi nhận mức tăng khá ấn tượng.
GD&TĐ - Nếu nhiễm lại một tuýp virus dengue khác, bệnh nhân có thể bị nặng hơn, dễ trở thành sốt xuất huyết dengue hoặc sốc dengue.
GD&TĐ - Chào mừng 92 năm ngày phụ nữ Việt Nam, Công đoàn Formosa Hà Tĩnh tổ chức giải kéo co cho nữ công nhân với những trận đấu hấp dẫn, kịch tính.
Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18/10/2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
GD&TĐ - Một siêu thị Điện Máy Xanh ở TP. Đà Nẵng đã bị mất 130 chiếc điện thoại trị giá hơn 1,2 tỷ đồng khi cho người dân vào tránh lụt đêm 14/10.
GD&TĐ - Đầu năm 2022, khoảng 75% trường học ở Mỹ yêu cầu học sinh, giáo viên đeo khẩu trang khi học trực tiếp, theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Giáo dục quốc gia. Đến trước khi nghỉ hè, con số này giảm xuống 15%.
GD&TĐ - Trường ĐH Oxford, Anh, tiếp tục đứng đầu danh sách trường đại học thế giới năm 2023 của THE trong 7 năm liên tiếp.
GD&TĐ -Tại Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông không tổ chức dạy thể dục cho học sinh lớp 1 và lớp 2, những năm đầu tiểu học.
GD&TĐ - Nhiều gia đình khó khăn tại Indonesia buộc phải cho con nghỉ học do không đủ khả năng chi trả học phí.
GD&TĐ - Trung Quốc đang cần hàng triệu công nhân lành nghề để duy trì hoạt động của nền kinh tế như thợ sửa ô tô, chữa điện lạnh, kỹ thuật viên máy tính… Tuy nhiên, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nước này đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến nền kinh tế của họ không đủ khả năng để thay thế hàng triệu người có tay nghề cao sắp nghỉ hưu trong bối cảnh dân số già và lực lượng lao động bị thu hẹp.
20 năm qua đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết của cá nhân hoặc tập thể các nhà giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Có thể kể một số kiến nghị chính sau đây: Kiến nghị của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam cuối năm 1996(2), 2000(3), 2005(4); Kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2004-2006(5); Kiến nghị của 24 GS và nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Hoàng Tụy chủ biên năm 2004(6); Đề án kiến nghị của nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài do GS Vũ Quang Việt chủ biên năm 2005(7); Báo cáo “lựa chọn thành công” trong đó có một phần đánh giá về GD-ĐT của nhóm GS và chuyên gia thuộc trường Đại học Harvard trình trực tiếp thủ tướng cuối năm 2007(8); Kiến nghị của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước do bà Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm 2008(9); Riêng mảng cơ cấu hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống dạy nghề nói riêng có kiến nghị năm 2011(10) của Đặng Danh Ánh và một số kiến nghị của 30 nhà khoa học trong và ngoài nước đã được in thành sách năm 2007(11).